TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
ĐẶNG THỊ CÚC
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH TIÊU CHẢY
Ở HEO CON THEO MẸ VÀ HIỆU QUẢ
MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ TẠI TRẠI
HEO HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH THÚ Y
Cần Thơ-2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH THÚ Y
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH TIÊU CHẢY
HEO CON THEO MẸ VÀ HIỆU QUẢ
MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ TẠI TRẠI HEO
HUYỆN CHÂU THÀNH-TỈNH LONG AN
Giáo viên hướng dẫn
ThS. Bùi Thị Lê Minh
Sinh viên thực hiện
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu, kết
quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kì công trình luận văn nào trước đây.
Tác giả luận văn
Đặng Thị Cúc
ii
LỜI CẢM ƠN
Kính dâng cha mẹ!
Để hoàn thành tốt khóa tốt nghiệp này con xin gởi lời cảm ơn sâu sắc tới
cha, mẹ người đã cho con có được kết quả như hôm nay!
Xin chân thành cảm ơn
Tôi xin chân thành biết ơn sâu sắc đến các Thầy, Cô trong bộ môn Thú Y
Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ đã tận
tình dạy dỗ và truyền đạt những kiến thức cho tôi trong suốt thời gian học tập
tại trường.
Xin chân thành ghi ơn
Lòng biết ơn chân thành, sâu sắc đến Cô Bùi Thị Lê Minh-người đã tận
tình hướng dẫn và chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành luận
văn tốt nghiệp này.
Xin chân thành nhớ ơn
Tôi xin gởi lời cảm ơn đến Chú Út cùng các anh chị em ở trại đã giúp đỡ
tôi trong suốt thời gian thực tập.
Tôi xin chân thành cảm ơn Thầy Trần Ngọc Bích người Thầy, người cố
vấn học tập đã hết lòng dạy dỗ, giúp đỡ tôi.
Xin cảm ơn bạn bè lớp liên thông Thú Y K37 đã giúp đỡ tôi trong thời
2.2.5.3 Sự tiêu hóa ở ruột ................................................................................. 7
2.3 Nguyên nhân gây tiêu chảy........................................................................ 8
2.3.1 Nguyên nhân không truyền nhiễm .......................................................... 8
2.3.1.1 Yếu tố ngoại cảnh ................................................................................ 8
2.3.1.2 Do chăm sóc nuôi dưỡng ..................................................................... 8
2.3.1.3 Do heo mẹ ............................................................................................ 9
2.3.1.4 Do heo con ........................................................................................... 9
2.3.2 Nguyên nhân truyền nhiễm ..................................................................... 10
2.3.2.1 Tiêu chảy do E.coli .............................................................................. 10
2.3.2.2 Tiêu chảy do Salmonella ..................................................................... 11
2.3.2.3 Tiêu chảy do Clostridium perfringens ................................................. 12
2.3.2.4 Tiêu chảy do Rotavirus ........................................................................ 13
2.3.2.5 Tiêu chảy do TGE (Transmissible Gastroenteritis) ............................. 13
iv
2.3.2.6 Dịch tiêu chảy cấp PED ....................................................................... 14
2.3.2.7 Tiêu chảy do virus giả dại .................................................................... 14
2.3.3 Tiêu chảy do ký sinh trùng ..................................................................... 15
2.4 Cơ chế sinh bệnh ........................................................................................ 16
2.5 Một số loại thuốc sử dụng điều trị tiêu chảy heo con tại trại chăn nuôi heo
huyện Châu Thành, tỉnh Long An ................................................................... 18
2.5.1 Thuốc Metril Oral® ................................................................................. 18
2.5.2 Thuốc Bio-Genta 10% ............................................................................ 18
2.6 Tổng quan về trại ....................................................................................... 19
2.6.1 Vị trí địa lý .............................................................................................. 19
2.6.2 Quá trình hình thành và phát triển .......................................................... 19
2.6.3.1 Qui trình chăm sóc và nuôi dưỡng heo nái đẻ và heo con theo mẹ ..... 20
2.6.3.2 Qui trình tiêm phòng ............................................................................ 21
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .......... 22
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Khảo sát hiệu quả điều trị tiêu chảy trên heo con theo mẹ .............. 23
Bảng 4.1 Triệu chứng lâm sàng của heo con bị tiêu chảy ............................... 25
Bảng 4.2 Tỷ lệ tiêu chảy heo con theo mẹ ....................................................... 26
Bảng 4.3 Tỷ lệ heo con tiêu chảy theo lứa đẻ .................................................. 27
Bảng 4.4 Tỷ lệ tiêu chảy theo mật độ nuôi ...................................................... 28
Bảng 4.5 Tỷ lệ hao hụt và tỷ lệ còi .................................................................. 30
Bảng 4.6 Hiệu quả điều trị tiêu chảy heo con .................................................. 31
vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ctv: cộng tác viên
ETC: Enterotoxigenic Colibacilli
ETEC: Enterotoxigenic Escherichia coli
LT: heat-stable toxin
ST: heat-labile toxin
PED: Porcine epidemic diarhiea
TGE: Transmissible gastroenteritis
IgA: Immunoglobulin A
IgG: Immunoglobulin G
viii
TÓM LƯỢC
Kết quả khảo sát tình hình tiêu chảy trên 32 đàn heo với tổng số 328 heo
con và một số phát đồ điều trị tiêu chảy trên heo con chúng tôi thu được kết
quả sau:
Xuất phát từ những vấn đề trên đề tài “ Khảo sát tình hình tiêu chảy
heo con theo mẹ và hiệu quả một số phác đồ điều trị tại trại heo huyện
Châu Thành, tỉnh Long An” được thực hiện với mục tiêu:
- Khảo sát tình hình tiêu chảy heo con theo mẹ tại trại chăn nuôi heo
huyện Châu Thành, tỉnh Long An.
- Xác định hiệu quả điều trị tiêu chảy ở heo con khi sử dụng thuốc Metril
Oral và thuốc Bio-Genta 10%.
®
1
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BỆNH TIÊU CHẢY TRONG VÀ
NGOÀI NƯỚC
2.1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Theo Hùng-Cao (1962), bệnh phân trắng heo con gây thiệt hại nghiêm
trọng cho các cơ sở chăn nuôi heo sinh sản ở Việt Bắc với tỷ lệ bệnh từ 25100% và tỷ lệ chết 60% (Trích dẫn Phạm Sỹ Lăng và ctv., 2004).
Nguyễn Văn Vượng (1963), ở trường Trung cấp Nông Lâm Trung Ương
đã phân lập được hai loại trực khuẩn gây bệnh tiêu chảy heo con là Coli
O111B4 và O125B5 mà tác giả cho là nguyên nhân gây bệnh (Trích dẫn Phạm Sỹ
Lăng và ctv., 2004).
Theo Phan Địch Lân (1975), khi điều tra tình hình nhiễm giun sán ở
nông trường An Khánh, trại chăn nuôi Thụy Phương, trại chăn nuôi Văn Điển,
hợp tác xã Tiền Phong, hợp tác xã Đông Mỹ đã nhận xét rằng ngày tuổi bình
quân phát hiện lần đầu tiên có trứng giun lươn trong phân lợn nội là 17 ngày.
Phạm Khắc Hiếu và Ngọc Anh (1977), đã nhận xét những kháng sinh
đặc hiệu để điều trị bệnh tiêu chảy do E.coli là Chloramphenicol,
Nitrofuratein, Neomycin, còn Tetracyclin, Streptomycin, Polymicin B có hoạt
tính kháng sinh thấp đối với các chủng E.coli gây bệnh ở nước ta (Trích dẫn
thức trại nhiễm với tỷ lệ 54,2%. Trong đó heo theo mẹ nhiễm với tỷ lệ
65,88%, heo cai sữa là 74,04%, heo thịt là 52,91%, heo nái là 58,92% (trích
dẫn Hàng Phước Đức, 2011).
Theo Đặng Xuân Bình và Đỗ Văn Trung (2008), các chủng E. coli phân
lập có khả năng sản sinh độc tố đường ruột: độc tố chịu nhiệt (heat-stable
toxin-ST), chiếm 46,8%, độc tố không chịu nhiệt (heat-labile toxin-LT), chiếm
37,5%; sản sinh cả hai loại độc tố (ST+LT), chiếm 15,6% (trích dẫn Hàng
Phước Đức, 2011).
Lưu Hữu Mãnh (2009), cho rằng bệnh giả dại là một bệnh truyền nhiễm
cấp tính thường gây chết đối với nhiều loài thú nuôi và thú hoang dã. Ở heo
con, bệnh thường trải qua một cách quá cấp tính dẫn đến tử vong.
Phan Thị Hồng Gấm (2012) và Lê Thị Bích Hạnh (2012), khi khảo sát
bệnh tiêu chảy trên heo con theo mẹ tại trại chăn nuôi huyện Mỏ Cày Nam,
tỉnh Bến Tre và trại chăn nuôi huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long có tỷ lệ bệnh
lần lượt là 37,83% và 31,15%.
Nguyễn Tất Toàn và Đỗ Tiến Duy (2013), khảo sát các ổ dịch tiêu chảy
cấp trên heo con theo mẹ tại một số tỉnh phía Nam kết quả cho thấy tỷ lệ bệnh
và tỷ lệ chết cao tương ứng là 93,94% và 81,67%.
2.1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Soulsby (1971), cho rằng loài Eimeria debliecli là loài gây bệnh quan
trọng ở heo, nếu heo bị nhiễm ở cường độ 45.000 noãn nang/gram phân thì nó
biểu hiện triệu chứng lâm sàng: tiêu chảy, gầy mòn, suy nhược nặng và có thể
chết (trích dẫn Hàng Phước Đức, 2011).
Theo Alexander (1994), trong vài giờ đầu sau khi sinh vi khuẩn E. coli
gây bệnh tiêu chảy heo con rất nghiêm trọng là do sự nhân mật số lên một
cách nhanh chóng trong hệ thống tiêu hoá heo con, chủng E. coli này là ETEC
có thể bám dính dọc theo tế bào biểu mô, nhân mật số, sản sinh độc tố ruột kết
quả gây tiêu chảy. Hàng rào phòng vệ của heo sơ sinh là kháng huyết thanh
IgA có trong sữa đầu và sữa của heo mẹ. Nếu do nguyên nhân nào đó làm đình
trệ việc đưa sữa đầu vào hoặc hàm lượng IgA trong ruột quá thấp sẽ tạo cơ hội
Để điều chỉnh thân nhiệt trong cơ thể heo con xảy ra quá trình oxy hóa
mô bào mỡ. Mức độ phát triển của mô bào mỡ của từng cá thể, từng loại gia
súc khác nhau sẽ gây ảnh hưởng khác nhau lên khả năng điều chỉnh thân nhiệt
của heo con (Đào Trọng Đạt và ctv., 1996).
Đối với heo con, không đủ lông cũng như không có lớp mỡ bảo vệ dưới
da (Trương Lăng, 2000). Lượng mỡ và glycogen dự trữ trong cơ thể thấp nên
khả năng cung cấp năng lượng chống lạnh bị hạn chế (Vũ Đình Tôn và Trần
Thị Phận, 2005).
Trong mấy ngày đầu sau sinh, ngay khi nhiệt độ không khí bên ngoài 1525 C, nhiệt độ trực tràng của heo con có thể giảm 40C. Nếu nhiệt độ bên ngoài
15-200C, phải mất 2 ngày nhiệt độ ở trực tràng mới lên đến mức bình thường
(nếu heo ăn và bú đầy đủ). Nếu nhiệt độ ở bên ngoài 100C thì phải mất 10
ngày (Trương Lăng, 2000).
0
Nói chung khả năng điều tiết thân nhiệt của heo con trong những ngày
đầu rất kém, chịu ảnh hưởng rất lớn của môi trường. Khả năng điều tiết thân
nhiệt của heo con phụ thuộc nhiều vào tuổi hơn là khối lượng, khả năng điều
tiết yếu cho đến khi heo con được 9 ngày tuổi và từ 20 ngày tuổi trở đi khả
năng điều tiết nhiệt tốt hơn (Vũ Đình Tôn và Trần Thị Phận, 2005).
2.2.2 Đặc điểm thích ứng
Ở trong bụng mẹ việc cung cấp O2 và thải khí CO2 của heo đều phải qua
tử cung. Sau khi sinh, cơ thể heo con phải chuyển ngay hệ hô hấp phụ thuộc
mẹ sang hệ hô hấp độc lập. Sự giảm O2 trong các mô bào khi sinh và nhất là
khi cắt rốn, sự tăng áp lực khí CO2, chứng axidoz do tiêu hóa glycogen yếm
4
khí đã kích thích trung tâm hô hấp, buộc heo con phải hô hấp bằng phổi. Hệ
thống tuần hoàn của heo con cũng chuyển từ hệ tuần hoàn phụ thuộc vào tử
cung sang hệ tuần hoàn nhờ tim và phổi (Đào Trọng Đạt và ctv., 1996).
Hàm lượng protein trong sữa heo mẹ những ngày đầu mới đẻ là 12-16%,
trong đó γ-globulin chiếm đến 34-45%. γ-globulin tạo sức đề kháng cho nên
sữa đầu rất quan trọng cho khả năng miễn dịch của heo con trong 3 tuần tuổi
đầu (Lê Hồng Mận, 2006). Sự hấp thụ kháng thể xảy ra tối đa ở giai đoạn 4-12
giờ sau khi bú. Kháng thể có thể được phát hiện trong máu heo con vào 3 giờ
sau khi sinh. Nếu heo con bú đủ sữa và hấp thu tốt kháng thể, hiệu giá kháng
thể trong máu heo con gần bằng hiệu giá kháng thể trong máu heo mẹ ở 24 giờ
sau khi sinh (Trần Thị Dân, 2004).
5
Heo con bú sữa đầu chậm nhất là 2 giờ sau khi đẻ ra để chống lạnh và
tăng cường kháng thể chống đỡ bệnh tật và miễn dịch (Trương Lăng, 2000).
Nên cho tất cả heo con đều được bú sữa đầu (Colostrum) vì trong đó chứa
nhiều γ-globulin (protein hấp thu trực tiếp)-thực hiện chức năng miễn dịch cho
heo sơ sinh vì trong thời gian mang thai, nhau thai không chuyển được kháng
thể từ mẹ sang thai (Lê Thị Mến, 2010 và Nguyễn Thanh Sơn và Nguyễn Quế
Côi, 2006).
Quá trình hấp thụ được các kháng thể này tốt nhất là trong vòng 5-6 giờ
đầu tiên sau khi đẻ bởi vì: nồng độ các kháng thể trong sữa đầu cao nhất vào
lúc 4 giờ sau đẻ, đến 6-8 giờ sau đẻ giảm đi còn 50% và sau 12 giờ giảm đi
còn 30% và sang ngày thứ hai thì còn rất thấp khoảng 10% so với thời điểm
cao nhất. Heo con hấp thu các đại phân tử immunoglobulin trong sữa đầu vào
máu ở dạng nguyên vẹn (tức không bị tiêu hóa) qua niêm mạc thành ruột. Sau
48 giờ thành ruột không còn khả năng hấp thu các phân tử ở dạng nguyên nữa
(hiện tượng đóng cửa ruột) để tránh cho các mầm bệnh xâm nhập vào. Nếu
heo con không được bú sữa đầu sớm (ít nhất trong vòng 24 giờ đầu tiên) thì
quá trình đóng sẽ bị chậm lại và như vậy sẽ làm tăng nguy cơ nhiễm mầm
bệnh qua đường ruột (Nguyễn Thanh Sơn và Nguyễn Quế Côi, 2006).
7,6-8,1. Tùy lượng thức ăn mà lượng nước bọt tiết ra khác nhau, thức ăn có
phản ứng acid yếu và khô thì nước bọt tiết ra mạnh, thức ăn lỏng thì giảm hoặc
ngưng tiết dịch. Vì vậy, cần lưu ý không nên cho heo con ăn thức ăn lỏng
(Trương Lăng, 2003).Tuy nhiên, vai trò của amilase nước bọt đối với quá trình
tiêu hóa tinh bột rất hạn chế là do thức ăn tồn tại ngắn trong miệng.
Mantase và saccharase cũng tương tự như amilase, những tuần đầu sau
khi sinh hàm lượng rất thấp và sau đó tăng dần đạt mức cao ở 5-6 tuần tuổi
(Nguyễn Thiện và Võ Trọng Hốt, 2009).
2.2.5.2 Sự tiêu hóa ở dạ dày
Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2004) và Lê Hồng Mận (2006), ở
heo con bộ máy tiêu hóa phát triển chậm và chưa hoàn chỉnh trong khi sức
sinh trưởng phát triển cao.
Heo con mới sinh ra bộ máy tiêu hóa chưa phát triển hòan thiện. Hệ
enzym chưa phát triển đầy đủ nên heo con chỉ có thể hấp thu glucose và tiêu
hóa được lactose ngay sau khi sinh ra. Sau 2 tuần heo mới tiêu hóa saccharose
và sau 3 tuần mới tiêu hóa tinh bột (Lê Thị Mến, 2010).
Men pepsin có ngay từ khi sơ sinh và tăng dần đến 5-6 tuần tuổi, song
không có chức năng tiêu hóa protein bởi vì ở dạng pepsinogen. Pesinogen cần
HCl tự do để hoạt hóa thành dạng hoạt động (Nguyễn Thiện và Võ Trọng Hốt,
2009).
Một đặc điểm cần lưu ý, ở heo con có một giai đoạn không có HCl trong
dạ dày. Giai đoạn này được coi như một tình trạng thích ứng tự nhiên của heo
con. Nhờ vậy, mới tạo được khả năng thẩm thấu các kháng thể có trong sữa
đầu của heo mẹ. Trong giai đoạn này, dịch vị không có khả năng phân giải
protein mà chỉ có hoạt tính làm vón sữa đầu và sữa (Võ Văn Ninh, 2001).
Hai tuần đầu sau khi sinh, chất toan (HCl) tự do chưa có trong dạ dày
nên tính kháng khuẩn ở dạ dày chưa có heo con dễ bị nhiễm bệnh. Chất toan
tự do bắt đầu có sau 25 ngày tuổi và tính kháng khuẩn chỉ thể hiện sau 40-45
ngày tuổi. Dịch tiêu hóa trong dạ dày heo con cũng khác với heo trưởng thành.
Ở heo lớn dịch vị tiết nhiều vào ban ngày tới 62%, còn ban đêm chỉ 38%.
Do thời tiết thay đổi đột ngột như đang nắng chuyển mưa, hay nhiệt độ
thấp mà ẩm độ cao làm cơ thể heo con mất cân bằng giữa sản nhiệt và truyền
nhiệt. Do đó, heo sẽ tiêu hao năng lượng của cơ thể để chống lạnh, lượng
đường huyết trong cơ thể được điều động ra để chống lạnh. Nếu lạnh kéo dài,
lượng đường huyết sẽ giảm xuống, sự giảm đường huyết đột ngột sẽ gây rối
loạn chức năng tiết dịch và nhu động dạ dày-ruột dẫn đến rối loạn tiêu hóa làm
cho heo con tiêu chảy (Nguyễn Xuân Bình, 2000).
Heo con rất dễ bị môi trường bên ngoài tác động, vì vậy phải đặc biệt
chú ý tạo điều kiện thích hợp trong chuồng sinh sản để chúng khỏi bị ảnh
hưởng bởi thay đổi nhiệt độ đột ngột khi mới sinh (Đào Trọng Đạt và ctv.,
1996). Khi thời tiết thay đổi đột ngột ngày nóng bức đêm lạnh nhanh heo con
dễ bị lạnh bụng dẫn đến heo con dễ bị tiêu chảy (Võ Văn Ninh, 2001).
2.3.1.2 Do chăm sóc nuôi dưỡng
Do heo con không được tiêm sắt đầy đủ. Mỗi ngày heo con cần có 7mg
sắt để tạo hồng cầu, nhưng sữa mẹ chỉ cung cấp được 1mg và vậy nếu không
bổ sung sắt heo con sẽ thiếu máu và dễ nhiễm bệnh (Đào Trọng Đạt và ctv.,
1996). Trữ lượng sắt của heo con từ bào thai chưa đủ, khi ra ngoài lại không
được sữa mẹ cung cấp, thiếu cả coban, B12 nên sinh bần huyết, cơ thể suy yếu
không hấp thụ được đầy đủ chất dinh dưỡng, sinh không tiêu, tiêu chảy (Phạm
Sỹ Lăng và ctv., 2004).
Do khẩu phần thức ăn không cân đối, thức ăn quá giàu đạm và chất béo
làm cho bộ máy tiêu hóa heo con chưa thích ứng kịp dẫn đến rối loạn tiêu hóa
(Hà Dung, 2005).
Do giai đoạn trước khi sinh cho heo mẹ ăn nhiều thức ăn tinh, dinh
dưỡng cao sau đẻ vài ngày lượng sữa tiết nhiều, con không bú hết. Lượng sữa
heo của mẹ dư thừa so với yêu cầu của bầy con, lượng sữa tồn đọng ở các bầu
8
Xuân Bình, 2000).
2.3.1.4 Do heo con
Khi heo con bú sữa đầu không kịp thời, thành phần hệ vi sinh vật đường
ruột thay đổi rất lớn các vi sinh vật có hại sinh sản tự do, chúng ức chế sự phát
triển của vi sinh vật có lợi cho đường ruột, trong đó có lactobacillus bị ức chế
làm cho bệnh đường ruột càng trở nên trầm trọng hơn.
Một số heo con nhận được sữa đầu nhưng do hệ tiêu hóa hấp thu kém,
sức chống đỡ thụ động thì bệnh do E.coli có thể xảy ra vào ngày thứ 10 hoặc
21 ngày tuổi (Đào Trọng Đạt và ctv., 1996).
9
Cơ năng tiêu hóa của heo con yếu, dễ bị bệnh không tiêu. Ngoài ra, do hệ
thần kinh hoạt động chưa đầy đủ, sức chống đỡ cơ thể kém (Phạm Sỹ Lăng và
ctv., 2004).
Heo con dưới 7 ngày tuổi chỉ mới tiêu hóa tốt gluocose và lactose. Từ 710 ngày tuổi tiêu hóa được đường fructose và saccharose, trước đó heo ăn các
loại đường này sẽ bị tiêu chảy và có thể chết (Lê Hồng Mận, 2006).
Khi heo con mới biết ăn, thức ăn không phù hợp với hệ tiêu hóa hoặc
chứa nhiều độc tố. Chất độc này dễ gây tiêu chảy ở heo con (Võ Văn Ninh,
2001).
Heo con bú mẹ, khi cho ăn thức ăn tinh hệ tiêu hóa không thích ứng kịp
sẽ làm giảm khả năng tiêu hóa, thức ăn không tiêu hóa hết bị vi sinh vật ruột
già lên men gây giảm hấp thu nước ở ruột già hậu quả là heo bị tiêu chảy
(Trần Thị Dân, 2004)
Heo con đến 2 tuần tuổi trong dạ dày vẫn chưa có HCl tự do cho nên
chưa có tính kháng khuẩn bảo vệ đường tiêu hóa hay bị bệnh đường ruột nhất
là bệnh tiêu chảy (Lê Hồng Mận, 2006).
Phạm Khắc Hiếu (1979) và Sử An Ninh và ctv. (1981), nhận xét nguồn
gốc phát sinh bệnh có liên quan chặt chẽ đến phản ứng thích nghi của cơ thể
2. Chứng tiêu chảy ở heo con dưới 3 tuần tuổi.
Heo con có thể tiêu chảy nhẹ hay nặng, phân có màu trắng, vàng, có đốm
nâu, có khi toàn nước trong, phân dính hậu môn, hậu môn ướt đỏ, đuôi xụ,
ướt, mắt thụt sâu, da tái xanh (Hồ Thị Việt Thu, 2006).
Heo con có thể bị bệnh trong vòng 12 giờ sau khi sinh và có thể gây chết
toàn đàn do nhiễm trùng huyết cấp tính trong vòng 48 giờ. Nhưng cũng có con
chuyển sang thể bệnh khác kèm theo chứng tiêu chảy (Đào Trọng Đạt và ctv.,
1996).
Quan sát xác heo chết thì thấy heo con bị mất nước nặng. Trong dạ dày
có chứa sữa chưa tiêu hóa hoặc thức ăn chưa tiêu hóa hết, dạ dày và ruột đều
giãn nở, trên thành ruột có hiện tượng sung huyết. Trong trường hợp viêm dạ
dày ruột xuất huyết, bệnh tích đặc trưng là sự sung huyết rõ rệt ở thành ruột
non và dạ dày, chất chứa trong ruột có màu như máu.
Bệnh tích vi thể thường thấy là E.coli bám dính vào tế bào biểu bỉ của
màng niêm mạc ruột, một số lông nhung bị teo.
Yếu tố quan trọng nhất để phòng bệnh tiêu chảy do E.coli là duy trì cho
heo con môi trường thích hợp (32-340C đối với heo con chưa cai sữa và 28300C cho heo con vừa mới cai sữa). Không để chuồng bị lạnh và bị gió lùa vì
heo con rất dễ bị mất nhiệt do bề mặt da quá rộng so với thể trọng.
Việc bổ sung acid lactic vào nước uống có thể làm giảm độ pH trong dạ
dày và sẽ ức chế sự nhân lên nhanh chóng vi khuẩn E.coli gây bệnh.
Heo con bị bệnh tiêu chảy thường dẫn đến tình trạng rối loạn chất điện
giải, do đó cho không cho heo con ăn sữa trong vài ngày đầu.
Dùng các loại kháng sinh như: ampicillin, gentamycin, neomycin (Đào
Trọng Đạt và ctv., 1996).
Những kháng sinh có tác dụng tốt đối với E.coli là Nitrofurantein,
Neomycin (Phạm Sỹ Lăng và ctv., 2004).
2.3.2.2 Tiêu chảy do Salmonella
Salmonella là vi khuẩn đường ruột, gram âm, có các đặc tính: không lên
men đường lactose, không sinh indol, thường lên men sinh hơi với đường
glucose, sinh H2S (Nguyễn Như Thanh và ctv., 1997).
đầu tiên là phá hoại lớp nhung mao ruột và màng ruột, kèm theo là hiện tượng
hoại tử niêm mạc ruột và xuất huyết trầm trọng do hệ mao mạch ruột bị phá vỡ
(Phạm Sỹ Lăng và ctv., 2007).
Clostridium perfringens typ C gây bệnh viêm ruột hoại tử ác tính chủ
yếu là heo con dưới một tuần tuổi, heo con mắc bệnh có tỷ lệ tử vong cao.
Clostridium perfringens là vi khuẩn gram dương, tạo nha bào, là vi khuẩn yếm
khí không di động.
Bệnh thường thấy ở heo con trong vòng 1 tuần tuổi và nhất là vào 3 ngày
đầu tiên sau khi sinh, thường mắc bệnh ở thể quá cấp tính, thể cấp tính, thể cận
cấp tính và thể mãn tính.
- Thể quá cấp tính
Heo con tiêu chảy ra máu, yếu ớt, không hoạt động, có thể bị mẹ đè chết.
Có trường hợp heo con run rẩy, yếu ớt, chết mà chưa có hiện tượng tiêu chảy.
- Thể cấp tính
Heo con bị bệnh trong vòng 2 ngày và chết vào ngày thứ 3. Phân màu
nâu đỏ có lẫn những mảng ruột hoại tử màu xám.
- Thể cận cấp tính
Phân xốp có màu vàng, sau đó trở nên loãng và chứa những mẫu hoại tử
màu xám, thường chết vào 5-7 ngày tuổi.
- Thể mãn tính: Phân có màu xám, nhầy (Đào Trọng Đạt và ctv., 1996).
12
2.3.2.4 Tiêu chảy do Rotavirus
Bệnh do Rotavirus là một bệnh ở ruột non thường thấy ở heo. Heo mọi
lứa tuổi đều có thể mắc bệnh song bệnh thường thấy ở heo con theo mẹ và heo
cai sữa
Thường xảy ra trên heo con theo mẹ (đỉnh cao lúc 3 tuần tuổi) hay còn
gọi là hội chứng tiêu chảy sữa, tiêu chảy trắng hoặc tiêu chảy 3 tuần (Nguyễn
Lúc đầu tiêu chảy nhẹ nhưng toàn là nước, thường là chảy ở chân sau và
nhỏ xuống từ đuôi, lớp da ở mông thường xuyên ướt và bẩn, mùi phân khó
chịu. Lúc tiêu chảy nhiều thì có màu vàng xám trông giống như vấy bùn trên
sàn chuồng. Phân thường chứa một ít cặn sữa, mắt trũng sâu, lông xù, heo con
13
khát nước. Heo con tiêu chảy kéo dài rồi chết trong vòng 2-5 ngày (Phạm Sỹ
Lăng và ctv., 2004 và Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân, 2000).
Dạ dày thường căng chướng trong chứa đầy sữa vón cục, niêm mạc sung
huyết. Ruột non căng phồng chứa đầy dịch, có nhiều bọt và những cục sữa vón
không tiêu. Thành ruột mỏng và trong suốt, lông nhung bị teo đi (Đào Trọng
Đạt và ctv., 1996).
Không có thuốc hiệu quả chống lại virus TGE. Phòng bệnh hiệu quả nhất
là dựa trên công tác vệ sinh (Phạm Sỹ Lăng và ctv., 2004).
2.3.2.6 Dịch tiêu chảy cấp PED (Porcine Epidemic Diarrhiea)
Dịch tiêu chảy cấp là bệnh truyền nhiễm lây lan rất nhanh, thiệt hại lớn
với đặc điểm gây ói mửa và tiêu chảy trên heo ở mọi lứa tuổi. Tỷ lệ bệnh và tỷ
lệ chết cao đến 100% ở heo con dưới 2 tuần tuổi.
Bệnh PED do virus thuộc nhóm Coronavirus gây ra ở 2 dạng bệnh:
- PED type 1 chỉ xảy ra trên heo cai sữa.
- PED type 2 xảy ra ở heo mọi lứa tuổi, đặc biệt ảnh hưởng nặng và rõ
rệt trên heo con theo mẹ (Trích dẫn Nguyễn Tất Toàn và Đỗ Tiến Duy, 2013).
Heo mọi lứa tuổi có thể bị bệnh nhưng nhạy cảm nhất là heo sơ sinh với
tỷ lệ bệnh và tỷ lệ chết có thể lên đến 100%.
Heo con theo mẹ bỏ bú, ói, tiêu chảy phân lỏng hơi vàng mùi hôi, heo
nằm thành đống, mình dính phân bê bết (Nguyễn Ngọc Hải, 2012).
Các bệnh tích thường gặp ở cơ quan tiêu hóa heo con là dạ dày căng
phồng, chứa sữa đông, thức ăn không tiêu hóa. Thành ruột non mỏng, phồng