1
Cộng sự : cs
Cystein : Cys
Colony Forming Unit (Đơn vị khuẩn lạc) : CFU
Dicanxi photphat : DCP
Đối chứng : ĐC
Đơn vị tính : ĐVT
Gam : g
Khẩu phần cơ sở : KPCS
Khối lượng : KL
Kilocalo : Kcal
Kilogam : kg
Landrace ×Yorkshine : LY
Lượng thức ăn tiêu thụ : FI
Methionine : Met
Năng lượng trao đổi/ME : NLTD/ME
Năng lượng tiêu hoá : DE
Pietrain × Duroc : PiDu
Protein : Pr
Số thứ tự : STT
Thí nghiệm : TN
Thức ăn : TA
Tiêu chuẩn Việt Nam : TCVN
Tiêu hoá : TH
Tiêu tốn : TT
Tiêu tốn thức ăn : TTTA
Tinh bột : TB
Unit international : UI
Vật chất khô : VCK
trung chủ yếu vào việc xác định vai trò gây bệnh của vi khuẩn E.coli gây bệnh
Coli dung huyết (bệnh phù đầu) và vai trò của vi khuẩn Salmonella trong
bệnh phó thương hàn ở lợn Từ đó cũng đưa ra nhiều biện pháp phòng trị
bệnh tiêu chảy cho lợn như (tiêm vacxin E.coli cho lợn nái chửa vào lúc 6
tuần và 2 tuần trước khi đẻ, tiêm Dextran- Fe cho lợn con vào 3- 7 ngày tuổi,
bổ sung kháng sinh vào thức ăn, tập cho lợn con ăn sớm vào 7- 10 ngày tuổi.
Hiện nay, đang tồn tại những quan điểm khác nhau về việc sử dụng
kháng sinh liều thấp như chất kích thích sinh trưởng trong thức ăn chăn nuôi
nhưng giảm tối đa tiến tới hoàn toàn không sử dụng kháng sinh đang là một
xu thế chung của thế giới. Theo báo cáo của uỷ ban sử dụng dược phẩm trong
4
4
5
thức ăn chăn nuôi trực thuộc Hội đồng nghiên cứu Quốc gia (NRS- Mỹ), thiệt
hại do lệnh cấm sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi có thể lên tới 2,5
tỷ USD mỗi năm (Donna U.Vogt. 1999) [47]. Bởi vậy, việc nghiên cứu tìm ra
các chất thay thế đang thực sự trở thành một nhu cầu cấp bách. Trong đó có
giải pháp sử dụng probiotic cho lợn con sau cai sữa được quan tâm nghiên
cứu nhiều do có những đặc điểm ưu việt: an toàn đối với vật nuôi, cải thiện
được các chức năng tiêu hoá, ức chế được vi khuẩn gây bệnh và tăng khả
năng miễn dịch ở gia súc, không để lại tồn dư kháng sinh và đảm bảo vệ sinh,
an toàn thực phẩm, (Jans, 2005) [56].
Xuất phát từ những cơ sở khoa học trên, việc nghiên cứu bổ sung một
số hỗn hợp vi khuẩn Probiotic cho lợn con giai đoạn sau cai sữa là rất quan
trọng. Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số
hỗn hợp vi khuẩn Probiotic đến tiêu hoá, sinh trưởng, phòng chống tiêu
chảy ở lợn con giai đoạn sau cai sữa từ 21- 56 ngày tuổi”.
.)/012034,-5
- Xác định được ảnh hưởng của một số hỗn hợp vi khuẩn probiotic đến khả
năng tiêu hoá vật chất khô, nitơ và tinh bột của lợn con giai đoạn sau cai sữa.
ABCD
(.()EFE:8;48<0
1.1.1. Đặc điểm sinh trưởng và phát dục của lợn con
Sinh trưởng là một quá trình sinh lý sinh hoá phức tạp, duy trì từ khi
phôi thai được hình thành đến khi thành thục về tính. Theo Dương Mạnh
Hùng (2007) [13] đã khái quát: sinh trưởng là quá trình tích luỹ các chất do
đồng hoá và dị hoá, là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, chiều ngang, khối
lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể của con vật trên cơ sở đặc tính di
truyền từ thế hệ trước. “Thực chất của sinh trưởng chính là sự tăng trưởng và
sự phân chia của các tế bào trong cơ thể”.
Cùng với quá trình sinh trưởng các tổ chức cơ thể luôn hoàn thiện chức
năng sinh lý của mình dẫn đến phát dục. Phát dục là một quá trình thay đổi về
chất lượng tức là sự thay đổi, tăng thêm và hoàn chỉnh các tính chất, chức
năng của các cơ quan, bộ phận trong cơ thể, nhờ vậy vật nuôi hoàn thiện được
các chức năng của cơ thể sống.
Lợn con trong giai đoạn bú sữa có khả năng sinh trưởng và phát dục
nhanh. Theo TS. Trần Văn Phùng và cs (2004) [26] cho biết: Tốc độ sinh
trưởng của lợn không đều qua các giai đoạn, sinh trưởng nhanh trong 21 ngày
đầu sau đó giảm. So với khối lượng sơ sinh thì sau 10 ngày tuổi khối lượng
lợn con tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp
5- 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7- 8 lần, lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần
và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12- 14 lần. Sở dĩ như vậy là do nhiều nguyên
nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng
Hemoglobin trong máu lợn con thấp. Do lợn có tốc độ sinh trưởng phát triển
nhanh nên khả năng tích luỹ các chất dinh dưỡng rất mạnh. Lợn con ở 21
ngày tuổi mỗi ngày có thể tích luỹ được 9- 14g protein/1kg khối lượng cơ thể.
Trong khi đó lợn trưởng thành tích luỹ được 0,3- 0,4 kg protein. Hơn nữa để
7
7
8
8
9
- Men pepsin: lợn con dưới 1 tháng tuổi, men pepsin trong dạ dày lợn
con chưa có khả năng tiêu hoá protein của thức ăn, vì lúc này dịch vị dạ dày
lợn con không có HCl tự do, lượng acid tiết ra rất ít và nhanh chóng liên kết
với dịch nhầy, gây ra hiện tượng thiếu acid hay còn gọi là “Hypoclohydric”.
Sau 3 tuần tuổi, lượng HCl tự do trong dịch vị mới tăng dần. Đây là một đặc
điểm quan trọng trong tiêu hoá dạ dày ở lợn con. Khi có HCl tự do sẽ kích
hoạt để men pepsinogen chuyển thành dạng pepsin hoạt động và men này mới
có khả năng tiêu hoá đầy đủ. Vì thiếu HCl tự do nên dịch vị không có tính sát
trùng, vi sinh vật xâm nhập vào dạ dày dễ sinh sôi nảy nở và phát triển gây
bệnh về đường tiêu hoá ở lợn con đặc biệt là bệnh lợn con phân trắng.
Có thể kích thích tế bào vách dạ dày lợn con tiết ra HCl tự do sớm hơn
bằng cách bổ sung thức ăn sớm cho lợn con. Nếu tập cho lợn con ăn sớm vào
lúc 5- 7 ngày tuổi thì HCl tự do có thể được tiết ra từ ngày tuổi thứ 14. Còn
trong dạ dày của loài ăn tạp, pepsin chỉ hoạt động tốt trong môi trường pH =
2,5- 3 với nồng độ HCl tự do từ 0,1- 0,5%.
-Men catepsin: Là men tiêu hoá protein trong sữa có tác dụng giống men
pepsin, thuỷ phân protein và các mạch peptit thành amino acid, hoạt động
thích hợp trong khoảng pH= 4- 5. Vì thích hợp với pH cao nên catepsin hoạt
động mạnh ở động vật non bú sữa khi mà HCl tự do hình thành chưa nhiều. Ở
động vật trưởng thành catepsin hầu như không hoạt động, khi vật nuôi chết
catepsin hoạt động phân giải protein dạ dày.
- Men chymosin (hay rennin) có hoạt tính mạnh trong 3 tuần đầu và sau
giảm dần. Men này có tác dụng làm ngưng đặc sữa, hoạt động tốt ở pH= 4- 5.
Dưới tác dụng của chymosin và Ca
++
, protein trong sữa là caseinogen ở dạng
hoà tan chuyển thành caseinatcalci (dạng đông vón), có thể lưu lâu trong dạ
dày tạo điều kiện cho pepsin hoạt động, phần nhũ thanh (dịch trong còn lại)
10
10
11
- Carboxipolipeptidase tác dụng phân giải peptid ở đầu có nhóm COO
-
tự do và tách amino acid ra khỏi phân tử peptid.
- Dipeptidase phân giải đipepti thành 2 amino acid.
- Protaminase phân giải protamin thành peptid và amino acid.
- Nuclease phân giải acid nucleic thành mono nucleotid.
* Nhóm men thuỷ phân glucid:
- Men Amylase và Mantase: Hai men này có trong nước bọt và trong
dịch tuỵ khi lợn con mới đẻ ra nhưng dưới 3 tuần hoạt tính còn thấp, do đó
khả năng tiêu hoá tinh bột còn kém, chỉ tiêu hoá được 50% lượng tinh bột ăn
vào. Đối với tinh bột sống, lợn con tiêu hoá càng kém. Sau 3 tuần tuổi,
enzyme amylase và mantase có hoạt tính mạnh nên khả năng tiêu hoá tinh bột
của lợn con tốt hơn. Amylase hoạt động tối ưu trong pH = 7,1 . Nó cắt liên kết
1 - 4α glucozit của cả tinh bột sống và chín cho ra maltose. Maltase phân giải
đường maltose thành glucose.
- Men Saccarase: Đối với lợn con dưới 2 tuần tuổi, men saccarase hoạt
tính còn thấp, nếu cho lợn con ăn đường saccarase thì rất dễ bị ỉa chảy.
- Men lipase: Hoạt động tối ưu ở pH= 6,8. Lipase cắt các liên kết este
giữa glycerol và acid béo,do đó phân giải glycerid đã được nhũ hoá bằng dịch
ruột để tạo ra mono glycerid, acid béo và glycerol.
- Men lactase: Có tác dụng tiêu hoá đường lactose trong sữa. Men này
có hoạt tính mạnh ngay từ khi lợn con sinh ra và tăng cao nhất ở tuần tuổi thứ
2, sau đó hoạt tính của men này giảm dần.
Qua nghiên cứu về quá trình phân tiết của men amylase, maltase và
protease, chúng ta thấy sự phân tiết và hoạt động của các men này tăng dần
theo sự tăng lên của ngày tuổi, men lipase tăng dần đến khi cai sữa sau đó
giảm dần. Riêng men lactase tăng cao nhất ở giai đoạn 2 tuần tuổi sau đó
khuẩn đường ruột và vi khuẩn gây thối như dịch mật, dịch vị và tác động đối
kháng của các vi khuẩn khác nhau.
12
12
13
* Hệ vi sinh vật ở khoang miệng
Ở khoang miệng có sự cảm nhiễm vi sinh vật từ các nguồn trên. Trong
nước bọt và dịch bài tiết của niêm mạc có men kháng khuẩn lisozyme có tác
dụng tiêu diệt một số vi sinh vật.
* Hệ vi sinh vật ở dạ dày
Trong dạ dày có một lượng HCl rất lớn (0,2%). Acid trong dịch vị dạ dày
có tác dụng ức chế với nhiều loại vi sinh vật, do vậy phần lớn vi sinh vật từ
thức ăn, nước uống đưa vào đều bị tiêu diệt. Số lượng vi sinh vật ở dạ dày rất ít do
tác dụng diệt khuẩn của acid dạ dày gồm các vi khuẩn lên men (Saccharomyces
minor, vidiumlactic) trực khuẩn lactic (Lactobacillus beljerincke ). Ngoài ra còn
có trực khuẩn phó thương hàn đi qua dạ dày xuống ruột.
* Hệ vi sinh vật của ruột non
Ruột non chiếm 2/3 đến 3/5 chiều dài ruột nhưng lượng vi khuẩn lại rất ít.
Khi dịch vị dạ dày vào ruột non vẫn còn tác dụng sát khuẩn. Trong ruột non
chủ yếu là E.coli, cầu khuẩn, trực khuẩn hiếu khí, yếm khí có nha bào,
Aerobacter aerogenes. Ở gia súc non có thêm Steptococcus lactic, trực khuẩn
lactic Lactobacterium bulgaricum, từ hồi tràng số lượng vi khuẩn bắt đầu
tăng lên.
* Hệ vi sinh vật của ruột già
Số lượng vi sinh vật ở ruột già tăng hơn nhiều so với ruột non do tác
dụng khử trùng của ruột đã không còn, mà các điều kiện về dinh dưỡng, độ
ẩm, nhiệt độ lại thuận lợi cho sự phát triển của vi sinh vật.
Hệ vi sinh vật chủ yếu là E.coli, cầu khuẩn, trực khuẩn có nha bào
entrococcus. Gia súc trưởng thành E.coli chiếm 75% trở lên. Trong ruột già
của động vật ngoài hệ vi sinh vật hoại sinh còn có hệ vi sinh vật gây bệnh
1mm được bao phủ bằng lớp tế bào biểu mô trụ. Trong nhung mao có mạng
lưới mao mạch và mạch huyết. Mỗi nhung mao lại được bao phủ bằng các vi
nhung mao làm diện tích hấp thu của ruột non tăng lên hàng trăm lần. Trên
toàn bộ ruột non có nhiều tuyến ruột hình ống gọi là hõm Lieberkin tiết ra
14
14
15
dịch ruột chứa men. Riêng ở tá tràng có tuyến brunner là dạng trung gian của
tuyến ở vùng hạ vị và tuyến ruột, chất tiết là dịch nhầy.
Theo Phạm Thị Hiền Lương, Phan Đình Thắm (2008) [18]: Vỏ lông
nhung có 3 loại tế bào:
+ Tế bào biểu mô: hình trụ, nhân bầu dục, trên mỗi tế bào biểu mô có
4000 - 5000 vi nhung, trên vi nhung còn có lưới Glycocalic.
+ Tế bào panet: chức năng chưa rõ thúc đẩy hoạt động tiêu hoá, hấp thu
qua màng.
- Ruột lông nhung (lõi): là một hệ thống mạng lưới gồm có ống dưỡng
chấp, động và tĩnh mạch. Hoạt động của lông nhung giống như một cái bơm
mà sợi cơ là lực tạo ra sức ép, khi bề mặt lông nhung căng phồng (coi như ta
đẩy pittong vào), tất cả các chất dinh dưỡng được thấm qua lỗ nhỏ của vi
nhung mao. Khi bề mặt lông nhung co lại (khi kéo pittong ra) thì tất cả các chất
dinh dưỡng được dồn về ống dưỡng chấp, động mạch, tĩnh mạch. Khi các chất
dinh dưỡng vào trong mạng lưới tất cả các dịch hấp thu có tính chất là lipit qua
ống dưỡng chấp, còn thức ăn protit và đường theo hệ thống mạch quản.
Trong giai đoạn sinh trưởng, hệ thống nhung mao ruột non phát triển rất
mạnh. Tuy nhiên, lợn con sau cai sữa thường rất hay bị tổn thương nhung
mao ở thành ruột non do ảnh hưởng của thức ăn, khi đó sẽ làm giảm khả năng
sản xuất men tiêu hoá ở ruột non của lợn con, giảm khả năng tiêu hoá và hấp
thụ thức ăn. Thức ăn không được hấp thụ sẽ chuyển xuống ruột già, làm tăng
sự phát triển của vi sinh vật có hại và làm tăng khả năng bùng phát vi khuẩn
E.coli, làm lợn con bị ỉa chảy.
Nhu cầu các chất dinh dưỡng tăng theo độ lớn của lợn.
* Nhu cầu về năng lượng
Nhu cầu về năng lượng đối với lợn thường được biểu thị bằng năng
lượng trao đổi (ME, kcalo/kg). Lợn con cần năng lượng trước tiên đáp ứng
nhu cầu của cơ thể, sau đó là cần năng lượng cho sinh trưởng. Ở giai đoạn bú
16
16
17
sữa, mức năng lượng cần bổ sung cho lợn con dựa vào lượng sữa của lợn mẹ
cung cấp được cho lợn con. Ở hai tuần tuổi đầu lợn con hầu như đã được cung
cấp đầy đủ năng lượng từ mẹ. Từ tuần thứ ba cần bổ sung thêm thức ăn đáp
ứng nhu cầu ngày càng tăng của lợn con, do lượng sữa của lợn mẹ ở 21 ngày
tuổi giảm dần. Giai đoạn lợn sau cai sữa, hàm lượng năng lượng trong thức ăn
cho lợn con khá cao. Theo Tiêu chuẩn VN - TCVN 1547 - 1994, mức năng
lượng trao đổi trong 1 kg thức ăn hỗn hợp cho lợn con giai đoạn sau cai sữa
cần 3200 kcal/kg.
* Nhu cầu protein và acid amin cho lợn con
Theo Trần Cừ, Nguyễn Khắc Khôi (1985) [2]: Protein là nhóm chất hữu
cơ có phân tử lượng cao và có chứa nitơ. Protein đảm nhiệm nhiều chức năng
quan trọng và là nguồn nguyên liệu cấu tạo nên tế bào. Quá trình sinh trưởng
của lợn là qúa trình tăng lên của khối lượng protein, hàm lượng protein trong
cơ thể rất cao. Các cơ quan bộ phận khác nhau có hàm lượng protein không
giống nhau. Protein có nhiều nhất ở trong cơ từ 30 - 35% so với tổng lượng
protein của cơ thể.
Lợn con bú sữa có tốc độ phát triển nhanh về hệ cơ và khả năng tích luỹ
protein lớn, do đó đòi hỏi về số lượng và chất lượng protein cao. Nếu trong
khẩu phần thiếu protein thì sinh trưởng của lợn con sẽ giảm hoặc ngừng, khả
năng sống kém. Nhu cầu protein trong thức ăn bổ sung cho lợn là 16 - 18%.
Acid amin là thành phần cấu tạo cơ bản của protein. Theo Từ Quang
Hiển, Phan Đình Thắm (1995) [9] vai trò của các acid amin trong cơ thể rất đa
trưởng thành. Quá trình trao đổi chất khoáng mà chủ yếu là trao đổi canxi và
photpho xảy ra mạnh mẽ ở gia súc non. Gia súc non có khả năng tích luỹ
canxi, photpho cao. Tuổi càng tăng khả năng tích luỹ càng giảm. Nhìn chung
gia súc non yêu cầu canxi lớn hơn photpho, càng lớn và trưởng thành nhu cầu
canxi giảm, nhu cầu photpho tăng lên. Để đảm bảo cho quá trình tiêu hoá hấp
18
18
19
thu và sử dụng canxi, photpho được tốt, tránh các hiện tượng còi xương. Ở gia
súc non cần chú ý cung cấp đầy đủ, cân đối canxi, photpho (đối với gia súc
non tỷ lệ Ca/P thích hợp là 1,5 - 2/1).
* Nhu cầu về các vitamin
Vitamin là nhóm chất dinh dưỡng đóng vai trò xúc tác trao đổi chất.
Trong các loại vitamin, lợn con rất cần vitamin A và D. Vitamin A và D cần
thiết cho sinh trưởng lợn con, giúp phát triển bình thường và nhiều chức năng
sinh lý quan trọng khác. Thiếu vitamin A và D có thể gây thiếu máu làm cho
lợn còi cọc.
Theo Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm (1995) [9] cho biết: tiêu chuẩn
của Tây Đức (DLG) cho kết luận tốt hơn cả gồm vitamin A= 2000 UI/kg thức
ăn, vitamin D= 2500 UI, vitamin E= 10 - 15 mg.
* Nhu cầu nước
Nước không phải là nguồn cung cấp năng lượng hay vật liệu xây dựng
cơ thể nhưng lại rất cần thiết cho sự sống. Nước trong cơ thể động vật vừa là
dung môi, vừa là phương tiện vận chuyển.
Lợn con từ 5 ngày tuổi hàng ngày cần cung cấp lượng nước khoảng 10%
so với khối lượng cơ thể. Cách duy nhất để cung cấp nước tốt nhất cho lợn
con là tiếp xúc tự do với nguồn nước và uống tự do.
1.1.3.2. Các nguyên liệu thức ăn chính dùng trong sản xuất thức ăn cho lợn
con giai đoạn sau cai sữa
Nguồn dinh dưỡng cho lợn con trong 21 ngày đầu chủ yếu là sữa mẹ, số
con theo mẹ và lợn con sau cai sữa. Vì khô đỗ tương vừa đảm bảo protein,
acid amin, và đảm bảo năng lượng. Khô đậu tương giàu lysine nên khi phối
hợp thức ăn hạt hoà thảo (nghèo lysine) sẽ tạo cân bằng lysine trong khẩu
phần cho lợn. Tỷ lệ khô đỗ tương thích hợp trong khẩu phần lợn con sau cai
sữa là 20 - 25% (Từ Quang Hiển và cs, 2001) [10].
* Bột cá
Bột cá là thức ăn động vật có hàm lượng chất dinh dưỡng cao nhất, được
chế biến từ cá tươi hoặc sản phẩm phụ trong công nghiệp chế biến cá hộp.
20
20
21
Trong protein bột cá có đầy đủ acid amin không thay thế: Lysine 7,5%,
methionine 3%, izoleucine 4,8% Protein trong bột cá sản xuất ở Việt Nam
biến động từ 35 - 60%, khoáng tổng số biến động từ 19,6 - 34,5% trong đó
muối: 0,5 - 10%; canxi: 5,5 - 8,7%; phốt pho: 3,5 - 48%, các chất hữu cơ
trong bột cá được gia súc, gia cầm tiêu hoá với tỷ lệ cao: 85 - 90% (Vũ Duy
Giảng và cs, 2009) [6].
* Bột sữa khử bơ
Bột sữa khử bơ được chế biến từ sữa đã khử bơ dùng để nuôi bò sữa và
sản xuất thức ăn cho lợn con theo mẹ và lợn con cai sữa. Bột sữa khử bơ có
hàm lượng protein: 32%, có đầy đủ acid amin không thay thế phù hợp với nhu
cầu của gia súc non, vì vậy nó có thành phần thiết yếu trong thức ăn lợn con
(Hội chăn nuôi Việt Nam, 2002) [19].
* Acid amin tổng hợp
Hiện nay trên thị trường có 4 loại acid amin được sử dụng rộng rãi trong
công nghiệp chế biến thức ăn. Đứng đầu là L- lysine HCl. Đây là acid amin
được sử dụng rộng rãi nhất trong thức ăn cho lợn. Ba loại acid amin là
DL- methionine, L- threonine và L- tryptophan được sử dụng ít hơn đặc biệt
là tryptophan, chủ yếu dùng để sản xuất thức ăn cho lợn con.
1.1.4. Tổng quan về Probiotic
sinh vật. Nhiều nghiên cứu chứng minh probiotic ức chế bám dính trên nhung
mao của vi sinh vật gây bệnh như: E.coli, sallmonella, tryphimurium (Barnes
và cs, 1997) [44]. Việc ức chế khả năng bám dính của vi sinh vật gây bệnh sẽ
ngăn ngừa sự phát triển và gây bệnh của chúng, từ đó probiotics được coi là
giải pháp phòng ngừa bệnh đường ruột.
- Tăng khả năng tiêu hóa thức ăn: Kích thích tính thèm ăn, làm tăng tích
lũy mỡ, nitrogen, Ca, P, Cu, Mn (Nahason và cs, 1992 - 1996; trích dẫn bởi
Lã Văn Kính, 1998) [15].
22
22
G8.)()40;H40II2F40J;K8I2F
23
- Làm giảm urease trong chất chứa ruột non, ngăn chặn tổng hợp những
amin độc, giảm nồng độ NH
3
trong phân gia súc, gia cầm, do đó ảnh hưởng có
lợi đối với môi trường.
- Tổng hợp vitamin nhóm B như: B
1
, B
2
, B
6
, B
12
.
- Trung hòa và khử độc tố trong đường ruột. ’nh hưởng có lợi của
probiotic trong thức ăn là sự sản xuất các chất kháng khuẩn có tác dụng trung
hòa độc tố tiêu chảy của vi khuẩn E.coli.
- Kích thích hệ thống miễn dịch: Yếu tố được xác định có vai trò kích
vật có hại; sản xuất các enzym tiêu hoá (amylase, cellulase, lipase, protease)
nên có tác dụng kích thích tiêu hoá, và các vitamin như B1, B2, B6, B12; khử
độc tố trong đường ruột.
Theo Gorbach (1996), tiêu chuẩn của vi khuẩn Lactobacillus lí tưởng
dùng trong probiotic phải đạt các yêu cầu: Chịu đựng được tính acid và mật,
có khả năng bám dính vào niêm mạc ruột, sống tốt trong môi trường ruột, sản
xuất được các chất kháng khuẩn để tiêu diệt các vi sinh vật gây bệnh.
* Bacillus subtilis
Hình 2.2. Bacillus subtilis
Đặc điểm: Trực khuẩn gram dương, có bào tử, hiếu khí, di động được
không có giáp mô, thích hợp ở nhiệt độ 35
0
C, lên men đường glucose và
saccharose.
Tác dụng: Sản sinh enzyme tiêu hoá: amylase, cellulase, pectinase,
protease, lipase, tripsin, mannase, sản sinh các acid hữu cơ: acid lactic, acid
acetic làm giảm pH đường ruột, tổng hợp vitamin nhóm B, cạnh tranh vị trí
bám với vi khuẩn gây bệnh.
* Saccharomyces cerevisiae
24
24
G8.)6)L40084M;NO0PF0PMPF4P
G8.)Q)40;H40II2F04FP
25
Loài Sacchoramyces cerevisae
hiện đang được sử dụng như một công
cụ đắc lực để mang các DNA tái tổ hợp
phục vụ cho việc sản xuất các sản phẩm
thế hệ mới của kỹ thuật di truyền
(Nguyễn Lân Dũng, 1998) [3].