TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
&
Tên đề tài:
HEO CON
HEO CON SAU VÀ SO SÁNH
Ngành: Thú Y
12/2014
i
Đề tài: Khảo sát tình hình tiêu chảy ở heo con theo mẹ, heo con sau cai sữa và so sánh
hiệu quả một số biện pháp phòng trị tại trại heo Thành Phƣơng, huyện Vĩnh Cửu,
tỉnh Đồng Nai. Do sinh viên: Huỳnh Thanh Phong thực hiện tại trại từ tháng
07/2014 đến tháng 11/2014.
Tác giả luận văn
iv
ii
iii
1
2
2.1. Vài nét về tình hình nghiên cứu hội chứng tiêu chảy ở heo con trong và ngoài nƣớc 2
2.1.1. Một số nghiên cứu trên thế giới 2
2.1.2. Những nghiên cứu về bệnh ở Việt Nam 2
4
2.2.1 Chức năng thần kinh và điều nhiệt 4
2.2.2 Hệ miễn dịch 4
2.2.3 Hệ tiêu hóa 5
2.2.4 Hệ vi sinh vật đường ruột 5
2.3 Một số nguyên nhân khác gây tiêu chảy trên heo con 6
2.3.1 Tiêu chảy do vi khuẩn 6
2.3.2 Tiêu chảy do virus 10
2.3.3 Tiêu chảy do ký sinh trùng 11
2.3.4 Một số nhân tố không truyền nhiễm gây tiêu chảy trên heo 12
E. coli 7
12
17
18
20
21
21
26
16
26
28
29
30
31
32
i heo Thành
32 vii
Enteropathogenic Escherichia coli
10
ExPEC
Extraintestinal pathogenic Escherichia coli
11
GC
Guanylyl cylase
12
LT
Heat – labile toxin
13
LTC
Lower Critical Temperature
14
PED
Porcine Epidemic Diarrhea
15
ST
Heat-stable toxin
16
STEC
Shiga like toxin Escherichia coli
17
TGE
Tranmisible Gastroenteritis
18
XLD
Xylose Lysine Deoxycholate 1
Chăn nuôi đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế và đáp ứng nguồn thực
phẩm dinh dƣỡng cho con ngƣời. Tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp ở nƣớc ta là
24,7% năm 2005 và là 30% năm 2011, trong đó chăn nuôi heo giữ vai trò chủ đạo
trong tổng giá trị ngành chăn nuôi. Hơn nữa, trong chiến lƣợc phát triển chăn nuôi đến
năm 2020 thì chăn nuôi chiếm 42% tổng giá trị ngành nông nghiệp, chăn nuôi heo vẫn
giữ vai trò chủ đạo và sẽ đạt sản lƣợng 35 triệu con (Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn).
Tuy nhiên bên cạnh đó còn gặp không ít khó khăn do thời tiết bất lợi và dịch bệnh gây
ra ảnh hƣởng nhiều đến sự phát triển của ngành chăn nuôi. Một trong những bệnh
thƣờng gặp và cũng gây không ít khó khăn và tổn thất cho nhà chăn nuôi đó là bệnh
Niconxki V.V. (1971) đã nhấn mạnh “Khi cơ thể gia súc non bị lạnh kéo dài sẽ
làm giảm phản ứng miễn dịch, giảm số lượng bạch cầu và tác dụng thực bào, giảm
khả năng diệt trùng của máu do đó gia súc dễ bị vi khuẩn tấn công”.
Năm 1972, Mouwen đã kết luận niêm mạc ruột non của heo có sự biến đổi lớn
trong trƣờng hợp heo con tiêu chảy do Rotavirus.
Năm 1992, Fairbrother J.M và cộng sự cho biết độc tố Enterotoxin do E.coli sinh
ra Enterotoxinogenic Escherichia coli (ETEC) gây ỉa chảy trầm trọng cho heo sơ sinh
từ 1 – 4 ngày tuổi.
Akita và cộng sự (1993) đã nghiên cứu sản xuất kháng thể đặc hiệu qua lòng đỏ
trứng gà dùng trong phòng và chữa tiêu chảy ở heo con.
2.1.2. Những nghiên cứu về bệnh ở Việt Nam
Bệnh tiêu chảy heo con ở nƣớc ta đã đƣợc nghiên cứu từ năm 1959 tại các cơ sở
chăn nuôi tập trung (trại chăn nuôi và các nông trƣờng quốc doanh).
Năm 1993, Lê Văn Tạo và cộng sự đã nghiên cứu các yếu tố gây bệnh của các
chủng E.coli gây bệnh, chọn chủng E.coli để chế tạo vaccine chết dƣới dạng cho uống.
Vaccine dùng cho heo con sau đẻ 2 giờ, uống với liều 1ml/con, liên tục trong 3- 5
ngày. Kết quả làm giảm tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy heo con từ 30- 35% so với đối
chứng.
Theo Nguyễn Nhƣ Thanh và cộng sự (2001) thì bệnh tiêu chảy heo con là một
hội chứng hay nói cách khác là một trạng thái lâm sàng rất đa dạng, đặc biệt là dạng
viêm dạ dày ruột, tiêu chảy và gầy sút nhanh. Tác nhân gây bệnh chủ yếu là E.coli,
ngoài ra có sự tham gia của Salmonella và vai trò thứ yếu là Proteus, Streptococcus.
Bệnh xảy ra quanh năm ở những nơi tập trung nhiều gia súc, bệnh thƣờng phát mạnh
3
từ mùa đông sang mùa hè (tháng 11 đến tháng 5) đặc biệt khi thời tiết thay đổi đột
ngột (từ oi bức chuyển sang mƣa rào, từ khô ẩm chuyển sang rét). Tỷ lệ mắc bệnh tới
50% và tỷ lệ chết tới 30- 45% (Nguyễn Nhƣ Thanh, 1997).
Lý Thị Liên Khai (2001) đã phân lập và xác định độc tố ruột của các chủng
E.coli gây bệnh tiêu chảy cho heo con. Tác giả cho rằng các chủng K
Trần Thị Hạnh và Đặng Xuân Bình (2002) công bố heo con theo mẹ đều phân
lập đƣợc E.coli và Cl.perfringens ở hầu hết các cơ quan phủ tạng, trong đó sự có mặt
của E.coli luôn chiếm một tỷ lệ cao và rất phổ biến, vi khuẩn yếm khí Cl.perfingens
chỉ đƣợc phát hiện ở gan, và ruột non với một tỷ lệ khá cao. Khi sử dụng các sinh
phẩm E.coli-sữa, Cl.perfringens-toxoit trong quy trình phòng bệnh tiêu chảy cho heo
con, kết quả thu đƣợc bƣớc đầu cho thấy tác dụng và hiệu quả khá rõ rệt: đã giảm
đƣợc số heo con bị mắc bệnh (28,12% so với 55,5%), số ngày điều trị cho mỗi heo
bệnh cũng rút ngắn từ 3 ngày xuống còn 1,8 ngày và khống chế đƣợc tỷ lệ heo con
chết do bị tiêu chảy (7,4% so với đối chứng). Ngoài ra, các sinh phẩm còn cho thấy
hiệu quả kinh tế khi khối lƣợng bình quân lúc cai sữa của heo con đƣợc nâng lên 0,46
kg/con và 1,37 kg/con so với đối chứng.
Đoàn Thị Kim Dung (2003) dùng Apramycin hoặc Apramycin phối hợp với
Bioseptin có tác dụng tốt nhất đối với bệnh tiêu chảy ở heo con (dùng riêng khỏi 80%,
dùng phối hợp khỏi 98%). Bên cạnh đó các phác đồ điều trị đều không thể thiếu đƣợc
việc bổ sung các chất điện giải cho heo bệnh vì nó nâng cao hiệu quả điều trị, rút ngắn
thời gian điều trị.
Theo tác giả Đinh Xuân Phát và cộng sự (2005),việc dùng kháng thể chiết tách
từ lỏng đỏ trứng đã khống chế bệnh cho hiệu quả cao. Sau khi chế tạo thành công
kháng thể E.coli dạng bột từ lòng đỏ trứng gà đã đƣợc miễn dịch các chủng K
88
; K
99
;
987P.
Trịnh Quang Tuyên (2005) qua nghiên cứu cho rằng tỷ lệ nhiễm vi khuẩn môi
sinh trong các trại chăn nuôi tập trung cao và có liên quan đến tình hình dịch bệnh của
đàn heo. Trong đó E.coli có tỷ lệ nhiễm từ 28,5% đến 44,1%, Staphylococcus spp từ
29,8% đến 38,9%, Streptococcus spp từ 24,3% đến 41,3%, giảm xuống khi cơ sở chăn
nuôi đƣợc cải tạo chuồng trại và nguồn nƣớc cấp.
thân thì nhiệt độ ở bụng là cao nhất cho nên khi bị cảm lạnh thì phần bụng bị mất
nhiệt nhiều nhất.
Nói chung khả năng điều tiết thân nhiệt của heo con dƣới ba tuần tuổi còn kém, nhất
là trong tuần đầu mới đẻ ra, cho nên nếu nuôi heo con trong chuồng có nhiệt độ thấp
và ẩm độ cao thì thân nhiệt của heo con hạ xuống nhanh, sức đề kháng giảm và dễ bị
bệnh. Mức độ hạ thân nhiệt nhiều hay ít, nhanh hay chậm chủ yếu phụ thuộc vào nhiệt
độ của chuồng nuôi và tuổi của heo con. Nhiệt độ chuồng nuôi càng thấp thân nhiệt
của heo hạ xuống càng nhanh. Tuổi heo con càng ít thân nhiệt hạ xuống càng nhiều.
2.2.2 Hệ miễn dịch
5
Trong 24 – 48 giờ đầu tiên sau khi sinh ruột non heo con có khả năng hấp thu các đại
phân tử miễn dịch globulin từ sữa đầu bằng hiện tƣợng ẩm bào tạo miễn dịch thụ động
cho heo con. Hệ thống miễn dịch ở ruột của heo chƣa hoàn chỉnh và phát triển chậm
nên rất mẫn cảm với mầm bệnh. Sự phát triển đầy đủ của mô miễn dịch mất 7 – 9 tuần
và có thể trễ hơn do cai sữa sớm vào 3 – 4 tuần tuổi (Thomson, 2006).
Giảm khả năng miễn dịch gây ra ảnh hƣởng đến sức khỏe heo con và những biến động
trong hệ tiêu hóa của chúng. Lƣợng kháng thể thụ động nhận từ heo mẹ qua sữa đầu
giảm dần đến mức rất thấp ở tuần tuổi thứ tƣ (Slododan and Stanimir, 1989). Trong
thời điểm này thì sự sản xuất kháng thể trên heo con chỉ vừa mới bắt đầu do đó đây là
giai đoạn mà gần nhƣ heo con không có một sự bảo vệ miễn dịch nào.
2.2.3 Hệ tiêu hóa
Heo con trƣớc một tháng tuổi có lƣợng acid chlohydric rất ít trong trong dịch vị làm
hàm lƣợng acid chlorhydric tự do rất ít hoặc không có. Acid chlohydric chỉ xuất hiện
lúc 20 – 30 ngày tuổi và diệt khuẩn rõ ở 40 – 50 ngày tuổi (Trần Cừ, 1972). Acid
chlorhydric có vai trò trong hoạt hóa pepsinogen thành pepsin và tạo môi trƣờng pH
thích hợp cho hoạt động của enzyme pepsin.
Trong hai tuần đầu sau khi sinh sữa mẹ là nguồn thức ăn chính cho heo con. Trong
giai đoạn này hơn một nửa năng lƣợng cung cấp dƣới hình thức lipid. Sữa mẹ đƣợc
tiêu hóa gần nhƣ 100% nhờ vào một lƣợng lớn enzyme lipase, amylase và enzyme
thay đổi nhƣ thiếu dinh dƣỡng, thời tiết thay đổi, vệ sinh chăn nuôi kém, thì một số
vi khuẩn trở thành tác nhân gây bệnh nhƣ E. coli, Bacillus perfringens (Trần Cừ,
1972).
2.3 khác
2.3.1 Tiêu chảy do vi khuẩn
Vi khuẩn gây bệnh tiêu chảy cho heo thƣờng gặp bao gồm một loại nhƣ E. Coli,
Salmonella, Shigella, Clostridium perfringens…
E. coli
Điều kiện xuất hiện mầm bệnh
Heo con sơ sinh có thể bị nhiễm bệnh do vi khuẩn từ chuồng nuôi, da heo mẹ, phân
heo mẹ thải ra. Do đó, trong điều kiện vệ sinh kém hoặc trong hệ thống nuôi liên tục,
mầm bệnh E. coli tồn tại trong môi trƣờng có thể dẫn đến dịch tiêu chảy trên heo con
sơ sinh. Heo con đƣợc sinh ra từ những heo mẹ chƣa đƣợc tiêm phòng hoặc không có
kháng thể chống lại E. coli trong sữa đầu sẽ rất nhạy cảm với bệnh.
Khi động vật non nhận đƣợc sữa đầu không kịp thời, thành phần hệ vi sinh vật đƣờng
ruột thay đổi rất lớn, vì các chủng E. coli gây bệnh sản sinh tự do mà không có sự
ngăn cản nào, chúng ức chế sự phát triển của các vi sinh vật có lợi làm cho bệnh
đƣờng ruột càng trở nên trầm trọng.
Ở heo cai sữa, hệ tiêu hóa chƣa hoàn chỉnh, nếu cho ăn quá nhiều, thức ăn không tiêu
hóa kịp sẽ tích tụ trong đƣờng ruột tạo chất nền cho E. coli phát triển. Do đó, ở giai
đoạn này heo rất dễ nhiễm bệnh. Stress và việc thay đổi khẩu phần thức ăn đột ngột
cũng là yếu tố quan trọng làm cho bệnh tiêu chảy gia tăng.
7
E. coli (Gyles and Fairbrother, 2006).
Pathotype
Virotypes
O serogroup
Tiêu chảy ở
AIDA
1
:Stx2e
1
:F18ac,
AIDA:F18ac
8, 38, 139, 141, 147, 149,
157
Tiêu chảy ở heo
con sau cai sữa
EPEC
Eae:EAST1
1
45, 103
Phù
EDEC
Stx2e:F18ab:AIDA
1
138, 139, 141
1
Không bắt buộc có.
Triệu chứng lâm sàng:
biểu hiện thay đổi tùy theo độc lực của E. coli, tuổi và tình trạng
miễn dịch của heo con. Những trƣờng hợp nặng, triệu chứng lâm sàng gồm mất nƣớc,
toan huyết và chết. Một số trƣờng hợp, heo con có thể chết trƣớc khi xuất hiện tiêu
chảy.
Tiêu chảy có thể xuất hiện 2 – 3 giờ sau khi sinh và có thể ảnh hƣởng trên một con
hay toàn lứa. Heo con của những nái đẻ lứa đầu thì bị ảnh hƣởng nhiều hơn so với
những heo con của những nái đẻ nhiều lứa. Một số lƣợng lớn heo con trong chuồng đẻ
cấy phân lập và định danh vi khuẩn E. coli gây bệnh, xác định các yếu tố độc lực của
vi khuẩn. Sự sản xuất độc tố ruột và độc tố tế bào đƣợc kiểm tra bằng hoạt tính sinh
học. STa đƣợc xác định trên chuột con, STb gây thắt những nút thắt trên ruột heo và
chuột, LT và STx bằng xét nghiệm nuôi cấy tế bào.
Những tiến bộ công nghệ hiện nay cho phép việc kiểm tra những yếu tố độc lực của
E. coli. Sử dụng những kháng nguyên đơn tính để tăng độ chính xác và độ nhạy để
kiểm tra STa, F4, F5, F6, F41. Những kháng nguyên này đƣợc sử dụng để chẩn đoán
trực tiếp và nhanh E. coli gây bệnh từ phân heo hay chất chứa trong ruột.
Điều trị bệnh
Điều trị bệnh tiêu chảy do E. coli gồm loại trừ vi khuẩn gây bệnh, điều trị triệu chứng
và tạo điều kiện môi trƣờng tốt nhất cho heo con. Các liệu pháp điều trị đƣợc tiến
hành càng nhanh thì hiệu quả điều trị càng cao. Cấp nƣớc có chất điện giải và glucose
9
qua đƣờng uống làm giảm mất nƣớc và nhiễm toan huyết. Thuốc làm giảm hiệu quả
làm tăng tiết dịch của độc tố ruột nhƣ chlorpromazine kết hợp với berberine sulfate có
thể đƣợc sử dụng. Việc sử dụng thuốc giảm tiết dịch nhƣ bencetimide và loperamide
có thể kết hợp với kháng sinh (Fairbrother and Gyles, 2006).
Giữ heo ở nhiệt độ 30 – 34
0
C trong đối với heo nhỏ và heo gần cai sữa là 29,5
0
C.
Phòng bệnh
Để phòng ngừa tiêu chảy do E. coli nên giữ vệ sinh tốt chuồng nuôi, giữ nhiệt độ môi
trƣờng thích hợp.
Cho heo con bú sữa đầu.
Tiêm vaccine cho heo mẹ đƣợc coi là phƣơng pháp hiệu quả nhất để phòng bệnh tiêu
chảy sơ sinh do ETEC cho heo con.
Chế độ ăn có thể đƣợc thay đổi để làm giảm sự sinh sôi của E. coli trong ruột non.
nặng ở ruột non.
Thể cấp tính : thƣờng xảy ra trên heo con 5 – 7 ngày tuổi, heo con tiêu chảy ra máu
(phân màu đen) chết sau 2 – 3 ngày mắc bệnh. Ngoài sự xuất huyết, trên ruột non còn
thấy nhiều vùng bị hoại tử hoặc bị loét.
Thể bán cấp tính : xảy ra trên heo con từ 1 tuần tuổi đến cai sữa, với các đặc điểm :
tiêu chảy kéo dài, phân màu xanh, không có máu, heo con suy yếu và chết sau 5 – 7
ngày tiêu chảy. Trên ruột non có nhiều vùng bị hoại tử, không thấy có dấu hiệu xuất
huyết.
Shigella
Shigella gây bệnh tiêu chảy ở heo con theo mẹ và heo cai sữa. Vi trùng đƣợc bài xuất
ra môi trƣờng theo phân, các chủng thƣờng gây bệnh là: Shigella dysentery và
Shigella flexmitia. Chúng xâm nhập vào đƣờng tiêu hóa, sinh sản và tiết độc tố gây
bệnh tiêu chảy.
2.3.2 Tiêu chảy do virus
Tiêu chảy do virus xảy ra trên heo mọi lứa tuổi, đặc biệt là heo con theo mẹ. Một số
loài virus nhƣ : Rotavirus, Coronavirus, Herpesvirus, Pestivirus…
Bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm là một bệnh đƣờng ruột do virus có tính lây lan
cao.
Virus gây viêm dạ dày ruột truyền nhiễm thuộc chi Coronavirus trong họ
Coronaviridae, có vỏ bọc và có nhiều hình dạng.
Bệnh có biểu hiện đặc trƣng là : Phân vàng nhiều nƣớc, có các mảnh thức ăn không
tiêu, da hồng đỏ, gầy, mất nƣớc, suy nhƣợc, đi xiêu vẹo, nằm chồng lên nhau.
Lứa tuổi mắc bệnh tập trung từ 3 – 4 ngày đến 21 ngày tuổi.
Tử số : tùy vào lứa tuổi, lứa tuổi càng nhỏ tử số càng cao.
1 – 7 ngày tuổi : tử số 100%
8 – 14 ngày tuổi : tử số 50%
15 – 21 ngày tuổi : tử số 20%
11
đầu, dƣới da…gây tiêu chảy, mất nƣớc. Trƣờng hợp nhiễm nặng heo chết từ 10 – 14
ngày tuổi, còi cọc và yếu đuối là di chứng bình thƣờng của bệnh do nhiễm
Strongyloides ransomi.
12
2.3.4 Một số nhân tố không truyền nhiễm gây tiêu chảy trên heo
Có hai yếu tố chủ yếu ảnh hƣởng tới tiêu chảy trên heo con là nhiệt độ môi trƣờng và
chất lƣợng của sữa mẹ.
Nhiệt độ thấp tới hạn của heo con (LTC), nhiệt độ mà heo con phải sử dụng năng
lƣợng từ bên ngoài để duy trì nhiệt độ cơ thể, là 33
0
C. LTC của heo gần cai sữa là
28
0
C. Nhiệt độ môi trƣờng thích hợp cho heo con là một sự kết hợp của sự truyền
nhiệt qua bức xạ qua không khí, qua nền chuồng, làm bốc hơi bề mặt nền ẩm ƣớt, và
tạo ra sự đối lƣu với vách tƣờng là cửa thông gió. Nhiệt độ môi trƣờng thích hợp đƣợc
ƣớc lƣợng bằng nhiệt độ không khí cộng thêm hoặc trừ đi những điều kiện kèm theo
trong bảng sau.
(Straw et al., 2006).
Thay
(
0
C)
Tốc độ gió:
0,2 m/s
0,5m/s
1,5m/s
gây tiêu chảy.
Thiếu sắt : heo con đƣợc sinh ra với nguồn dự trữ sắt hạn chế, trong tự nhiên heo có
thể bổ sung sắt từ trong đất. Heo nuôi thƣờng chỉ có thể nhận sắt từ sữa mẹ sữa
1mg/ngày (thiếu so với nhu cầu 7 – 15mg/ngày của heo con) cho tới khi chúng bắt đầu
tập ăn. Heo mới sinh có mức hemoglobin trong máu 12 – 13g/100ml và sẽ nhanh
chóng giảm xuống 6 – 7g vào khoảng 10 – 14 ngày tuổi. Thiếu sắt sẽ làm giảm mức
13
hemoglobin trong hồng cầu dẫn đến giảm khả năng vận chuyển oxy khắp cơ thể làm
tăng tính mẫn cảm với bệnh, trong đó có tiêu chảy.
Trên heo con sơ sinh, khả năng tiết HCl rất ít không đủ làm tăng độ toan của dạ dày.
Do vậy độ toan thấp, vi khuẩn bất lợi theo đƣờng miệng có điều kiện sống sót ở dạ
dày, vào ruột non chúng phát triển mạnh gây tiêu chảy.
Ngoài ra, do đặc tính heo con hay liếm nƣớc đọng nên dễ nhiễm vi sinh vật gây bệnh
hoặc do heo con ăn thức ăn của mẹ vào ruột không tiêu hóa đƣợc sẽ dẫn đến tiêu chảy.
Do ăn quá nhiều, heo con không tiêu hóa hết thức ăn, thức ăn còn thừa trong ruột tạo
điều kiện cho vi khuẩn E. coli phát triển và gây bệnh (Nguyễn Nhƣ Pho, 2001 trích
dẫn bởi Nguyễn Thị Lan Anh, 2008).
Do heo mẹ không đủ dinh dƣỡng trong thời gian mang thai nhƣ thiếu protein, vitamin
A, Fe, Cu, Zn… làm rối loạn quá trình trao đổi chất ở bào thai nên heo con sinh ra yếu
ớt, đề kháng kém dễ mắc bệnh, nhất là là bệnh đƣờng tiêu hóa (Nguyễn Nhƣ Pho,
1995 trích dẫn bởi Nguyễn Thị Lan Anh, 2008).
Thiếu một số vitamin A, PP, B2, B5 làm niêm mạc ruột bị lỡ loét, kích thích nhu động
ruột mạnh gây tiêu chảy.
Các
+
Tỷ lệ (%) heo con tiêu chảy % heo con bị tiêu chảy =
Tổng số heo con tiêu chảy
Tổng số heo con theo dõi
x 100
15 + Tỷ lệ (%) heo con bị tiêu chảy theo tuần tuổi
% heo con bị tiêu chảy =
(theo tuần tuổi)
+ Tỷ lệ (%) heo còi sau điều trị
% heo con bị còi sau điều trị =
Qui ƣớc: heo bị còi là heo có trọng lƣợng
2/3 trọng lƣợng heo bình thƣờng (heo
khỏe) cùng với thể trạng ốm, yếu, xù lông…
+ Tỷ lệ (%) heo con chết sau điều trị
% heo con chết sau điều trị=
+ Tăng trọng theo giai đoạn