TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
TRỊNH MINH LUÂN KHẢO SÁT TÌNH HÌNH TIÊU CHẢY Ở HEO
CON GIAI ĐOẠN THEO MẸ VÀ SO SÁNH
HIỆU QUẢ MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÕNG TRỊ
TẠI KHU CHĂN NUÔI TẬP TRUNG THÀNH
ĐỘI CẦN THƠ Luận văn tốt nghiệp
Ngành: Thú Y
Giáo viên hướng dẫn:
ThS. PHẠM HOÀNG DŨNG
Cần Thơ, 2014
Sinh viên thực hiện:
TRỊNH MINH LUÂN
MSSV: 3103035
Lớp: Thú Y K36 ii
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÖ Y
Đề tài: “Khảo sát tình hình tiêu chảy ở heo con giai đoạn theo mẹ và so
sánh hiệu quả một số biện pháp phòng trị tại khu chăn nuôi tập trung thành
đội Cần Thơ” do sinh viên Trịnh Minh Luân thực hiện tại khu chăn nuôi tập trung
thành đội Cần Thơ huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ và phòng Thí Nghiệm
Vệ Sinh Thực Phẩm - Bộ môn Thú y - Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng -
Cần thơ, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Trịnh Minh Luân iv
LỜI CẢM TẠ
Thành kính ghi ơn cha, mẹ!
Ơn cha, mẹ đã hy sinh cả đời mình để dạy bảo, nuôi con khôn lớn và cho con
đƣợc cắp sách đến trƣờng. Anh chị và những ngƣời thân trong gia đình đã chăm lo,
động viên tôi trong suốt quá trình học tập.
Xin cảm tạ!
Ban giám hiệu trƣờng Đại Học Cần Thơ, khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng
Dụng, bộ môn Thú Y đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện luận văn tốt nghiệp này.
Quý thầy cô bộ môn Thú Y, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng,
trƣờng Đại Học Cần Thơ đã ân cần và tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu
cho tôi trong suốt thời gian qua.
Thầy Phạm Hoàng Dũng và thầy Trần Ngọc Bích đã tận tình hƣớng dẫn,
truyền đạt những kiến thức quý báo và hƣớng dẫn tôi trong suốt thời gian thực tập
để tôi có thể hoàn thành tốt bài luận văn tốt nghiệp này.
Cảm ơn!
Cán bộ thú y tại khu chăn nuôi tập trung thành đội Cần Thơ huyện Phong
Điền, thành phố Cần Thơ đã nhiệt tình giúp đỡ và hỗ trợ tôi trong suốt thời gian
thực tập.
Thầy Lê Hoàng Sĩ cùng tập thể lớp Thú Y K36, tất cả những ngƣời thân,
những ngƣời bạn đã động viên chia sẻ và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập
2.1.1 Một số nghiên cứu trên thế giới 2
2.1.2 Những nghiên cứu về bệnh ở Việt Nam 3
2.2 Đặc Điểm Sinh Lý Của Heo Con 4
2.2.1 Đặc điểm về thần kinh và cơ quan điều nhiệt 4
2.2.2 Đặc điểm về sự phát triển cơ quan tiêu hóa heo con 5
2.2.3 Hệ miễn dịch ở heo con 8
2.3. Hội Chứng Tiêu Chảy Trên Heo Con 9
2.3.1 Một số nguyên nhân gây tiêu chảy heo con giai đoạn theo mẹ 9
2.3.2 Cơ chế sinh bệnh 16
2.3.3 Triệu chứng và bệnh tích 16
2.3.4 Chẩn đoán phân biệt một số bệnh gây tiêu chảy 18
2.3.5 Biện pháp phòng trị tiêu chảy 19
CHƢƠNG 3: NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 22
3.1 Thời Gian Và Địa Điểm 22
3.2 Sơ Lƣợc Về Tình Hình Trại 22 vi
3.2.1 Đặc điểm của trại 22
3.2.2 Cơ sở vật chất và điều kiện tự nhiên 22
3.2.3 Tình hình chăn nuôi của trại 23
3.2.4 Tình hình kỹ thuật 24
3.3 Nội Dung Và Phƣơng Pháp Tiến Hành Thí Nghiệm 28
3.3.1 Đối tượng khảo sát 28
3.3.2 Phương tiện khảo sát 29
3.3.3 Phương pháp tiến hành 29
CHƢƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33
4.1 Kết quả khảo sát thu thập triêu chứng lâm sàng của bệnh tiêu chảy heo con
giai đoạn theo mẹ. 33
4.2 Kết Quả Điều Tra Tình Hình Tiêu Chảy Của Heo Con Giai Đoạn Theo
Bảng 4.4: Kết quả điều tra tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy ở heo con theo độ tuổi 39
Bảng 4.5: Kết quả sử dụng một số phác đồ điều trị tiêu chảy trên heo con giai đoạn
sơ sinh đến 21 ngày tuổi 41
Bảng 4.6: Kết quả theo dõi tỷ lệ heo chết, tái phát tiêu chảy sau điều trị 43
Bảng 4.7: Trọng lƣợng trung bình của heo con qua các giai đoạn 44
Bảng 4.8: Tỷ lệ heo còi 45
Bảng 4.9: Chi phí điều trị 46 viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 1: Tỷ lệ tiêu chảy của heo con giai đoạn theo mẹ 36
Biểu đồ 2: So sánh tỷ lệ tiêu chảy của heo con theo lứa đẻ 38
Biểu đồ 3: So sánh tỷ lệ tiêu chảy của heo con theo độ tuổi 39
Biểu đồ 4: So sánh hiệu quả sử dụng một số phác đồ điều trị 41
Biểu đồ 5: So sánh tỷ lệ heo chết và tái phát sau điều trị 43
Biểu đồ 6: So sánh trọng lƣợng trung bình của heo con 44
Biểu đồ 7: So sánh tỷ lệ heo còi của các nghiệm thức điều trị 45ix
DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 3.1: Tổng quan bên ngoài trại 22
Hình 3.2: Khu nuôi heo thịt 23
Hình 3.3: Khu nuôi nái mang thai, nái nuôi con và heo con cai sữa 23
Hình 3.4: Hệ thống bồn trữ nƣớc 24
Kết quả khảo sát thu thập các triệu chứng lâm sàn phổ biến và quan trọng:
Trạng thái phân thường sệt hoặc hơi lỏng, màu sắc phân thay đổi từ vàng,
trắng, trắng xám và phụ thuộc vào thành phầ, màu sắc thức ăn. Cơ thể heo bệnh đa
số gầy yếu, lông xù.
Kết quả khảo sát tỷ lệ bệnh tiêu chảy trên 20 đàn heo với tổng số 207 heo con:
Tỷ lệ tiêu chảy ở heo con giai đoạn theo mẹ chiếm 56,52% tổng số heo con
khảo sát. Những nái có lứa đẻ thứ nhất có tỷ lệ đàn và số heo con mắc bệnh tiêu
chảy cao nhất lần lượt là 100% và 78,95%. Heo con ở tuần tuổi thứ 2 thường mắc
bệnh tiêu chảy với tỷ lệ cao nhất 47,86% trong tổng số heo bị bệnh ở giai đoạn theo
mẹ.
Kết quả thu được ở thí nghiệm điều trị:
Qua khảo sát hiệu quả điều trị bệnh tiêu chảy ở heo con của 3 loại thuốc
tương ứng với 3 nghiệm thức thì Coli – norgent là loại thuốc điều trị có hiệu quả
nhất, tỷ lệ khỏi bệnh cao nhất là 100% heo con khỏi bệnh sau 4 ngày điều trị với
thời gian điều trị trung bình thấp nhất 1,67 ngày và tỷ lệ heo chết, tái phát, còi sau
điều trị thấp nhất.
1
CHƢƠNG 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăn nuôi heo là nghề truyền thống ở nƣớc ta nhƣng để chăn nuôi heo phát
triển tốt hơn theo hƣớng gắn với thị trƣờng, an toàn dịch bệnh, vệ sinh thú y, bảo vệ
môi trƣờng nhằm nâng cao năng suất chất lƣợng, hiệu quả và vệ sinh an toàn thực
phẩm, các địa phƣơng đang đẩy mạnh phát triển các sản phẩm chăn nuôi có lợi thế
và khả năng cạnh tranh. Đồng thời khuyến khích các tổ chức cá nhân đầu tƣ
chăn nuôi theo hƣớng trang trại, hỗ trợ tạo điều kiện cho các hộ chăn nuôi
truyền thống chuyển dần sang chăn nuôi trang trại và công nghiệp.
2
CHƢƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Sơ lƣợt về tình hình nghiên cứu hội chứng tiêu chảy ở heo con trong
và ngoài nƣớc
2.1.1 Một số nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới đã có rất nhiều nhà khoa học đi sâu nghiên cứu về bệnh tiêu chảy
heo con.
Bệnh tiêu chảy ở heo con theo mẹ có nhiều nguyên nhân gây ra, nhƣng nguyên
nhân chủ yếu là do vi khuẩn sinh độc tố đƣờng ruột Enterotoxinogenic Escherichia
coli (ETEC) gây nên là một trong những nguyên nhân gây bệnh nghiêm trọng nhất
(Gyles, 1986).
Theo Purvis G. M. và cộng sự (1985) cho rằng phƣơng thức cho ăn không phù
hợp là nguyên nhân quan trọng gây tiêu chảy ở heo.
Niconxki V. V. (1986) đã nhấn mạnh “Khi cơ thể gia súc non bị lạnh kéo dài
sẽ làm giảm phản ứng miễn dịch, giảm số lƣợng bạch cầu và tác dụng thực bào,
giảm khả năng diệt trùng của máu do đó gia súc dễ bị vi khuẩn tấn công”.
Năm 1972, Mouwen đã kết luận niêm mạc ruột non của heo có sự biến đổi lớn
trong trƣờng hợp heo con tiêu chảy do Rotavirus.
Năm 1992, Fairbrother J. M và cộng sự cho biết độc tố Enterotoxin do E. coli
sinh ra Enterotoxinogenic Escherichia coli (ETEC) gây ỉa chảy trầm trọng cho heo
sơ sinh từ 1-4 ngày tuổi.
Akita và cộng sự (1993) đã nghiên cứu sản xuất kháng thể đặc hiệu qua lòng
đỏ trứng gà dùng trong phòng và chữa tiêu chảy ở heo con.
Theo nghiên cứu của Vũ Khắc Hùng và M. Pilipcinec (2003) ở Cộng hòa
Slovakia thì trong 220 mẫu phân heo con bị tiêu chảy dƣơng tính với E. coli có 83
mẫu mang kháng nguyên bám dính F4, chiếm 37,7%; 7 mẫu mang tổ hợp F5 và
F41; 6 mẫu mang kháng nguyên F6: 19 mẫu mang kháng nguyên F18 và 1 mẫu
mang kháng nguyên bám dính F17.
hội chứng hay nói cách khác là một trạng thái lâm sàng rất đa dạng, đặc biệt là dạng
viêm dạ dày ruột, tiêu chảy và gầy sút nhanh. Tác nhân gây bệnh chủ yếu là E. coli,
ngoài ra có sự tham gia của Salmonella và vai trò thứ yếu là Proteus, Streptococcus.
Bệnh xảy ra quanh năm ở những nơi tập trung nhiều gia súc, bệnh thƣờng phát
mạnh từ mùa đông sang mùa hè (tháng 11 đến tháng 5) đặc biệt khi thời tiết thay
đổi đột ngột (từ oi bức chuyển sang mƣa rào, từ khô ẩm chuyển sang rét). Tỷ lệ mắc
bệnh tới 50% và tỷ lệ chết tới 30-45%.
Lý Thị Liên Khai (2001) đã phân lập và xác định độc tố ruột của các chủng
E. coli gây bệnh tiêu chảy cho heo con. Tác giả cho rằng các chủng K88 sinh độc tố
ruột kém chịu nhiệt LT (heat – labile enterotoxin) và độc tố chịu nhiệt ST (heat –
stable enterotoxin), K99 và K987P sinh độc tố ruột ST, độc tố ruột ST trở nên rất
độc khi sức đề kháng của vật chủ giảm, gây tiêu chảy cho heo con đang bú mẹ, phổ
biến ở 1 đến 2 tuần tuổi.
Trần Thị Hạnh và Đặng Xuân Bình (2002) công bố heo con theo mẹ đều phân
lập đƣợc E. coli và Clostridium perfringens ở hầu hết các cơ quan phủ tạng, trong
đó sự có mặt của E. coli luôn chiếm một tỷ lệ cao và rất phổ biến, vi khuẩn yếm khí
Cl. perfingens chỉ đƣợc phát hiện ở gan, và ruột non với một tỷ lệ khá cao. Khi sử
dụng các sinh phẩm E. coli - sữa, Cl. perfringens - toxoit trong quy trình phòng
bệnh tiêu chảy cho heo con, kết quả thu đƣợc bƣớc đầu cho thấy tác dụng và hiệu
quả khá rõ rệt: đã giảm đƣợc số heo con bị mắc bệnh (28,12% so với 55,5%), số
ngày điều trị cho mỗi heo bệnh cũng rút ngắn từ 3 ngày xuống còn 1,8 ngày và
khống chế đƣợc tỷ lệ heo con chết do bị tiêu chảy (7,4% so với đối chứng). Ngoài
ra, các sinh phẩm còn cho thấy hiệu quả kinh tế khi khối lƣợng bình quân lúc cai
sữa của heo con đƣợc nâng lên so với đối chứng. 4
Đoàn Thị Kim Dung (2003) dùng Apramycin hoặc Apramycin phối hợp với
Bioseptin có tác dụng tốt nhất đối với bệnh tiêu chảy ở heo con (dùng riêng khỏi
thống nhất của cơ thể với ngoại cảnh nhờ vai trò của hệ thần kinh (Trƣơng Lăng
2003).
Tuy nhiên ở heo con lúc mới sinh các cơ quan đều chƣa thành thục về chức
năng, đặc biệt là hệ thần kinh. Do đó heo con phản ứng rất chậm chạp đối với yếu tố
ngoại cảnh tác động lên chúng. Do chúng chƣa thành thục nên cơ quan tiêu hóa
cũng dễ bị rối loạn hoạt động và rất dễ bị bệnh (Đào Trọng Đạt, 1996). 5
Hệ thần kinh điều khiển sự cân bằng thân nhiệt của heo con chƣa phát triển
đầy đủ, mô dƣới da chƣa phát triển và glycogen trong cơ thể còn thấp, da mỏng
lông thƣa nên chống lạnh kém, dễ nhiễm lạnh và rối loạn hoạt động của cơ quan
trong đó có cơ quan tiêu hóa (Lê Hồng Mận, 2002).
Theo Phùng Thị Văn (2004) cho rằng: heo con dƣới 3 tuần tuổi, có khả năng
điều nhiệt chƣa hoàn chỉnh, nên thân nhiệt heo con chƣa ổn định, nghĩa là sự sinh
nhiệt và thải nhiệt chƣa cân bằng.
Trên cơ thể heo con, phần thân có nhiệt độ cao hơn phần chân và phần tai. Ở
phần thân thì nhiệt độ ở bụng là cao nhất cho nên khi bị cảm lạnh thì phần bụng bị
mất nhiệt nhiều nhất.
Lúc còn ở trong bụng mẹ, sự trao đổi nhiệt của bào thai đƣợc xác định do thân
nhiệt của heo mẹ. Sau khi sinh cơ thể của heo con chƣa có thể bù đắp đƣợc lƣợng
nhiệt mất đi do ảnh hƣởng của môi trƣờng bên ngoài.Vì vậy, hầu nhƣ tất cả heo con
sau khi sinh đều bị giảm thân nhiệt, sau đó thân nhiệt dần tăng lên cho nên cần thiết
phải điều chỉnh nhiệt độ chuồng úm cho heo con: thích hợp nhất là 32-34
0
C trong
tuần đầu và 29-30
0
C ở tuần sau (Đào Trọng Đạt và ctv, 1996).
(Trƣơng Lăng, 2007).
Lƣợng nƣớc bọt thay đổi tùy theo số lần cho ăn và chất lƣợng thức ăn. Ăn chỉ
một loại thức ăn kéo dài sẽ làm tăng nhiệm vụ của một tuyến, gây ức chế, heo con ít
thèm ăn. Ăn nhiều loại thức ăn khác nhau, ăn đổi bữa thì cả hai tuyến hoạt động
không gây ức chế, heo con sẽ thèm ăn, tiết nƣớc bọt liên tục, giúp tiêu hóa tốt thức
ăn.
Ở miệng hầu nhƣ không hấp thu vì thức ăn ở lại đây không lâu, chỉ có khả
năng hấp thu đƣờng glucose, nhƣng lƣợng này không đáng kể nên có thể coi nhƣ
không hấp thu. Ở heo con thức ăn chủ yếu là sữa và tiêu hóa diễn ra lớn nhất là ở dạ
dày và ruột, vì vậy vai trò của nƣớc bọt ở giai đoạn này ít quan trọng (Trần Cừ,
1972).
2.2.2.2 Tiêu hóa ở dạ dày
Thức ăn sau khi vào dạ dày ảnh hƣởng bởi tác động cơ học và hóa học. Tác
động cơ học là do cơ trơn vách dạ dày co bóp nhào trộn thức ăn, đẩy thức ăn vào
ruột. Tác động hóa học là do tác dụng của dịch vị ở tuyến dạ dày tiết ra để tiêu hóa
thức ăn.
Trƣơng Lăng (2003) cho rằng heo con mới đẻ, dạ dày chỉ nặng 4-5g chứa
đƣợc từ 5-40g sữa, khi đạt 10 ngày tuổi, dung tích dạ dày tăng gấp 3 lần so với sơ
sinh, đến 20 ngày tuổi đạt 2 lít, sau đó tăng chậm, đến tuổi trƣởng thành dung tích
dạ dày đạt 3,5-4 lít.
Dịch vị tiết ra tƣơng ứng với sự phát triển của dung tích dạ dày, tăng mạnh
nhất ở 3-4 tháng tuổi, sau đó kém hơn.
Lƣợng dịch vị biến đổi tùy theo ngày và đêm.
Bảng 2.1: Lƣợng dịch vị tiết ra thay đổi theo ngày và đêm
Thời gian
Heo lớn
Heo con
Ngày
62%
31%
2.2.2.4 Hệ vi sinh vật đƣờng tiêu hóa
Ở gia súc trƣởng thành, trong đƣờng ruột có hệ vi sinh vật có lợi thƣờng trực
cộng sinh có khả năng khống chế sự xâm nhập và nhân lên của các loài vi sinh vật
khác lạ từ môi trƣờng bên ngoài, đồng thời tham gia vào quá trình tiêu hoá hấp thu.
Trong đƣờng ruột của gia súc non, hệ vi sinh có lợi - vi sinh vật đối kháng với vi
khuẩn gây bệnh chƣa hình thành, chức năng tiêu hoá chƣa thành thục, môi trƣờng
sống, điều kiện ngoại cảnh, chăm sóc không tốt đều là những stress đối với gia súc
non. Khi chuyển từ bào thai sang nuôi dƣỡng bằng sữa mẹ và chế độ tập ăn, tiếp
xúc thƣờng xuyên với môi trƣờng bên ngoài và nhất là điều kiện không vệ sinh, vi
sinh vật gây bệnh dễ dàng xâm nhập và gây bệnh đƣờng ruột cho gia súc non, có thể
ở dạng cấp tính hay mãn tính.
Ở trạng thái sinh lý bình thƣờng, giữa cơ thể vật chủ và hệ vi sinh vật trong
đƣờng tiêu hoá cũng nhƣ giữa các loài vi sinh vật trong khu hệ vi sinh vật với nhau
luôn luôn ở trạng thái cân bằng, sự cân bằng này là cần thiết cho sức khoẻ của vật
chủ. Họ vi khuẩn đƣờng ruột là một họ lớn, bao gồm các trực khuẩn gram âm sống
trong ống tiêu hoá của ngƣời và động vật. Chúng có thể gây bệnh hoặc không gây
bệnh, hiếu khí hoặc hiếu khí tuỳ tiện, bao gồm vi khuẩn sinh axit lactic, vi khuẩn
bifidium, một số loại cầu khuẩn đƣờng ruột có khả năng ức chế và tiêu diệt vi khẩn
Salmonella, Proteus vulgaris và các loại vi khuẩn sinh thối rữa, vi khuẩn
Lactobacillus, Bacilus subtilis. Ở gia súc sơ sinh, chƣa hình thành hoặc hình thành
không ổn định hệ vi sinh vật có lợi này, có nghĩa là chƣa có vi khuẩn ức chế và tiêu
diệt sự xâm nhập của vi khuẩn gây bệnh đƣờng tiêu hoá.
Hệ vi sinh vật có hại hay gặp trong đƣờng ruột là vi khuẩn Salmonella spp.,
E. coli, một số chủng Clostridium spp., Shigella. Cho đến nay nhiều công bố nghiên 8
cứu khoa học đã cho biết nguyên nhân gây tiêu chảy ở gia súc non gồm 3 loại chính
là E. coli, Salmonella spp., Clostridium perfringens.
năng hấp thu globulin rất cao khi heo con mới sinh nhƣng giảm sau 24 giờ, từ tuần
lễ thứ 3 thì khả năng hấp thu - globulin chấm dứt và heo con bắt đầu tự sản xuất
kháng thể, hàm lƣợng kháng thể tăng theo thời gian.
Heo con chỉ có tính miễn dịch thụ động nhờ bú sữa đầu bởi vì tuần hoàn máu
giữa heo mẹ và thai bị cách ly qua mấy lớp tổ chức, cho nên hạn chế sự chuyển dời
của kháng thể từ mẹ vào thai (Trần Cừ, 1972). 9
Theo Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân (2000): sữa đầu cung cấp chất dinh
dƣỡng và kháng thể ( - globulin) cho heo con để chúng phát triển và chống lại
bệnh lúc hệ thống miễn nhiễm của chúng chƣa hoạt động hoàn chỉnh. Lúc sơ sinh
lƣợng - globulin trong máu chỉ 1,3 mg/ml nhƣng sau 24 giờ thì tăng đến 20,3
mg/ml nếu heo con bú sữa đầu từ mẹ đã đƣợc chủng ngừa và nuôi dƣỡng tốt.
Sữa đầu chứa nhiều vitamin A, D, B12 gấp 5 lần sữa thƣờng, khoáng gấp 2
lần.Vì vậy, sữa đầu rất quan trọng đối với heo con, chứa nhiều globulin miễn dịch,
vitamin hoà tan trong dầu, cả những chất béo bảo vệ heo con mới đẻ chống nhiễm
bệnh. Hai giờ sau khi sinh heo con phải đƣợc bú sữa đầu. Nó hấp thu đƣợc nhiều
globulin miễn dịch sữa đầu vào máu trong thời gian 24-36 giờ (Trƣơng Lăng,
2003).
Sữa đầu quyết định sức khoẻ và sinh trƣởng phát triển của đàn heo con. Sữa
đầu giúp heo tăng sức đề kháng chống lại một số bệnh cho giai đoạn phát triển của
heo (Lê Minh Hoàng, 2002).
2.3 Hội Chứng Tiêu Chảy Trên Heo Con
Ở nƣớc ta bệnh xảy ra quanh năm nhƣng chủ yếu vào mùa đông xuân, nhất là
sau những trận mƣa lớn, những ngày có độ ẩm cao và khi thời tiết thay đổi đột ngột.
Ở các trại chăn nuôi tập trung bệnh xảy ra rất nhiều, mặc dù đã thực hiện tốt
các khâu về chăm sóc, nuôi dƣỡng, phòng trị bệnh cho heo con, heo mẹ nhƣng bệnh
vẫn xảy ra lúc lẻ tẻ, lúc ồ ạt gây thiệt hại kinh tế.
Theo Đào Trọng Đạt và ctv (1996), hệ vi sinh vật đƣờng ruột heo con chƣa
phát triển hoàn thiện, chƣa đủ số lƣợng vi khuẩn có lợi, chƣa đủ khả năng kháng lại
vi khuẩn gây bệnh, nên rất dễ bị nhiễm bệnh nhất là bệnh về đƣờng tiêu hoá.
Do khâu chăm sóc heo không cẩn thận sau khi sinh, cuốn rốn không đƣợc sát
trùng kỹ, tạo điều kiện cho vi trùng xâm nhập gây viêm ruột đƣa đến tiêu chảy.
Heo con từ sơ sinh đến 20 ngày tuổi, pH dịch vị trung bình, không có acid đặc
trƣng là HCl tự do nên không đủ khả năng tiêu hóa protid. Nhƣợc điểm này có thể
là nguyên nhân đầu tiên làm phát dịch bệnh. Với heo con một tháng tuổi trở lên hàm
lƣợng HCl và men pepsin dịch vị tăng nên cảm nhiễm bệnh giảm rõ rệt (Trƣơng
Lăng, 2003).
Một số nguồn dinh dƣỡng chất khoáng và vitamin khi bị thiếu cũng ảnh hƣởng
đến tiêu chảy ở heo con. Trƣờng hợp heo thiếu Clo trong khẩu phần sẽ làm giảm sự
phân tiết HCl trong dạ dày, điều này tạo điều kiện dễ dàng cho vi khuẩn đƣờng ruột
phát triển, đồng thời làm giảm khả năng tiêu hóa protid dẫn đến tình trạng rối loạn
tiêu hóa gây tiêu chảy ở heo con. Nếu thiếu sắt heo con bị giảm tăng trọng, dễ bị
bần huyết làm giảm sức đề kháng và dễ bị nhiễm bệnh tiêu chảy.
Heo con theo mẹ tiếp nhận thức ăn tinh thƣờng bị rối loạn đƣờng ruột do sự
thay đổi về tính chất lý hóa học của thức ăn khác nhiều so với sữa mẹ, nên phải bổ
sung thức ăn hỗn hợp cho heo con bù đấp sự thiếu hụt dinh dƣỡng từ nguồn sữa mẹ.
Song việt cung cấp thức ăn hỗn hợp không tốt gây hiện tƣợng phù nề, rối loạn
đƣờng tiêu hóa dẫn đến tiêu chảy hàng ngày ở heo con (Trƣơng Lăng, 2007).
Bên cạnh đó nhu cầu nƣớc uống của heo là rất cao, do tốc độ sinh trƣởng của
heo con nhanh chóng đòi hỏi có đủ nƣớc để thực hiện trao đổi với mô bào, đồng
thời hoà tan lƣợng lipit dƣ thừa. Do đó nếu cung cấp nƣớc không đầy đủ dẫn dến
việc heo con uống nƣớc bẩn trên nền chuồng gây ra bệnh tiêu chảy cho heo con do
nƣớc bị nhiễm trùng (Phùng Thị Văn, 2004).
Ngoài ra, tiêu chảy còn do stress trong giai đoạn mọc răng sữa. Ở thời điểm
16-17 ngày tuổi và 23-25 ngày tuổi ứng với thời gian mọc răng sữa tiền hàm số 3
hàm dƣới và tiền hàm số 4 hàm trên, khi nƣớu bị nứt, răng nhú lên chừng 1/3 mm,
heo con có triệu chứng tiêu chảy, phân có thể màu vàng hoặc trắng ngà (Võ Văn
ctv, 1999).
Đặc biệt trong trƣờng hợp heo nái thiếu canxi trong khẩu phần dẫn đến thiếu
canxi trong sữa từ đó sữa khó tiêu hóa. Do lƣợng canxi trong sữa giúp tạo hydro
canxi, canxinat. Chất này tác dụng với axit lactic cho ra axit canxi kết tủa và lactat
canxi, dễ bị enzyme proteolytic tác kích phân cắt nhanh axit amin (Võ Văn Ninh,
2001).
Ngoài vấn đề dinh dƣỡng, một số bệnh hậu sản ở heo nái nhƣ: viêm vú, viêm
tử cung, sốt cao, làm thay đổi chất lƣợng của sữa gây tiêu chảy cho heo con.
c) Do điều kiện chăm sóc nuôi dƣỡng
Tình trạng sức khoẻ và chế độ chăm sóc, nuôi dƣỡng heo mẹ ảnh hƣởng đến
dinh dƣỡng bào thai và tích luỹ chất dinh dƣỡng để tạo ra sữa trong giai đoạn cuối.
Việc nuôi dƣỡng heo nái chửa kỳ cuối rất quan trọng, nó quyết định trọng lƣợng sơ
sinh của heo con - một trong những chỉ tiêu để nâng cao năng suất của đàn nái sinh
sản, đồng thời nói lên sức khoẻ của heo con sơ sinh. 12
Các chất dinh dƣỡng cung cấp cho heo mẹ, ngoài việc đáp ứng nhu cầu năng
lƣợng và protein còn cung cấp các vitamin, khoáng, đặc biệt là protein tạo kháng
thể chống lại các vi khuẩn có hại.
Heo con khi sinh không ngừng sử dụng protein để xây dựng các mô bào mới
trong quá trình phát triển, đồng thời khôi phục và tu bổ lại tế bào cũ. Vì vậy, nếu
khẩu phần ăn của heo mẹ không đủ protein, thiếu khoáng đa lƣợng, vi lƣợng, dẫn
đến thiếu dinh dƣỡng, lƣợng sữa giảm, chất lƣợng sữa giảm, ảnh hƣởng đến sức
khoẻ của heo con.
Thân nhiệt của heo mới sinh ra là 38,9
o
C-39,1
o
lạnh, yếu sức sẽ bộc phát bệnh tiêu chảy (Võ Văn Ninh, 2001).
Bên cạnh đó, heo còn phụ thuộc rất nhiều vào vấn đề chăm sóc nuôi dƣỡng, ăn
uống không đúng lúc, thay đổi chăm sóc đột ngột, vệ sinh trong chuồng kém, việc
không ổn định thời gian ăn, tất cả điều có thể gây ra bệnh cho heo con nhất là
bệnh tiêu chảy (Lê Minh Hoàng, 2002).
e) Do độc tố nấm mốc
Độc tố nấm mốc với hàm lƣợng cao có thể gây chết hàng loạt gia súc, với biểu
hiện là nhiễm độc đƣờng tiêu hoá, gây tiêu chảy dữ dội. Ngoài ra việc gây tiêu chảy
cho gia súc, độc tố nấm mốc còn gây độc trực tiếp cho ngƣời dùng thực phẩm bị 13
nhiễm nấm mốc hoặc gián tiếp từ những độc tố tồn dƣ trong thực phẩm.
2.3.1.2 Nguyên nhân truyền nhiễm
a) Do vi khuẩn
E. coli
Có nhiều loại vi trùng là nguyên nhân nguyên phát hoặc nguyên nhân kế phát
gây ra chứng tiêu chảy trên heo con nhƣ: Samonella, Proteus, Clostridium
Perfringens, Shigella ,… Đặc biệt quan trọng và phổ biến là E. coli với nhiều
chủng gây bệnh và chúng có sự thay đổi về thời gian và các vùng (Nguyễn Dƣơng
Bảo, 2000).
Loài này xuất hiện và sinh sống trong đƣờng ruột động vật chỉ vài giờ sau khi
sinh và tồn tại cho đến lúc chết. E. coli sống bình thƣờng trong đƣờng ruột của
ngƣời và động vật. Khi điều kiện nuôi dƣỡng, khẩu phần thức ăn, vệ sinh thú y kém,
sức chống đỡ bệnh tật của con vật kém thì E. coli trở nên cƣờng độc và có khả năng
gây bệnh.
Lê Văn Năm và ctv (1999) cho rằng E. coli thuộc họ vi khuẩn đƣờng ruột
Entero - bacteriaceaae, nhóm Escherichae, loài Escherichia. E. coli là trực khuẩn
đa hình không bắt màu (gram âm) không tạo thành nha bào, phần lớn là di động, có
heo là: Salmonella Cholerae suis và Salmonella Typhimurium Suis, các chủng còn 14
lại thƣờng xuyên có mặt trong ruột của gia súc khỏe. Nhƣng khi sức đề kháng của
cơ thể thay đổi, hoạt động tiêu hóa bị rối loạn thì chúng phát triển mạnh và gây ra
tiêu chảy. Đối với heo con theo mẹ chúng thƣờng xuyên gây bệnh ở dạng rối loạn
tiêu hóa, gây tiêu chảy do tiết nội độc tố làm viêm loét ruột (Lê Văn Năm và ctv,
1999).
Shigella
Shigella gây bệnh tiêu chảy ở heo con theo mẹ và heo cai sữa. Vi trùng đƣợc
bài xuất ra môi trƣờng theo phân, các chủng thƣờng gây bệnh là: Shigella dysentery
và Shigella flexmitia. Chúng xâm nhập vào đƣờng tiêu hóa, sinh sản và tiết độc tố
gây bệnh tiêu chảy.
Clostridium perfringens
Đào Trọng Đạt và ctv (1996) cho rằng Clostridium Perfringens đƣợc phân
thành 6 serotype A, B, C, D, E, F. Có 3 loài C. perfringens A, B và C là mầm gây
bệnh đƣờng ruột quan trọng đối với heo. C. perfringens type C là vi khuẩn gram
dƣơng, tạo nha bào, vi khuẩn yếm khí không di động, có kích thƣớc 1-1,5
x 4-
8
. Chúng tạo thành bào tử có hình trứng cân xứng hoặc lệch tâm. Vi khuẩn này
sản sinh độc tố phần lớn là α và β, chủ yếu độc tố β gây chết, gây hoại tử là nhân tố
quan trọng nhất trong sinh bệnh học của bệnh này.
Vi khuẩn gây bệnh viêm ruột hoại tử ác tính có biểu hiện lâm sàng trầm trọng
về tiêu chảy ra máu có tỷ lệ tử vong cao (59%). Hầu hết các trƣờng hợp đều xảy ra
ở heo sơ sinh.