tóm tắt luận án Nghiên cứu một số bệnh thường gặp ở tôm hùm bông (Panulirus ornatus Fabricius, 1798) nuôi lồng tại vùng biển Khánh Hòa và các biện pháp phòng trị - Pdf 28

1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LUẬN ÁN
1. Tính cấp thiết của luận án
Tôm hùm là một loại đặc sản được nhiều nước trên thế giới
quan tâm nghiên cứu về kỹ thuật nuôi cũng như bệnh trên tôm hùm
nuôi, đặc biệt các nước như: Úc, Canada,….
Ở Việt Nam, nghề nuôi tôm hùm đã và đang phát triển từ những
năm 2000 tại các tỉnh khu vực Nam Trung Bộ. Trong đó, Khánh Hòa
có số lượng lồng nuôi chiếm khoảng 60% so với cả nước (29.206
lồng vào năm 2006) và nghề nuôi này thực sự mang lại hiệu quả kinh
tế-xã hội cho địa phương. Tuy vậy, do sự phát triển tự phát, thiếu qui
hoạch, thức ăn cho tôm là loại tươi sống với hệ số chuyển đổi cao,
cùng với việc quản lý môi trường vùng nuôi và kỹ thuật nuôi chưa tốt
đã tạo cơ hội cho các tác nhân gây bệnh phát triển, tạo thuận lợi cho
sự bùng phát bệnh: đỏ thân, đen mang, mòn đuôi và đã gây thiệt
hại đáng kể cho người nuôi tôm. Ngoài ra, chưa có công trình nghiên
cứu và tài liệu nói về bệnh ở tôm hùm nuôi lồng tại Việt Nam.
Xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết của thực tiễn sản xuất đã
nêu, luận án: “Nghiên cứu một số bệnh thường gặp ở tôm hùm
bông (Panulirus ornatus Fabricius, 1798) nuôi lồng tại vùng biển
Khánh Hoà và các biện pháp phòng trị” đã được thực hiện.
2. Mục tiêu của luận án
Xác định được các tác nhân chính gây nên một số bệnh chủ yếu
ở tôm hùm bông nuôi lồng tại tỉnh Khánh Hòa. Đưa ra cơ sở khoa
học và các phương pháp phòng trị bệnh tôm hùm nuôi lồng tại địa
phương.
3. Nội dung nghiên cứu của luận án
+ Điều tra thực trạng, phát hiện các bệnh chủ yếu ở tôm hùm
bông nuôi lồng vùng biển Khánh Hòa.
+ Nghiên cứu một số bệnh có tần số bắt gặp cao và gây tác hại
cho tôm hùm bông nuôi lồng tại Khánh Hòa.

3

CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số đặc điểm sinh học và sinh thái phân bố của tôm hùm
Panulirus spp
1.1.1. Đặc điểm sinh học tôm hùm Panulirus spp: đặc điểm hình thái,
phân loại, chu kỳ sống, phân bố và dinh dưỡng đã được đề cập.
1.1.2. Sinh thái phân bố của tôm hùm Panulirus spp: nhiệt độ nước,
độ mặn, nền đáy và độ sâu đã được đề cập trong luận án.

1.2. Tình hình nuôi tôm hùm trong nước và Thế giới
1.2.1. Tình hình nuôi tôm hùm trên Thế giới: các hình thức nuôi, loài
tôm nuôi và một số quốc gia nuôi tôm hùm trên Thế giới được đề cập.
1.2.2. Tình hình nuôi tôm hùm bằng lồng tại Việt Nam: những nghiên
cứu về nuôi tôm hùm, loài tôm nuôi, số lượng lồng và sản lượng tôm
hùm nuôi tại Việt Nam đã được đề cập trong luận án.
1.3. Các nghiên cứu về bệnh ở tôm hùm nuôi
1.3.1. Một số phương pháp và kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu
bệnh trên tôm hùm: Các phương pháp vi in vitro sinh vật học, mô
bệnh học; kỹ thuật kính hiển vi điện tử, sinh học phân tử cũng đã
được sử dụng.
1.3.2. Các nghiên cứu về bệnh ở tôm hùm trên Thế giới và VN:
1.3.2.1. Trên thế giới : hiện nay có các bệnh và hội chứng bệnh
ở tôm hùm: bệnh do vi rút (PaV1), bệnh do vi khuẩn (bệnh đỏ đuôi,
bệnh vỏ, ), bệnh do nấm (Fusarium, Lagenidium, ), bệnh do ký
sinh trùng (vi bào tử trùng, trùng máu, ) và bệnh do các yếu tố vô
sinh (do độc tố, do các yếu tố môi trường, ).
1.3.2.2. Tại Việt Nam: mới bắt đầu từ năm 2001 bởi Đỗ Thị
Hòa, Nguyễn Thị Bích Thúy và Võ Văn Nha. Ngoài ra, luận án cũng
đề cập đến các nghiên cứu về bệnh sữa trên tôm hùm, một bệnh vừa

C, 26
o
C, 28
o
C, 30
o
C, 32
o
C, 35
o
C, 40
o
C; độ mặn:
0

‰, 5

‰, 10‰, 15‰, 20‰, 25‰, 30‰, 35‰, 40‰, 45‰, 50‰ và
pH: 5, 6, 7, 7.5, 8, 9. Nồng độ và loại hóa chất/thuốc kháng nấm sử
dụng tương ứng ở Bảng 2.4.
5

Bảng 2.4: Một số loại hóa chất/thuốc kháng nấm và nồng độ tương
ứng dùng làm thí nghiệm
Ghi chú : (
*
) - Nồng độ được tính bằng đơn vị UI/mL
* Cảm nhiễm nấm trên tôm khỏe: áp dụng theo phương pháp
của Rhoobunjongde & cs (1991).
+ Phương pháp nghiên cứu vi rút:

400, 500, 600
Griseofuvine 0, 25, 50, 100, 500,
1000, 1500
300, 500, 700
6


y
tôm
bệnh
đã lọc
qua 0,2
µm)
TN 3
(tiêm
dịch gan
tụy tôm
bệnh
với
BPS,
lọc qua
0,2 µm
vào thứ
c
ăn cho
ăn 7
ngày)

ĐC 4

Ngâm
tôm
trong
dung
dịch
BPS
pha

qua 0,2
µm )

ĐC 2

(tiêm
0,1 mL
NaCl
0,85%)

- Mỗi lô có 10 con
- Sục khí 24/24 giờ
- Nhiệt độ = 28
o
C; S‰=33‰; pH = 8,2
- Theo dõi liên tục hàng ngày
-
Thí nghi
ệm đ
ư
ợc lặp lại 2 lần ĐC 1

(tiêm
0,1 mL
dung
dịch
BPS)


Hình 2.11: Sơ đồ điều trị bệnh đen mang ở tôm hùm bông trong điều
kiện thí nghiệm
2.3.5. Phương pháp xác định một số yếu tố môi trường: nhiệt độ, độ
mặn, pH, hàm lượng H
2
S, DO, BOD
5
được xác định theo các phương
pháp hiện hành.
2.3.6. Các phương pháp xử lý số liệu: Các thông tin, số liệu của luận
án đã được xử lý trên máy vi tính bằng phần mềm SPSS.
Nấm gây bệnh

Tôm hùm bông khoẻ
(khối lượng:145,6±3,2g/con)

Tôm hùm bông bị
bệnh đen mang
Tắm tôm trong
hóa chất

(không
điều trị)

ĐC2
Đối
chứng
âm (tôm
khoẻ)
Đánh giá kết quả của việc sử dụng thuốc trong việc điều trị
bệnh đen mang ở tôm hùm bông trong điều kiện thí nghiệm
8

CHƯƠNG 3- KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Kết quả điều tra hiện trạng bệnh tôm hùm bông nuôi lồng tại
Khánh Hòa đến năm 2006
3.1.1. Tình hình nuôi tôm hùm bằng lồng ở Khánh Hòa
Năm 2006, toàn tỉnh có khoảng 29.206 lồng đạt 1.142 tấn, tăng
hơn 3 lần về số lượng lồng và hơn 2 lần sản lượng tôm nuôi so với năm
2000 (Hình 3.1).

Hình 3.1: Số lượng lồng và sản lượng tôm hùm nuôi lồng tại các vùng
nuôi ở Khánh Hòa qua các năm (nguồn: Báo cáo của Sở Thuỷ sản
Khánh Hoà)
3.1.2. Những bệnh thường gặp trên tôm hùm nuôi lồng ở Khánh Hòa

Năm
Sản lư ợ ng (tấ n)
Vạn Ninh Cam Ranh Nha Trang Ninh Hoà
9

Hình 3.3: Phân bố của hội chứng đỏ thân và hội chứng đen mang
trên tôm hùm bông theo tháng tại Khánh Hòa năm 2003-2004
(n=229).
Từ Hình 3.3 nhận thấy: hội chứng đỏ thân thường xuất hiện
nhiều từ tháng 2-7, hội chứng đen mang thường xuất hiện tập trung từ
tháng 5-9 hàng năm. Phân tích chỉ số nguy cơ tương đối (RR) và chỉ số
chênh (OR) mô tả sự liên quan giữa sự xuất hiện hội chứng bệnh và mùa
vụ cho thấy, nguy cơ xuất hiện hội chứng đỏ thân hay đen mang trong
mùa khô cao gấp 2,74 hay 1,4 lần (tương ứng) so với mùa mưa (RR
đỏ thân
=2,74>1; RR
đen mang
=1,40>1; OR
đỏ thân
=2,32>1; OR
đen mang
= 1,59>1).
3.1.3.2. Sự xuất hiện của hội chứng bệnh theo giai đoạn tôm
trong một chu kỳ nuôi


76,5 53,5 23,5 56,5
T
ần sốgặp
48 104 67 10 Đen
mang

Tỷ lệ (%)

41,7 91,2 48,3 8,8
(n- Số hộ nuôi trả lời có hội chứng bệnh và giai đoạn tôm nuôi)
Hội chứng đỏ thân
0.0
5.0
10.0
15.0
20.0
25.0
30.0
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Thời gian (tháng)
Tần suất gặp (%)
Hội chứng đen mang
0.0
10.0
20.0
30.0
40.0
50.0
60.0


Lồng
găm
(n=87)

Lồng
nổi
(n=53)

Lồng
chìm
(n=89)

Lồng
găm
(n=87)

Tần số gặp 27 64 58 26 25 29
Đỏ
thân
Tỷ lệ (%) 50,9 71,9 66,7 40,1 28,1 33,3
Tần số gặp 25 66 61 28 23 26
Đen
mang

Tỷ lệ (%) 47,2 74,2 70,1 52,8 25,8 29,9
n- Số hộ nuôi có hội chứng bệnh và loại hình nuôi khác nhau
Từ kết quả Bảng 3.4, phân tích chỉ số RR và OR cho thấy, nguy
cơ xuất hiện hội chứng đỏ thân/đen mang ở kiểu nuôi bằng lồng nổi thấp
hơn không nuôi bằng kiểu lồng nổi (RR

Bảng 3.5: Phân bố của hội chứng đỏ thân/đen mang trên tôm hùm
bông theo mật độ nuôi khác nhau (n=224)
Có dấu hiệu bệnh Không dấu hiệu bệnh
Loại
hội
ch
ứng
bệnhMđ≤
5
con/
m
2 5<Mđ≤
9
con/m
2Mđ>9

con/m
2

Mđ≤5



16,7

38,2 45,1 38,8 31,2 30,0
Mđ: Mật độ; n: Số hộ có trả lời mật độ nuôi và hội chứng bệnh

3.1.3.5. Ảnh hưởng giữa việc vệ sinh lồng với sự xuất hiện hội
chứng đỏ thân/đen mang
Bảng 3.6: Ảnh hưởng của việc vệ sinh lồng bè nuôi đến sự xuất hiện của
hội chứng đỏ thân/đen mang
Có dấu hiệu bệnh Không dấu hiệu bệnh

Lo
ại hội
chứng
bệnh

Có v
ệ sinh
lồng/bè
(n=120)
Không v

sinh lồng/

bè (n=98)

Có v
ệ sinh
lồng/bè


3.1.4. Những biện pháp phòng, trị bệnh tôm của người nuôi tôm hùm
lồng tại Khánh Hòa
Qua điều tra cho thấy tỷ lệ số hộ nuôi thực hiện các biện pháp
phòng bệnh cho tôm hùm là khá cao (95,2%): dọn thức ăn dư thừa
(99,5%), vệ sinh lồng/bè (64,4%). Các biện pháp trị bệnh cho tôm
hùm hiếm gặp (3,1%) và sử dụng kháng sinh điều trị bệnh ở tôm sú
để trị bệnh tôm hùm nhưng không có hiệu quả tại thời điểm điều tra.
3.2. Kết quả nghiên cứu về bệnh đen mang ở tôm hùm bông
3.2.1. Các dấu hiệu bệnh lý đặc trưng
Mang có màu nâu đỏ ở những vùng tổn thương, các tổ chức mô tại
đó bị phá hủy. Vị trí tổn thương chuyển thành màu đen và lan rộng khắp
cả mang, toàn bộ tơ mang phá hủy. Tôm khó thở và ngoi lên mặt lồng/bè.
Ngoài ra, luận án còn chỉ ra một dấu hiệu đen mang do chất thải hữu
cơ bám vào mang và gây đen mang.
3.2.2. Các loại tác nhân là sinh vật tìm thấy trên tôm hùm bông bệnh đen
mang
Kết quả phân tích cho thấy tần suất bắt gặp từng loài vi
khuẩn, ký sinh trùng, WSSV là ít đặc trưng và tỷ lệ nhiễm tương
đương trên nhóm tôm bệnh và tôm khỏe. Trong khi đó, 100%
mẫu (n=97) đều phát hiện có nấm Fusarium sp. trên tôm bệnh
nhưng lại không tìm thấy trên tôm khỏe (0,0%). Những quan sát
tiêu bản soi tươi phiến mang tôm bệnh và những nghiên cứu về bệnh
đen mang do nấm gây ra trên tôm hùm của Lightner & Fontaine
(1975), Evans & cs(1994), Đỗ Thị Hòa & cs (2004), cho phép
nhận định: rất có thể nấm Fusarium sp. là tác nhân chính gây ra
bệnh đen mang ở tôm hùm bông nuôi lồng khu vực Khánh Hòa.
3.2.3. Đặc điểm mô bệnh học ở tôm hùm bông bị bệnh đen mang
13


mang chuyển sang màu nâu đen đặc thù của tôm bệnh đen mang và
khi phân lập trở lại đều tìm thấy nấm đã gây nhiễm ban đầu. Trong
khi đó, ở lô đối chứng tôm đều không bị chết; mang của tôm không
bị đổi màu và không nhiễm nấm.

Như vậy, nấm Fusarium sp. là
nguyên nhân chính gây nên dấu hiệu đen mang ở tôm hùm bông
nuôi lồng.
50 µm

C
50 µm

D

A
50 µm

150µm
B

14

3.2.5. Một số đặc điểm hình thái, phân loại chủng nấm có tần số bắt
gặp cao trên tôm hùm bông bệnh đen mang
3.2.5.1. Phân loại dựa vào đặc điểm hình thái, cấu tạo của nấm:
Các đặc điểm hình thái, cấu tạo của nấm được chỉ ra và so sánh
chúng với đặc điểm phân loại nấm của Nelson & cs (1983) cho
thấy chủng nấm Fusarium sp. tìm thấy tương tự với loài F. solani.
3.2.5.2. Phân loại dựa vào trình tự gen của nấm: Tiến hành xác

(AJ853773)
F3
Fusarium incarnatum
voucher NJM0177(AY633745)
Fusarium culmorum
(AM262427)
Gibberella moniliformis (EF158026)
Gibberella zeae (EF158024)
Fusarium lateritium
(EF560605)
84

53

51
F179_I4_4
Fusarium
oxysporum f cubense (EF590328)
Fusarium redolens
(AB304483)
100

Fusarium polyphialidicum
(U34580)
100

100

58



100

73

98

58

100

0.02

15

Như vậy, ở mức độ phân tử có thể khẳng định rằng nấm
Fusarium phân lập được trên tôm hùm bông bệnh đen mang tại
Khánh Hòa là loài F. solani
3.2.6. Một số đặc điểm sinh thái của nấm có tần số bắt gặp cao trên
tôm hùm bông bệnh đen mang
Kết quả của luận án đã chỉ ra nấm Fusarium solani sinh trưởng
mạnh ở nhiệt độ từ 28-35
o
C, tốt nhất là 30
o
C (p<0,05). Giá trị pH từ
5,0-7,5 và 8,0-9,0; độ mặn từ 25-35‰ và 45-50‰, sinh trưởng của
nấm F. solani không có sự sai khác có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
3.3. Kết quả nghiên cứu về bệnh đỏ thân ở tôm hùm bông
3.3.1. Dấu hiệu bệnh lý đặc trưng


Hình 3.21: Mô bệnh học của tổ chức gan tụy tôm hùm bị bệnh đỏ
thân cho thấy các thể vùi (mũi tên) có màu tím của hematoxylin
nằm ngoài nhân của các tế bào mô liên kết, nằm xen kẽ giữa các
biểu mô gan tụy hình ống
50µm

A

10µm

30µm

B

C

17


20µm
C
10µm

D
B

20
µm
30µm

A

20µm
E
20µm
F
18

Như vậy, xác nhận rằng có một loại vi rút tồn tại và nhân lên
trong bào tương, nằm bên ngoài nhân tế bào mô liên kết ống gan tụy
và tế bào mang tôm bệnh là nguyên nhân gây ra hiện tượng đỏ thân ở
tôm hùm bông nuôi lồng. Đồng thời xác nhận hai loài vi khuẩn:
Vibrio alginolyticus và V. parahaemolyticus không phải là tác nhân
gây bệnh chính mà chỉ là tác nhân góp phần làm tôm hùm bông chết
tại các vùng nuôi thuộc tỉnh Khánh Hòa.

3.3.4. Kết quả quan sát mẫu mô gan tụy và mô mang tôm hùm bông
bị bệnh đỏ thân và tôm khỏe dưới kính hiển vi điện tử

mang tôm bị bệnh thể hiện rất rõ sự nhiễm của một vi rút dạng hình
bầu dục, có kích thước đường kính khoảng 96-100nm, chiều dài
khoảng 288-310nm. Các hạt vi rút quan sát dưới kính hiển vi điện tử
có dạng hoàn chỉnh, bao gồm cả phần lõi và vỏ (nucleocapsit) tập
trung thành đám trong một bọc lớn (Hình 3.23B), nằm trong sinh
chất, bên ngoài nhân của các tế bào mô liên kết gan tụy tôm. Trong
khi đó, mẫu tôm khỏe không thể hiện các dấu hiệu này (Hình 3.23A).
3.4. Kết quả thử nghiệm dùng thuốc và hóa chất hạn chế bệnh
đen mang ở tôm hùm bông nuôi lồng trong điều kiện thí nghiệm
3.4.1. Kết quả thử nghiệm hiệu quả của một số hóa chất và thuốc
kháng nấm trong việc kìm hãm sự phát triển nấm Fusarium solani
gây bệnh đen mang ở tôm hùm trong điều kiện in vitro
3.4.1.1. Dùng Formalin với nồng độ, thời gian và phương pháp
sử dụng khác nhau: Khi đưa trực tiếp Formalin nồng độ từ 200-350
ppm có thể kìm hãm sự phát triển của nấm Fusarium solani. Còn khi
ngâm rìa khuẩn lạc nấm Fusarium solani đang phát triển trong
Formalin với thời gian (10, 20 và 30 phút) và nồng độ khác nhau
(100, 150, 200, 250, 300, 350 và 400ppm) cho thấy, trong thời gian
ngâm 20 phút, nhóm nồng độ Formalin từ 150-400 ppm cho sự khác
nhau có ý nghĩa thống kê giữa kích thước khuẩn lạc nấm ở các lô
dùng Formalin và lô đối chứng (p<0,05).
3.4.1.2. Dùng Hydrogen peroxyde (H
2
O
2
) với các nồng độ khác
nhau: Khi ngâm rìa khuẩn lạc nấm Fusarium solani đang phát triển
trong H
2
O

trong điều kiện thí nghiệm.
+ Ở cùng nồng độ 500ppm (Griseofulvine, Ketoconazol) và
30UI (Nistatin), sau 120 giờ nuôi cấy, phương pháp đưa thuốc trực
tiếp trong môi trường nuôi cấy nấm có tác dụng ức chế sự phát triển
của nấm tốt hơn so với phương pháp ngâm rìa khuẩn lạc nấm trong
thuốc 20 phút trước khi nuôi cấy, sự sai khác này có ý nghĩa thống kê
(p<0,05).
3.4.2. Kết quả thử nghiệm điều trị bệnh đen mang ở tôm hùm bông
trong điều kiện thí nghiệm in vivo
Kết quả nghiên cứu cho thấy việc tắm Formaline 300 ppm trong
20 phút, 2 ngày lần, liên tục 3 lần cho kết quả khá tốt trong trị bệnh
đen mang ở tôm hùm bông nuôi lồng so với tắm Hydrogen peroxide.

21

3.5. Đề xuất biện pháp phòng trị bệnh tôm hùm bông nuôi lồng
tại Khánh Hòa

3.5.1. Biện pháp phòng tổng hợp bệnh đen mang và bệnh đỏ thân
+ Nên khuyến khích nuôi tôm hùm bông bằng lồng nổi nhằm hạn
chế sự xuất hiện bệnh.
+ Nuôi tôm hùm bông thương phẩm ở mật độ ≤5con/m
2
lồng sẽ
hạn chế được sự xuất hiện của bệnh đỏ thân và bệnh đen mang.
Ngoài ra, mật độ nuôi ở từng kích cỡ tôm cũng cần được thực hiện
theo Quyết định số 2383/QĐ-BNN-NTTS của Bộ NN&PTNT.
+ Người nuôi tôm cần vệ sinh lồng/bè nuôi thường xuyên nhằm
tiêu diệt và kìm hãm sự phát triển của sinh vật gây bệnh; đảm bảo sự
lưu thông, thông thoáng của nước trong lồng nuôi với môi trường

tôm hùm bông nhiễm nấm Fusarium solani ở mức độ cao, mang tôm
có màu nâu đỏ, sau đó chuyển thành màu đen tại những vùng tổn
thương và lan rộng khắp cả mang, toàn bộ tơ mang bị phá hủy, gây
chết tôm nuôi rải rác.
3. Tác nhân chính gây bệnh đỏ thân ở tôm hùm bông nuôi
lồng tại Khánh Hòa năm 2003-2005 là do một loại vi rút có vỏ bọc,
được nhân lên trong nguyên sinh chất của tế bào ký chủ, kích thước
vi thể vi rút từ 96-100nm x 288-310nm và có thể vùi hình cầu hay
bầu dục tồn tại trong nguyên sinh chất của tế bào mô liên kết gan tụy
và mô mang tôm. Khi tôm hùm bông nuôi lồng nhiễm vi rút này, tôm
hoạt động không nhanh nhẹn, kém bắt mồi; mặt bụng của phần lưng
tôm thường xuất hiện màu đỏ nhạt đến đỏ bầm, sau đó màu đỏ lan
rộng ra toàn bộ cơ thể, tôm bỏ ăn hoàn toàn và chết rải rác đến hàng
loạt.
4. Biện pháp phòng tổng hợp bệnh đỏ thân và bệnh đen mang
ở tôm hùm bông nuôi lồng tại Khánh Hòa
23

+ Người nuôi tôm hùm lồng cần có kế hoạch phòng bệnh cho
tôm nuôi bằng các giải pháp kỹ thuật vào mùa thường xảy ra bệnh đỏ
thân (tháng 2-7) và bệnh đen mang (tháng 5-9)
+ Nên khuyến khích người dân nuôi tôm hùm bằng kiểu lồng
nổi.
+ Cần vệ sinh lồng/bè nuôi thường xuyên trong suốt quá trình
nuôi.
+ Trong quá trình nuôi cần thực hiện việc nuôi tôm hùm đúng
qui trình kỹ thuật đã được Bộ NN&PTNT ban hành, đặc biệt chú ý
tới mật độ tôm hùm nuôi.
5. Biện pháp trị bệnh đen mang ở tôm hùm bông nuôi lồng
tại Khánh Hòa: Dùng Formalin với nồng độ 300ppm tắm tôm trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status