khảo sát tình trạng tiêu chảy ở heo con theo mẹ từ sơ sinh đến cai sữa ở trại heo darby- cj- genetic - Pdf 13



iii

TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Qua quá trình “Khảo sát tình trạng tiêu chảy ở heo con theo mẹ từ sơ sinh
đến cai sữa tại Trại Darby-CJ Genetics” với mục đích khảo sát một số nguyên nhân
ảnh hưởng đến bệnh tiêu chảy trên heo con ở Trại, từ đó có biện pháp hạn chế thiệt hại
do bệnh tiêu chảy gây ra, chúng tôi ghi nhận được kết quả sau:
Thời gian khảo sát từ ngày 07/03/2008 – 28/06/2008
Tỷ lệ heo con tiêu chảy 59,80%, trong đó cao nhất ở đợt III 64,92% và thấp
nhất ở đợt I 55,10%.
Tỷ lệ ngày con tiêu chảy 6,94%, trong đó cao nhất ở đợt III 7,64% và thấp nhất
ở đợt I 6,37%.
Triệu chứng tiêu chảy trên heo con theo mẹ xuất hiện cao vào giai đoạn 7 – 12
ngày tuổi và 13 – 18 ngày tuổi. So với giai đoạn tuổi khác thì sự khác biệt này là rất có
ý nghĩa vê mặt thống kê với P < 0,001.
Tỷ lệ chữa khỏi đạt 91,23%, trong đó cao nhất ở đợt II 91,89% và thấp nhất ở
đợt III 90,18%.
Thời gian điều trị trung bình là 2,3 ngày, trong đó cao nhất ở đợt III là 2,43
ngày và thấp nhất ở đợt II là 2,27 ngày.
Tỷ lệ tái phát trung bình 24,09%, trong đó cao nhất ở đợt III là 27,24% và thấp
nhất ở đợt I là 21,08%.
Tỷ lệ chết do tiêu chảy 0,67%, trong đó cao nhất ở đợt III là 1,14% và thấp nhất
ở đợt II là 0,23%.
E. coli là nguyên nhân quan trọng và thường gặp trong bệnh tiêu chảy trên heo
con theo mẹ chiếm 85%.
Vi khuẩn E.coli đề kháng khá mạnh với nhiều loại kháng sinh, trong đó
penicillin, doxycyclin, Streptomycin, tetracyclin, bactrim bị đề kháng khá mạnh (90%-
100%), tiếp sau đó là Ampicillin, Amoxicillin, cephalexin, neomycin 80%-90%) và
chỉ còn nhạy cảm với 3 loại kháng sinh: gentamycin 70,59%, norfloxacin 70,59%,

2.1.3.2 Bệnh viêm dạ dày ruột 12
2.1.3.3 Dịch tiêu chảy (do Coronavirus) 13
2.1.3.4 Tiêu chảy do Rotavirus 13
2.1.3.5 Tiêu chảy do Salmonella 13
2.1.3.6 Tiêu chảy do cầu trùng 13
2.1.3.7 Viêm ruột hoại tử (do Clostridium perfringens type C) 14
2.2 Quy trình quản lý heo con theo mẹ tại Trại 14 v

2.2.1 Phương pháp đỡ đẻ 14
2.2.2 Phương pháp ghép heo con 15
2.2.3 Quản lý, chăm sóc và điều trị heo con theo mẹ: 15
Chương 3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 17
3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện 17
3.2 Nội dung và phương pháp tiến hành 17
3.2.1 Đối tượng khảo sát: heo con theo mẹ từ sơ sinh đến khi cai sữa 17
3.2.2 Nội dung khảo sát 17
3.2.3 Phương pháp tiến hành 18
3.2.3.1 Tiểu khí hậu chuồng nuôi 18
3.2.3.2 Ghi nhận tỷ lệ heo tiêu chảy và ngày con tiêu chảy 18
3.2.3.3. Ghi nhận thời gian và kết quả điều trị 18
3.2.3.4. Ghi nhận trọng lượng bình quân của heo con ở giai doạn sơ sinh và cai sữa, số
heo còi 19
3.2.3.5 Xét nghiệm vi trùng và thử kháng sinh đồ 19
Chương 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 21
4.1 Tiểu khí hậu chuồng nuôi 21
4.2 Tỷ lệ heo tiêu chảy 22
4.2.1 Tỷ lệ heo tiêu chảy 22

Bảng 4.1: Kết quả theo dõi nhiệt độ và ẩm độ 21
Bảng 4.2: Tỷ lệ heo tiêu chảy 22
Bảng 4.3: Tỷ lệ ngày con tiêu chảy 25
Bảng 4.4: Tỷ lệ ngày con tiêu chảy theo ngày tuổi 26
Bảng 4.5: Tỷ lệ chữa khỏi 29
Bảng 4.6: Thời gian điều trị trung bình 30
Bảng 4.7: Tỷ lệ tái phát 31
Bảng 4.8: Tỷ lệ chết do tiêu chảy 32
Bảng 4.9: Tỷ lệ chết do nguyên nhân khác 33
Bảng 4.10: Tỷ lệ heo còi 34
Bảng 4.11: Trọng lượng bình quân lúc sơ sinh 35
Bảng 4.12: Trọng lượng bình quân lúc cai sữa 35
Bảng 4.13: Kết quả phân lập vi khuẩn 37
Bảng 4.14: Kết quả thử kháng sinh đồ 38
viii

DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 4.1: Tỷ lệ heo tiêu chảy 23
Biểu đồ 4.2: Tỷ lệ ngày con tiêu chảy 25
Biểu đồ 4.3: Tỷ lệ ngày con tiêu chảy theo ngày tuổi 27
Biểu đồ 4.4: Tỷ lệ chữa khỏi 29
Biểu đồ 4.5: Thời gian điều trị trung bình 30
Biểu đồ 4.6: Tỷ lệ tái phát 31
Biểu đồ 4.7: Tỷ lệ chết do tiêu chảy 32
Biểu đồ 4.8: Tỷ lệ chết do nguyên nhân khác 33
Biểu đồ 4.9: Tỷ heo lệ còi 34

về kinh tế.
Qua thực tế cho thấy, tiêu chảy là một bệnh lý đặc thù của đường tiêu hóa diễn
biến rất phức tạp và gây thiệt hại đáng kể trên đàn heo con. Bệnh do rất nhiều nguyên
nhân dẫn đến như: tiểu khí hậu chuồng nuôi, vi sinh vật, chăm sóc và quản lý… Bệnh
tác động rất lớn đến sức khỏe của heo con theo mẹ, do đó vấn đề tìm ra biện pháp khắc
phục là điều hết sức quan trọng. Những nguyên nhân dẫn đến tiêu chảy trên heo con
theo mẹ được đề cập, nhất là vi sinh vật đường ruột, bởi vì hệ vi sinh vật đường ruột
hết sức đa dạng. Chính vì thế mà vấn đề xét nghiệm tìm vi khuẩn gây bệnh và thử
kháng sinh đồ là điều cần thiết, để từ đó có biện pháp lựa chọn kháng sinh điều trị một
cách thích hợp nhằm đem lại hiệu quả cao trong công tác điều trị.
Để giải quyết phần nào yêu cầu này của thực tế sản xuất, được sự phân công của
khoa Chăn Nuôi Thú Y, sự chấp nhận của Bộ môn Nội Dược Trường Đại Học Nông
Lâm Tp – Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Nguyễn Như Pho cùng với sự
chấp nhận và tạo điều kiện của lãnh đạo công ty TNHH Darby-CJ Genetics, chúng tôi
tiến hành đề tài: “Khảo sát tình trạng tiêu chảy ở heo con theo mẹ từ sơ sinh đến
cai sữa tại trại Darby-CJ Genetics”. 2

1.2 Mục đích
Tìm hiểu hiện trạng tiêu chảy trên heo con theo mẹ tại Trại Darby-CJ Genetics
để đưa ra biện pháp phòng và trị bệnh tiêu chảy trên heo con theo mẹ hiệu quả
1.3 Yêu cầu
Khảo sát và ghi nhận tiểu khí hậu chuồng nuôi.
Khảo sát tình hình tiêu chảy trên heo con theo mẹ từ sơ sinh đến khi cai sữa.
Theo dõi và ghi nhận kết quả điều trị tại Trại.
Phân lập vi khuẩn E. coli từ phân heo con theo mẹ bị tiêu chảy, thử kháng sinh
đồ để tìm loại kháng sinh có hiệu quả trong việc điều trị tiêu chảy trên heo con theo
mẹ tại Trại.

ra bình thường thì trở nên co thắt quá độ làm cho những chất chứa trong ruột non, ruột
già thải qua hậu môn quá nhanh, dưỡng chất không kịp tiêu hóa và ruột già chưa hấp
thu được nước… tất cả điều tống ra hậu môn với thể lỏng hoặc sền sệt. Hậu quả
nghiêm trọng là cơ thể bị mất nhiều nước, mất nhiều ion điện tích và ngộ độc các loại
độc tố do vi khuẩn gây bệnh tiêu chảy sản sinh ra, con vật suy nhược rất nhanh và có
thể chết rất nhanh nếu là thú sơ sinh nhỏ tuổi, gầy ốm, kém sức chịu đựng (theo Võ
Văn Ninh, 2001).
Sinh lý heo con
Heo con mới sinh ra có bộ máy tiêu hóa chưa hoàn chỉnh về chức năng và cấu
tạo. lớp màng nhầy chiếm tỉ lệ khá lớn trong thành ruột. Sự phân tiết enzyme tiêu hóa
ở dạ dày và ruột non rất kém, chỉ đủ tiêu hóa thức ăn đơn giản.
Khi cai sữa, heo con lấy chất dinh dưỡng chủ yếu từ thức ăn, vì vậy bộ máy tiêu
hóa của chúng phải qua một quá trình thay đổi hình thái cấu tạo và hoạt động sinh lý
để thích ứng với điều kiện sống mới. Vấn đề cai sữa sớm thường bị trở ngại do heo
con từ khi mới đẻ đến 2 tuần tuổi sử dụng rất ít hoặc không sử dụng được tinh bột vì
tuyến tụy và ruột tiết quá ít amylaza. So với các enzyme khác, tác dụng của lactaza
giảm dần qua lứa tuổi còn maltaza tăng dần qua lứa tuổi (theo Nguyễn Thị Trúc Ly,
2006).
Sau khi cai sữa, PH dạ dày tăng một cách từ từ (trong vòng 2 tuần), độ acid dạ
dày liên quan chặt chẽ đến sự tiêu hóa sữa của heo con. Ngay từ lúc mới đẻ, dạ dày 4

của heo con tiết rất ít pepsin, sự ngưng kết sữa nhờ chemozin. Protein trong thức ăn sẽ
được tiêu hóa nhờ enzyme tuyến tụy (theo Dương Thị Thanh Loan, 2002).
Ở heo con dưới 1 tháng tuổi, trong dịch dạ dày không có HCL tự do. Thiếu
HCL làm cho pH dạ dày cao, vi sinh vật có hại xâm nhập bằng đường miệng có khả
năng sống sót trong ống tiêu hóa, phát triển mạnh gây nên tiêu chảy.
Về miễn dịch, heo con chỉ nhận miễn dịch thụ động từ mẹ thông qua sữa đầu.

Theo Võ Văn Ninh (1985), ở những đàn có heo mẹ tốt sữa, sữa mẹ nhiều và
giàu chất dinh dưỡng, heo con bú nhiều, sữa không tiêu hóa kịp và có nhiều dưỡng
chất khó tiêu bị đẩy xuống ruột già là môi trường thuận lơi cho những vi sinh vật có
hại nhân lên gây bệnh tiêu chảy cho heo con theo mẹ.
Theo Võ Văn Ninh (1999), nái đẻ lứa đầu có thể có nhiều con không có sữa (vú
lép, tuyến sữa không phát triển hoặc kém phát triển, không có vú hoặc núm vú không
có lỗ tia). Heo mẹ bị nhiễm trước khi sinh mặc dù đã điều trị và khỏi triệu chứng
nhưng vẫn còn mang mầm bệnh như thương hàn, xoắn khuẩn,…khi mang thai vi trùng
xâm nhập qua màng nhau, gây sẩy thai hoặc heo con đẻ ra có thể bị nhiễm các vi trùng
này.
Do công tác tiêm phòng cho heo mẹ không được thực hiện nghiêm ngặt và
đúng định kỳ, ở những nái không được tiêm phòng vaccine cần thiết như: phó thương
hàn, TGE, E.coli… nên heo mẹ không nhận được kháng thể và heo con không nhận
được kháng thể thụ động truyền qua sữa đầu, dẫn đến nguy cơ nhiễm vi sinh vật này
và bệnh tiêu chảy trên heo con sẽ tăng lên.
Theo Nguyễn Như Pho (1995), heo mẹ mắc phải chứng MMA, heo con bú sữa
có sản vật viêm hoặc liếm dịch viêm rơi vải trên nền chuồng gây viêm ruột tiêu chảy.
Trên những heo mẹ kém sữa hay mất sữa, heo con được bú ít hoặc không được bú sữa
đầu nên sức đề kháng kém, dễ phát sinh bệnh.
2.1.1.2 Do heo con
Do đặc điểm sinh lý của heo con trong những ngày đầu chưa kịp thích nghi với
môi trường mới. Bộ máy tiêu hóa chưa hoàn thiện về chức năng và cấu trúc, các men
tiêu hóa còn nghèo về số lượng và chất lượng, HCl phân tiết ít làm cho pH trong dịch
đường tiêu hóa cao tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn độc hại đường tiêu hóa phát
triển và gây bệnh (Kvanhixki, 1960 – dẫn liệu của Nguyễn Như Pho, 1995).
Theo Trần Thị Dân (2002), ở sữa đầu, ngoài các chất thiết yếu còn chứa các
loại kháng thể (globuline) khá cao, loại kháng thể này chủ yếu là IgG. Tuy nhiên, vi
sinh vật trong đường tiêu hóa thường hiện diện trên bề mặt màng nhày ruột, đó là nơi
IgG ít xuất hiện và hoạt động không hữu hiệu. Khi sữa đầu bị ngưng sản xuất, hàm


nhóm B, C còn các vitamin tan trong dầu như: vitamin A, D, E, K phải từ 1 – 3 tuần
tuổi mới sử dụng được (Phạm Khắc Hiếu, 1997). Vì thế heo con thiếu các vitamin A,
D, E, K làm rối loạn chức năng nhu động, phân tiết và hấp thu dạ dày ruột đưa đến tiêu
chảy. 7

Theo Võ Văn Ninh (1999), thời kỳ heo con mọc răng cũng dễ mắc bệnh tiêu
chảy. Hai thời điểm mà heo con sốt và tiêu chảy với tỉ lệ cao nhất là lúc 10 – 17 ngày
tuổi và 23 – 29 ngày tuổi, ứng với thời gian mọc răng sữa tiền hàm số 3 ở hàm dưới và
răng sữa tiền hàm số 4 ở hàm trên.
Theo Dune (1970), bệnh phân trắng xuất hiện từ 1 – 7 ngày tuổi sau khi sinh.
Đối với những heo không được bú sữa đầu, sức đề kháng từ 16 – 21 ngày tuổi ít hơn
so với những heo được bú sữa đầu.
2.1.1.3 Do chăm sóc nuôi dưỡng
Chăm sóc nuôi dưỡng không đúng kỹ thuật là tiền đề cho vi sinh vật phụ nhiễm
dẫn đến viêm nhiễm.
Thiếu sót đầu tiên là heo con không được bú sữa đầu đầy đủ. Sữa đầu ngoài
thành phần dinh dưỡng cao, còn chứa kháng thể mẹ truyền qua giúp heo con phòng
chống bệnh trong 3 – 4 tuần lễ đầu.
Do cắt rốn, cột rốn heo con không đúng kỹ thuật, vệ sinh rốn không tốt heo con
bị viêm rốn sẽ dễ bị tiêu chảy.
Theo Võ Văn Ninh (1995), 80% tiêu chảy ở heo con do viêm rốn, sức đề kháng
giảm.
Theo Nguyễn Như Pho (1995), do bấm răng không kỹ, khi bú heo con làm trầy
vú mẹ và heo con bú sữa của vú bị viêm gây tiêu chảy.
Không úm heo con hoặc úm heo con không đúng qui cách, heo con sau khi rời
khỏi bụng mẹ, không có hoàn cảnh sống ổn định mà chịu trực tiếp các điều kiện sống
luôn biến đổi nên hệ tiêu hóa hoạt động yếu, giảm nhu động ruột, giảm phân tiết dịch

Vi sinh vật là nguyên nhân luôn hiện diện trong mọi trường hợp của bệnh tiêu
chảy trên heo con, có thể nói đây là tác nhân chủ yếu của bệnh tiêu chảy heo con.
Sự nhiễm trùng đường ruột thường xảy với các loại mầm bệnh trong chuồng
trại, do mầm bệnh từ heo mẹ truyền sang hoặc mầm bệnh có trong thức ăn, nước uống.
Theo Vũ Văn Ngữ và Nguyễn Hữu Nhạ (1977), bệnh tiêu chảy phân trắng ở
heo con là hiện tượng loạn khuẩn. Bình thường các vi khuẩn đường ruột luôn luôn ở
thế quân bình bảo đảm sự tiêu hóa bình thường cho cơ thể vật chủ, thế quân bình của
vật chủ dựa vào 2 cơ chế:
+ Tranh giành nhau một chất chuyển hóa cân bằng cho sự phát triển.
+ Tiết ra chất Teriocin có tính chất kháng sinh đối với vi khuẩn khác nhưng
không có tác dụng đối với vi khuẩn tiết ra nó. 9

Khi loạn khuẩn xảy ra, số lượng vi khuẩn có lợi giảm thấp còn vi khuẩn có hại
như E.coli lại tăng cao.
Người ta chứng minh virus cũng là tác nhân gây tiêu chảy như: Rotavirus,
Enterovirus, Coronavirus…
Các độc tố nấm men và nấm mốc trong thức ăn cũng gây tiêu chảy.
Ký sinh trùng tác động thông qua việc tranh chấp chất dinh dưỡng với ký chủ,
tiết nội hoặc ngoại độc tố, làm giảm sức đề kháng và làm tổn thương niêm mạc đường
tiêu hóa, tạo điều kiện cho các tác nhân khác tấn công gây bệnh. Hurgerford (1990), đã
liệt kê 55 nguyên nhân gây tiêu chảy trên heo con, trong đó 9 nguyên nhân do virus, 15
nguyên nhân do vi khuẩn, 9 nguyên nhân do ký sinh trùng, 7 trường hợp ngộ độc và 15
trường hợp bắt nguồn từ các bệnh nội khoa.
Theo Nguyễn Như Pho (1995), hệ vi khuẩn đường ruột được biểu thị qua sơ đồ
sau
Bảng 2.1: Một số mầm bệnh gây nhiễm trong đường tiêu hóa
Tên mầm bệnh Tên bệnh
Virus

Corona (TGE virus) Parvovirus Viêm dạ dày ruột truyền nhiễm
Coronavirus
Dịch tiêu chảy ở heo con
Rotavirus
Tiêu chảy do Rotavirus
Vi trùng

Clostridium perfringens type A
Tràng độc huyết
Clostridium perfringens type C
Viêm ruột hoại tử
E.coli
Tiêu chảy do E.coli
Salmonella
Phó thương hàng
Treponema hyodysenteriae
Hồng lỵ
Campylobacter coli
Tiêu chảy do Campylobacter
Nguyên sinh động vật

Issospora suis
Cầu trùng
Cryptosporidium spp
Cầu trùng
Eimeria
Sơ đồ 2.2: Cơ chế sinh bệnh Nguyên nhân không do vi sinh vật

nhu đ
ộng ruột

Tiêu chảy

Mất nước và
ch
ất điện giải

Thi
ếu dinh

ỡng

Ngộ độc
Chết
Giảm tiết dịch tiêu hóa
12
Tiêu chảy là phản ứng có lợi cho cơ thể, nhằm loại thải nhanh những chất độc
hại ra khỏi đường tiêu hoá của thú. Tuy nhiên, với đặc điểm là tăng nhu động ruột,
tăng tiết dịch ở ruột sẽ làm giảm sự hấp thu các dưỡng chất. Qua thời gian dài bị tiêu
chảy, thú bị mất nước, chất điện giải, máu bị cô đặc, rối loạn tuần hoàn và trao đổi
chất, cuối cùng dẫn đến shock và chết.
2.1.3 Đặc điểm của một số bệnh gây tiêu chảy trên heo con theo mẹ
2.1.3.1 Tiêu chảy do E.coli
Thời gian nung bệnh không xác định được, heo con theo mẹ và heo con cai sữa
mắc bệnh cao hơn lứa tuổi khác, khi bệnh nhẹ heo con bú ít, ăn ít, sốt nhẹ 39,5- 40

nước, ói mửa là triệu chứng điển hình, heo con mất nước nặng, gầy sút nhanh, bỏ bú,
đi đứng xiêu vẹo, thường nằm chồng lên nhau, có thể chết sau 3 – 5 ngày nếu không
kịp thời cấp nước và chất điện giải. Mổ xác thấy dạ dày heo con trống rỗng, chứa dịch
màu vàng, ruột non và ruột già chứa đầy dịch. Chẩn đoán dựa vào các triệu chứng điển
hình: lây lan nhanh, ói mửa, tiêu chảy loãng, phân vàng.
2.1.3.4 Tiêu chảy do Rotavirus
Thời gian nung bệnh từ 18 – 24 giờ, tử số 30 – 40% với các đặc điểm như heo
con lười bú, lười vận động, ói mửa, tiêu chảy và lây lan nhanh, thời gian tiêu chảy kéo
dài nhiều ngày (4 – 6 ngày), phân vàng, có nhiều bọt khí và chất nhầy, bệnh nặng trên
heo con theo mẹ và nhẹ hơn trên heo con cai sữa. Mổ xác thấy heo con gầy ốm, dạ dày
chứa nhiều chất đông đặc, ruột non căng phòng do sinh hơi và chứa đầy dịch màu
kem, đỉnh nhung mao ruột bị bào mòn. Chẩn đoán dựa vào các triệu chứng lâm sàng:
ói mửa xuất hiện trước khi tiêu chảy, đỉnh nhung mao ruột bị bào mòn, không xuất
huyết và loét ở ruột.
2.1.3.5 Tiêu chảy do Salmonella
Thời gian nung bệnh 3 – 4 ngày, heo con theo mẹ và sau cai sữa mắc bệnh cao
hơn các lứa tuổi khác. Thể viêm ruột cấp tính xảy ra trên heo con theo mẹ, tiêu chảy
phân vàng, nhiều nước, sốt vừa (40,6 – 41,5
0
C). Sau vài ngày vi trùng xâm nhập vào
phổi gây viêm phổi, có thể xuất huyết ở vùng da mỏng, sau 5 – 6 ngày mắc bệnh heo
con suy nhược nặng, nằm liệt, có thể co giật nhẹ rồi chết, tử số có thể lên đến 100%.
Thể nhiễm trùng máu thường xảy ra trên heo lớn. Bệnh tích trên heo con: thành dạ dày
chứa nhiều chất nhầy, viêm ruột, xuất huyết nhiều nơi, màng treo ruột sưng và xuất
huyết, lách xung huyết và rất dai, phổi có khi viêm, xuất huyết.
2.1.3.6 Tiêu chảy do cầu trùng
Bệnh tập trung vào giai đoạn 5 – 25 ngày tuổi, tử số 15 – 25%, heo con tiêu
chảy phân trắng sau đó chuyển sang vàng, phân hơi lỏng mùi phân rất tanh. Heo con
gầy ốm, lông xù, không có dấu hiệu sốt và ói mửa. Chẩn đoán dựa vào lứa tuổi mắc


con nằm bên ngoài thì phải bắt bỏ vào ổ úm từ mới đẻ đến 2 hoặc 3 ngày sau khi đẻ. 15
2.2.2 Phương pháp ghép heo con
Nái đẻ nhiều con thì bắt con ghép sang nái đẻ ít con. Khi ghép cần chú ý:
Con bắt đi ghép phải có trọng lượng ngang bằng với con của nái đẻ ít con.
Phải làm dấu con bắt đi ghép để dể phân biệt khi bấm tai.
Khoảng cách thời gian đẻ của 2 nái ghép con không quá 12 giờ.
Nếu sau 5 – 7 ngày heo con theo mẹ gầy, yếu, tiêu chảy, heo mẹ sữa ít hoặc
không có sữa thì phải đổi mẹ.
Trước khi đổi mẹ phải chọn mẹ có thể trạng tốt, sữa nhiều, heo con của mẹ đó
phải có thể trạng tốt.
Khi cai sữa, những heo con nhỏ, yếu phải cho bú sữa lại.
2.2.3 Quản lý, chăm sóc và điều trị heo con theo mẹ:
Heo con đẻ sau 3 ngày thì bấm tai và thiến xong phải chích Oxytetracycline,
0,5ml/con.
Đến 7 ngày tuổi cho heo con tập ăn:
Cho heo con theo mẹ ăn ngày 4 lần: sáng 9h – 15h – 21h – 1h
Cho heo con ăn cám Master 1011, những ngày đầu cho ăn 100g/lần, sau đó tăng
dần lượng cám lên nhưng lượng cám cho ăn không quá 100g/con/lần.
Công thức cám
Năng lượng trao đổi tối thiểu: 3200kcal/kg
Ẩm độ tối đa: 14%
Protein tối thiểu: 22%
Xơ thô tối đa: 4%
Canxi: 0,7 – 1,2%
Phospho tổng số tối thiểu: 0,6%
Natri: 0,2 – 0,5%
Colistin: 20mg/kg

Địa điểm tại Trại heo của công ty TNHH Darby-CJ Genetics – Long Nguyên –
Bến Cát – Bình Dương.
3.2 Nội dung và phương pháp tiến hành
3.2.1 Đối tượng khảo sát: heo con theo mẹ từ sơ sinh đến khi cai sữa
3.2.2 Nội dung khảo sát
Tiểu khí hậu chuồng nuôi
Nhiệt độ
Ẩm độ
Tỷ lệ tiêu chảy
Thời gian điều trị khỏi trung bình
Tỷ lệ chữa khỏi
Tỷ lệ tái phát
Tỷ lệ chết do tiêu chảy
Tỷ lệ chết do nguyên nhân khác
Trọng lượng bình quân lúc sơ sinh
Trọng lượng bình quân lúc cai sữa
Tỷ lệ còi
Xét nghiệm vi trùng học
Thử kháng sinh đồ
18
3.2.3 Phương pháp tiến hành
3.2.3.1 Tiểu khí hậu chuồng nuôi
Nhiệt độ:
Dụng cụ đo: nhiệt độ kế

dần chuyển lại hồng, heo con hoạt bát và tăng trọng bình thường trở lại.
Tỷ lệ chữa khỏi (TLCK)
TLCK (%) = (Số con chữa khỏi/ Tổng số con điều trị)*100
Thời gian điều trị trung bình (TGĐTTB)
TGĐTTB (ngày) = Tổng số ngày điều trị/ Tổng số ca điều trị
Tỷ lệ tái phát (TLTP)
TLTP (%) = (Số con tái phát/ Tổng số con điều trị khỏi)*100
Tỷ lệ chết do tiêu chảy (TLCDTC)
TLCDTC (%) = Số con chết do tiêu chảy/ Tổng số con khảo sát)*100
Tỷ lệ chết do nguyên nhân khác (TLCDNNK)
TLCDNNK (%) = (Số con chết do nguyên nhân khác/ Tổng số con khảo
sát)*100
3.2.3.4. Ghi nhận trọng lượng bình quân của heo con ở giai doạn sơ sinh và cai
sữa, số heo còi
Chúng tôi tiến hành cân tất cả các heo con sơ sinh ở đầu giai đoạn khảo sát và
tất cả heo con ở cuối giai đoạn khảo sát. Ghi nhận kết quả sau đó tính được trọng
lượng bình quân lúc sơ sinh, trọng lượng bình quân lúc cai sữa và số heo còi (có trọng
lượng < 5kg).
Trọng lượng bình quân lúc sơ sinh (TLBQLSS)
TLBQLSS (kg) = (Tổng trọng lượng lúc sơ sinh/ Tổng số con sơ sinh)
Trọng lượng bình quân lúc cai sữa (TLBQLCS)
TLBQLCS (kg) = (Tổng trọng lượng lúc cai sữa/ Tổng số con cai sữa)
Tỷ lệ còi (TLC)
TLC (%) = (Số con còi/ Tổng số con sống)*100
3.2.3.5 Xét nghiệm vi trùng và thử kháng sinh đồ
− Chúng tôi thực hiện lấy 20 mẫu.
− Loại mẫu: phân của những heo con bị tiêu chảy.
− Cách lấy mẫu: chọn những heo đang tiêu chảy chưa sử dụng kháng sinh điều trị.
Lau sạch bên ngoài hậu môn bằng bông gòn thấm cồn, dùng tăm bông vô trùng
ngoáy sâu vào lỗ hậu môn xoay một vòng để lấy phân, sau đó lấy tăm bông ra


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status