Luận văn: NGHIÊN CỨU TRUYỆN DÂN GIAN KHMER NAM BỘ DƯỚI GÓC NHÌN BỐI CẢNH - Pdf 30

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Huỳnh Vũ Lam
NGHIÊN CỨU TRUYỆN DÂN GIAN KHMER
NAM BỘ DƯỚI DÓC NHÌN BỐI CẢNH
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số : 62.22.01.21
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA
VIỆT NAM
Năm 2015
Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Sư phạm Tp.
Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học:
1. TS. Hồ Quốc Hùng – Trường ĐH Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh
2. PGS.TS. Phan Thị Thu Hiền – Trường ĐH KHXH&NV, ĐH
Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh.
Phản biện 1:
TS. Nguyễn Thị Ngọc Điệp –Trường ĐH Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh
Phản biện 2:
TS. Trần Minh Hường – Trường ĐH Sài Gòn
Phản biện 3:
TS. Võ Phúc Châu – Trường ĐH Tiền Giang
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp
Trường, họp tại Trường ĐH Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh
Lúc … giờ ngày… tháng … năm……
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
-Thư viện Quốc gia Việt Nam
-Thư viện Khoa học xã hội Tp. Hồ Chí Minh
-Thư viện trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh.
1

nghiên cứu dựa trên văn bản thuần túy. Trong đó, việc đề xuất mô hình
ghi chép và cách thức kiến giải truyện kể dân gian Khmer trong bối cảnh
được xem như những mục tiêu khoa học quan trọng.
3. Lịch sử vấn đề
3.1. Nghiên cứu Văn học dân gian theo bối cảnh ở Việt Nam – những
ứng dụng khởi đầu
Ở Việt Nam, từ đầu thập niên 60 của thế kỉ trước, việc nghiên cứu
Văn học dân gian có lưu ý đến hoàn cảnh diễn xướng hay bối cảnh văn
hóa xuất phát từ tính chất nguyên hợp của tác phẩm đã được xác định
như là một yếu tố thuộc bản chất của văn học dân gian. Trên cơ sở tính
nguyên hợp, các phương pháp: hệ thống, tổng hợp, nghiên cứu liên
ngành, loại hình học trong Văn học dân gian … đều được xem như
những cách thức tiếp cận có hiệu quả. Tuy vậy, về cơ bản, tất cả các
phương pháp vừa nêu vẫn xem văn bản là đối tượng chính, còn bối cảnh
văn hóa rộng lớn của Văn học dân gian vẫn không phải là đối tượng
nghiên cứu chính của Văn học dân gian.
Việc xem xét bối cảnh như một phần không tách rời việc thể hiện
tác phẩm Văn học dân gian, hoặc xem hành động kể một câu chuyện là
một đối tượng nghiên cứu thì chỉ mới bắt đầu vào những năm 60 của thế
kỉ XX ở Hoa Kì và các nước phương Tây. Ở Việt Nam, hướng tiếp cận
này bắt đầu vào những năm cuối của thế kỉ XX qua một số công trình
giới thiệu lí thuyết của Chu Xuân Diên, Nguyễn Thị Hiền, Trần Thị An,
Ngô Đức Thịnh, Hồ Quốc Hùng, … và bước đầu vận dụng vào nghiên
cứu qua một vài luận văn thạc sĩ với phạm vi chưa rộng.
3.2. Nghiên cứu truyện dân gian Khmer Nam Bộ - cái nhìn tổng quan
3.2.1. Các công trình về văn hóa
Văn hóa tộc người Khmer Nam Bộ đã được giới nghiên cứu quan
tâm từ rất sớm và đặc biệt nở rộ sau năm 1975. Từ nhiều cuộc hội thảo
khoa học, các công trình của các nhà dân tộc học, và từ công tác nghiên
3

Văn học dân gian Khmer còn khiêm tốn so với nhiều tộc người khác. Bên
cạnh các tài liệu bằng tiếng Việt, có một số truyện Khmer dạng song ngữ
được biên soạn để dạy cho học sinh Khmer trong một số trường phổ
thông và chỉ dừng lại ở đấy.
Bên cạnh việc sưu tầm thì công tác nghiên cứu Văn học dân gian
người Khmer trong các công trình học thuật chưa thật sự nhiều. Về luận
văn thạc sĩ, có thể kể đến: Khảo sát nguồn truyện dân gian Khmer Nam
Bộ, Giá trị văn hoá thực tiễn trong truyện cười dân gian Khmer Nam Bộ,
Đặc điểm truyện ngụ ngôn Khmer ở Đồng bằng Sông Cửu Long, Cổ tích
Khơ me ở đồng bằng Sông Cửu Long … Phát hiện cơ bản của những
công trình trên cũng thừa nhận yếu tố văn hóa tộc người, mang đậm màu
sắc Phật giáo đã chi phối mạnh mẽ kết cấu lẫn ý nghĩa của các thể loại
truyện kể. Về luận án tiến sĩ, trong tư liệu chúng tôi khảo sát được, đến
nay, công trình Khảo sát truyện kể dân gian Khơ me Nam Bộ (qua thần
thoại – truyền thuyết – truyện cổ tích) của Phạm Tiết Khánh công bố năm
2007 là luận án duy nhất viết về truyện dân gian Khmer Nam Bộ. Nhìn
chung những công trình vừa nêu đọng lại trong cảm nhận của giới nghiên
cứu những vấn đề sau đây:
- Từ quan điểm xem truyện dân gian như một bộ phận của văn
hóa, dùng để giải thích các phong tục tập quán đến việc xem truyện dân
gian như là một đối tượng nghiên cứu độc lập, nhìn thể loại như là một
lĩnh vực có khả năng mang lại giá trị đã cho thấy hướng nghiên cứu
truyện kể Khmer Nam Bộ đang đi vào chiều sâu, có những phát hiện
mới. Tuy vậy, trên thực tế, việc nghiên cứu ấy vẫn còn hẹp về góc độ tiếp
cận và ít về số lượng các công trình.
- Hướng nghiên cứu folklore trong bối cảnh đã được nhiều nhà
nghiên cứu ở Việt Nam chấp nhận qua các công trình giới thiệu lí thuyết
và ứng dụng bước đầu. Nhưng mục tiêu nghiên cứu trong bối cảnh thực
sự bằng những thao tác cụ thể, tiến đến quy phạm hóa các yếu tố về
5

6. Đóng góp của luận án
6.1. Về mặt lí luận: giới thiệu khuynh hướng nghiên cứu folklore
trong bối cảnh đi từ lịch sử hình thành, các quan niệm lí thuyết để tiến tới
xây dựng mô hình bản ghi chép khi điền dã, thu thập truyện dân gian và
các phương pháp kiến giải truyện dân gian Khmer Nam Bộ trong bối
cảnh.
6.2. Về mặt thực tiễn: là những sản phẩm ghi chép việc kể chuyện
trong bối cảnh với những cách trình bày thấy rõ nhiều yếu tố khác bên
cạnh văn bản. Ngoài ra, việc kiến giải truyện kể với những tiêu chí từ
người kể, người nghe, các yếu tố môi trường, truyền thống, sự tương tác,
… sẽ mang đến cho việc tìm hiểu Văn học dân gian những góc nhìn mới,
nhiều tiềm năng.
7. Bố cục của luận án
Ngoài phần dẫn nhập, kết luận và phụ lục, luận án được triển khai
trong 04 chương:
Chương 1: Tổng quan về lí thuyết và ứng dụng trong nghiên cứu
truyện dân gian dưới góc nhìn bối cảnh (51 trang).
Chương 2: Không gian văn hóa tộc người và những vấn đề về
truyện dân gian Khmer Nam Bộ (44 trang).
Chương 3: Xây dựng các công cụ ghi nhận truyện dân gian Khmer
Nam Bộ trong bối cảnh (37 trang).
Chương 4: Một cách kiến giải truyện dân gian Khmer Nam Bộ
dưới góc nhìn bối cảnh (39 trang).
NỘI DUNG
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ LÍ THUYẾT VÀ ỨNG DỤNG TRONG NGHIÊN
CỨU TRUYỆN DÂN GIAN DƯỚI GÓC NHÌN BỐI CẢNH
7
1.1. Nghiên cứu truyện dân gian theo văn bản - những điều nhìn lại
Suốt thế kỉ XX, nghiên cứu Văn học dân gian theo hướng “thụ

công trình đi đến mục tiêu thiết lập các quy luật của cấu trúc thi pháp thể
loại và các bảng tra cứu có tính khái quát cao. Hệ quả là, hướng nghiên
cứu văn bản qua type và motif không chỉ dừng lại ở một trường phái, một
khu vực (châu Âu hay Hoa Kì) mà "việc vận dụng lí thuyết này để
nghiên cứu truyện dân gian được ứng dụng rộng rãi trên toàn thế giới
suốt nửa cuối thế kỉ XX". Tuy nhiên, sự bất cập của hướng nghiên cứu
nêu trên vẫn tồn tại, mà một trong những điểm yếu của nó tình trạng
không ăn khớp với thực tiễn của đời sống folklore đang diễn ra. Cụ thể
là:
- Mối quan hệ giữa tác phẩm Văn học dân gian trên văn bản và đời
sống thực tế có một sự chênh lệch nhất định. Nhiều tác phẩm qua quá
trình văn bản hoá thành tư liệu, trải qua thời gian, đã không còn có sức
“bám rễ” trong đời sống của một cộng đồng nào đó, trở nên xa lạ với
chính nơi nó được sưu tầm.
- Khách quan mà nói, folklore không chỉ là cái đã qua, cũng không
chỉ là những thứ nằm im trên trang sách trong thư viện mà nó còn là cái
vẫn tồn tại như một dòng chảy trong đời sống hôm nay với những cung
bậc không dễ nhận thấy.
- Các lí thuyết nghiên cứu hiện nay phần lớn chỉ tập trung vào một
“khoảnh khắc” được ghi lại của dòng chảy đó mà chưa chú ý nhiều đến
“quá trình”.
1.2. Nghiên cứu folklore trong bối cảnh – khuynh hướng mới ở
phương Tây
1.2.1. Chuyển hướng trong định nghĩa về folklore
Từ những năm 1960, việc nghiên cứu folklore ở Hoa Kì bắt đầu có
sự chuyển hướng về phương pháp tiếp cận mà khởi đầu là việc định
nghĩa lại bản chất của folklore. Với cách nhìn folklore là diễn ngôn
9
trong đời sống, là một sự kiện giao tiếp, các nhà khoa học đã mở rộng
biên giới của yếu tố ngôn từ trong folklore, kéo theo thay đổi quan niệm

của các cá nhân và nhóm người trong một bối cảnh nảy sinh những tương
tác về mặt tâm lí và hành động.
1.2.2. Sự đa dạng trong hướng tiếp cận bối cảnh trong nghiên cứu
folklore
Những khai phá bước đầu trong việc nghiêu cứu folklore trong bối
cảnh đã được các nhà folklore học Châu Âu khởi xướng trong nhiều công
trình rải rác của vài cá nhân. Với các thuật ngữ bối cảnh xã hội và văn
hoá, tình huống cụ thể, tình trạng tâm lí của người kể, người lưu giữ
truyền thống chủ động, truyền thống và ứng tác, ảnh hưởng của cá tính
và địa vị xã hội của người kể chuyện vào văn bản truyện kể, hoàn cảnh
vốn là độc đáo duy nhất, sự lặp lại có tính chất song song trong lời kể,
“khoá” (key) và “rập khuôn” (patterning), … và những lí giải kèm theo,
các nhà folklore phương Tây và Hoa Kì đã đặt nền móng cho một hướng
tiếp cận mới, folklore trong bối cảnh. Trong đó có ba đặc điểm nổi bật:
(1) Hướng nghiên cứu Văn học dân gian trong bối cảnh đề cao vai trò
người kể, người trình bày hay thể hiện trong nghiên cứu folklore. (2)
Cách thức và cơ cấu thể hiện là yếu tố chiếm vai trò nền tảng cho việc
lĩnh hội một tiết mục Văn học dân gian được trình diễn. (3) Trong đặc
điểm ngôn ngữ thể hiện, các yếu tố đơn giản hóa, sự lặp lại có tính song
song trong lời kể, các “khóa” để báo hiệu bắt đầu tình trạng trình diễn, …
là các vấn đề mới, có tác động đến định hướng lí giải ý nghĩa của tác
phẩm.
1.2.3. Một cách hiểu về tiếp cận bối cảnh trong nghiên cứu Văn học
dân gian
Khái niệm “context” (bối cảnh) được hiểu là tất cả những gì đi
cùng với văn bản. Từ đó suy ra, trong diễn ngôn kể chuyện dân gian, bối
11
cảnh kể chuyện cũng có vai trò tạo nghĩa cho tác phẩm bên cạnh ngôn từ.
Hướng tiếp cận bối cảnh trong nghiên cứu Văn học dân gian đặt tác
phẩm trong mối quan hệ với các yếu tố bên ngoài, nhìn tác phẩm từ phía

1.3.2. Sự thay đổi trong nghiên cứu thể loại
Theo hướng tiếp cận bối cảnh, các nhà khoa học thống nhất rằng:
không xem thể loại như là cái gì có sẵn, đã hoàn chỉnh mà phải xem nó là
những yếu tố được nảy sinh từ thực tế giao tiếp. Trong quan niệm đó, thể
loại như một hình thức diễn ngôn. Quan điểm mang tính tộc người của
diễn ngôn thể loại có thể được tóm tắt ở một số vấn đề như sau: (1) Hệ
thống thể loại có tính tộc người là cách phân loại không có tính phản
ánh thực tại, có ý nghĩa đối với cộng đồng và có giá trị tự thân trong
giao tiếp của cộng đồng. (2) Trong mỗi hệ thống của tộc người, thể loại
xác lập cho folklore một kiểu ngữ pháp, hay nói đúng hơn là quy tắc giao
tiếp, nhằm đạt hiệu quả tốt nhất trong việc thể hiện một thông điệp phức
tạp đặt trong một bối cảnh văn hoá. (3) Bối cảnh tạo ra hành vi của sự
diễn xướng folklore cũng có khả năng định nghĩa về mặt thể loại. (4)
Qua tên thể loại, người ta thường thấy các giá trị biểu trưng của tộc
người, những đặc điểm mà người ta nhận thức được qua các hình thức lời
nói.
1.3.3. Sự thay đổi trong cách kiến giải
Việc kiến giải (interpretation) được xây dựng trên nền tảng lí
thuyết của nhiều ngành khoa học. Qua những phương pháp chiết xuất từ
các ngành khoa học ấy, có thể định hướng việc kiến giải truyện dân gian
trong bối cảnh theo một số cách thức như sau: Thứ nhất, dưới góc nhìn
tâm lí học, nguyên tắc cơ bản được duy trì để lí giải truyện kể là: việc kể
chuyện phản ảnh một xúc cảm của cá nhân bị đè nén do họ không có khả
năng đương đầu trực tiếp với xã hội. Thứ hai, theo hướng nhân học văn
hóa, truyện kể được xem là sự “phản tư” của xã hội, tức là cái nhìn của
xã hội về chính bản thân nó. Thứ ba, theo hướng ngữ văn, việc kiến giải
13
truyện dân gian quan tâm đến thi pháp dân tộc học. Trong đó, thể loại
được định nghĩa ở địa phương với tư cách một hệ thống tạo bố cục và
truyền đạt ý nghĩa.

đáo.
2.1.2. Nét riêng trong tín ngưỡng và phong tục
Khi tìm hiểu các vấn đề có liên quan đến văn hóa dân tộc Khmer,
nhiều người đã thừa nhận Phật giáo Nam tông có tác động sâu sắc đến
nhiều mặt trong đời sống mỗi người Khmer. Phật giáo Nam tông đỡ đầu
mỗi cá nhân của người Khmer từ lúc họ sinh ra đến lúc nhắm mắt lìa
trần. Cuộc sống người Khmer coi trọng hiện tại ở tất cả các chiều kích và
các mối quan hệ. Xét ở góc độ nhân văn, quan niệm sống của người
Khmer là một trong những lối suy nghĩ có giá trị văn hóa của nhân loại.
Một lối sống không lệ thuộc vào vật chất, đậm tâm linh và hướng thiện
vô cùng lành mạnh. Ngoài ra một trong những đặc điểm về văn hoá của
người Khmer đáng lưu ý nữa là khuynh hướng thiên về biểu diễn và nghệ
thuật tạo hình.
2.2. Những vấn đề về phân loại truyện dân gian Khmer Nam Bộ
trong nghiên cứu truyền thống
2.2.1. Phân loại theo đặc tính hình thức
Đi vào thực tiễn nghiên cứu truyện Khmer Nam Bộ, việc phân loại
trước nay cơ bản vẫn dựa trên văn bản. Cho nên, như một hệ quả, việc lí
giải cội nguồn tạo nên những giá trị đặc trưng của tộc người Khmer biểu
hiện trong từng thể loại truyện dân gian thì chưa được chú ý thực hiện
một cách công phu. Ở một mức độ sâu hơn, một điểm cần được bổ sung
thêm là tìm hiểu những cách diễn hoá của thể loại trong đời sống hằng
ngày của xã hội đương đại để xác định các yếu tố nào tham gia vào việc
hình thành đặc trưng thể loại mà nếu chỉ xét trên văn bản thì khó thấy.
15
2.2.2. Phân loại theo chức năng lí giải lễ hội
Nếp sinh hoạt gắn liền với điều kiện cư trú, các lễ hội, phong tục
tập quán và tín ngưỡng của đồng bào Khmer Nam Bộ đã được các nhà
nghiên cứu chứng minh là có sự gắn bó hữu cơ với các thể loại truyện
dân gian. Điều đó có nguyên nhân từ nhiều yếu tố: (1) Nền văn hoá nông

2. Nổi bật trên phông nền ấy, người Khmer Nam Bộ đã sở hữu một
kho tàng truyện kể dân gian phong phú, tồn tại trên kinh sách viết trên lá
buông được giữ trong các ngôi chùa và trong tâm thức dân chúng.
3.Thái độ chấp nhận của người nghe và cách người kể thể hiện câu
chuyện mới quyết định sự tồn tại của một thể loại Văn học dân gian trong
thực tế. Cho nên thể loại, trong cách nhìn bối cảnh, không xuất phát từ lí
thuyết hay ý muốn chủ quan của người nghiên cứu mà từ thực tiễn của
đời sống quy định.
Như vậy, việc hiểu thể loại Văn học dân gian của người Khmer
dưới góc độ bối cảnh đặt ra một vấn đề lớn về thi pháp thể loại. Đây là
một thách thức đối với hướng tiếp cận này mà phạm vi luận án này chưa
thể thể giải quyết được.
Chương 3
XÂY DỰNG CÁC CÔNG CỤ GHI NHẬN TRUYỆN DÂN GIAN
KHMER NAM BỘ TRONG BỐI CẢNH
3.1. Kết cấu bối cảnh kể chuyện dân gian Khmer Nam Bộ
3.1.1. Các yếu tố tạo bối cảnh kể chuyện
Mối quan hệ giữa những người đang tham gia một giao dịch thẩm
mĩ; sự chi phối của thời gian, địa điểm và cơ hội đối với việc kể chuyện;
những cảm xúc dấy lên từ sự diễn xướng ở cả người kể, người nghe, lẫn
người ghi chép là các yếu tố góp phần tạo nên bối cảnh kể chuyện. Quan
niệm này đặt trọng tâm ở hai phương diện: con người với những nhận
thức, xúc cảm, tâm tư và bối cảnh với những thiết chế và điều kiện bao
quanh việc thể hiện tác phẩm. Để góp phần xác định bối cảnh, các nhà
17
tâm lí học đã áp dụng các khái niệm kích thích (stimulus) và phản ứng
(response) thành lí thuyết S-R khi tiến hành phân tích các tiết mục
folklore.
3.1.2. Một số bối cảnh kể chuyện dân gian Khmer Nam Bộ
- Khi xảy ra một sự kiện làm cho người tham gia tự phản ứng bằng

Qua những kinh nghiệm của các nhà folklore học Việt Nam và một
số quan điểm lí thuyết quốc tế, việc ghi lại một tác phẩm Văn học dân
gian trong bối cảnh cần đảm bảo các nguyên tắc sau: (1) Những yêu cầu
của ngôn ngữ được sử dụng trong thực tiễn, đặt trong bối cảnh văn hoá
xã hội với tư cách diễn ngôn văn hoá. Điều này buộc người điền dã phải
ghi chép các lời kể không được bỏ sót các khía cạnh tương tác mà một
diễn ngôn thường có. (2) Cần phải sử dụng phương pháp ghi chép điền
dã dân tộc học như là một nguyên tắc xuyên suốt. (3) Khi đọc một văn
bản ghi nhận truyện dân gian trong bối cảnh diễn xướng, người ta phải
“đọc” cái thông điệp mà người kể và người nghe thể hiện qua quá trình
kể chuyện.
3.3. Mô hình bản ghi chép dùng trong điền dã thu thập truyện dân
gian Khmer Nam Bộ
Dựa vào tinh thần nêu trên, chúng tôi đã thiết kế bản ghi chép có
các phần như sau:
Phần bối cảnh gồm các yếu tố: (1) tựa đề/ sự kiện kể chuyện (2)
thể loại, (3) người kể và người tham gia, (4) tình huống có sự kích thích.
Kết cấu: gồm các lời dẫn dắt, giải thích câu chuyện, thái độ cảm xúc, tâm
lí của người tham gia và của chính người ghi. Văn bản: nội dung câu
chuyện được kể. Các phần nêu trên được bố trí thành một bảng như sau:
Tựa đề/ sự kiện:
Tên người tham gia:
Địa điểm ghi nhận
Ngày tháng ghi
19
Tựa đề/ sự kiện:
nhận:
Thể loại:
Cụ thể hơn về người tham gia:
Tình huống kích thích:

cộng đồng người Khmer đô thị, ở thành phố, sống xen kẻ với người Việt,
người Hoa, không tập trung thành phum, sóc như ở nông thôn. Cả hai
người tham gia kể chuyện không cố tình kể lại truyền thuyết địa danh dù
sự kích thích bắng đầu từ tên Chằng Ré. Hai người không hóa thân mình
thành một vị trí khác trong việc kể “Sự tích bến Chằng Ré”.
4.2.2. Mô tả diễn ngôn kể chuyện
Do câu chuyện phục vụ cho việc giải thích địa danh nên cách kể
chủ yếu là các sự kiện để lí giải. Nội dung cố gắng thu gọn trong một số
chi tiết chủ yếu tạo sự tin tưởng, không thêm thắt để tạo sự hấp dẫn. Lối
kể của người cha vợ có giọng quyền uy và tự tin vì dựa vào truyền thống
và vị thế người cha. Lối kể của người con rể thì nhũn nhặn hơn và ít tự
tin hơn.
4.2.3. Ý nghĩa của sự kiện kể chuyện
Sự lựa chọn câu chuyện của chàng rể ở dạng đơn giản và gần gũi
nhất không phải do bản thân câu chuyện ngắn hay dài mà do bối cảnh
thúc ép. Vận dụng ưu thế của người mở lời và vị thế xã hội, người cha vợ
chiếm được thế ưu trội trong việc kết thúc phần kể của mình. Mục đích
của người kể và người nghe đã biến chức năng chính của truyền thuyết từ
việc làm rõ một nhận thức về địa danh bằng một lối giải thích phổ biến
của dân gian chuyển sang việc chứng minh ai đúng. Hai câu chuyện là
cái cớ để người kể trình bày sự hiểu biết của mình về tôn ti trong gia đình
21
mà gốc rễ tâm thức của nó là mối quan hệ hôn nhân với vị thế cá nhân
của cha vợ và con rể. Giá trị của câu chuyện nằm ở việc khẳng định sự
hiểu (người con) và ưu thế thân tộc (người cha vợ).
4.3. Kiến giải truyện kể trong bối cảnh thương thảo của các thành
viên cộng đồng
4.3.1. Phân tích các yếu tố bối cảnh
Lễ cưới người Khmer là một trong những lễ nghi quan trọng của
đời người, nhưng do cuộc sống thay đổi nên lễ tục cũng nhạt phai dần.

4. 4. Kiến giải truyện kể trong bối cảnh lễ hội
4.4.1. Phân tích các yếu tố bối cảnh
Lễ cúng trăng (ooc-om-booc) là một lễ nghi nông nghiệp, mang
tính chất tạ ơn trời đất đã ban cho mùa màng được tươi tốt, kết quả gặt
hái được đủ đầy sung túc. Trong lễ đó, người ta kể chuyện cho con cháu
nghe. Ông Thạch Phum là một người nông dân Khmer cao niên, đã từng
đi tu thời còn trai trẻ, biết giới luật và được nhiều người coi trọng. Còn
những người nghe (con cháu) thì đã ít nhiều chịu ảnh hưởng của đời sống
hiện đại. Thực tế trong lễ cúng trăng hiện nay ít người còn tái hiện việc
kể này.
4.4.2. Mô tả diễn ngôn kể chuyện
Sau khi thực hiện xong nghi thức đút cốm dẹp và hỏi mấy đứa trẻ
về ước mơ sau này, những người trong gia đình mời chia nhau các vật
phẩm cúng trăng và cùng ngồi ăn với đám trẻ con. Ông Thạch Phum bắt
đầu kể chuyện. Câu chuyện mà ông Thạch Phum kể có chỗ thiếu chính
xác so với những tài liệu hiện thời. Và điều đó đã bị một đứa bé hàng
xóm phát hiện, phản ứng với thái độ thẳng thắng. Ông Thạch Phum nổi
giận và lấy là uy quyền trong “vị thế người lớn” của mình để đuổi đứa bé
về nhà và tiếp tục kể câu chuyện. Câu chuyện kết thúc bằng việc ông
23
Thạch Phum lấy ánh trăng có thật để minh chứng cho con cháu về hình
tượng con thỏ. Sự trực quan của đám trẻ hướng về mặt trăng có tác dụng
tạo ấn tượng gấp nhiều lần so với trí tưởng tượng khi đọc văn bản. Tuy
nhiên đến lúc này câu chuyện chỉ còn chức năng xã hội mà mờ dần chức
năng thẩm mĩ.
4.4.3. Ý nghĩa của sự kiện kể chuyện
Ở góc nhìn bối cảnh, mục tiêu giáo dục truyền thống là quan trọng
nhất của ông Thạch Phum khi kể chuyện. Niềm tin còn mãnh liệt và có
sức mạnh hơn khi ông sử dụng uy thế trong mối quan hệ thân tộc của
mình để gạt bỏ mọi sự tác động, buộc những đứa cháu có một niềm tin


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status