BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
ĐẶNG THỊ YẾN
TÝn ngìng thê MÉu
ë tØnh Th¸i B×nh hiÖn nay
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60.22.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Thường
HÀ NỘI, 2014
MỤC LỤC
ĐẶNG THỊ YẾN 1
HÀ NỘI, 2014 1
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
PHỤ LỤC………………………
……………………………………………………………90
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một đất nước có đặc điểm riêng về địa lý, dân cư, lịch sử,
văn hóa…đây là những điều kiện hình thành nhiều tín ngưỡng, tôn giáo độc
đáo mà các nước trên thế giới không có được. Bên cạnh các hình thức tôn
giáo ngoại nhập như Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo… hay tôn giáo
nội sinh như Cao Đài, Hòa Hảo thì hiện nay ở Việt Nam vẫn tồn tại những
hình thức tín ngưỡng nguyên thủy trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số
hay tín ngưỡng dân gian của người Kinh như tín ngưỡng thờ thần, thờ tổ
tiên, thờ thành hoàng, thờ Mẫu…Trong đó thờ Mẫu là một trong những
loại hình tín ngưỡng đặc trưng và ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tinh
thần người Việt.
Nếu như Phật giáo khuyên răn con người sống từ bi, bác ái… để sau
phấn đấu đến năm 2020 đưa ngành du lịch, dịch vụ trở thành ngành mũi
nhọn của tỉnh. Định hướng phát triển sản phẩm du lịch là: Du lịch lễ hội- tín
ngưỡng, du lịch biển, du lịch tìm hiểu các giá trị lịch sử- văn hóa…Đặc biệt
là quan tâm đến khai thác và phát triển tiềm năng du lịch văn hóa và du
lịch tâm linh, trong đó không thể thiếu tín ngưỡng thờ Mẫu.
Trong xu thế toàn cầu hóa, thương mại hóa của nền kinh tế, sinh hoạt
tín ngưỡng thờ Mẫu ở Thái Bình càng diễn ra nhộn nhịp, đa dạng. Tuy
nhiên, có thể nói tín ngưỡng thờ Mẫu vẫn chưa được chú trọng nghiên cứu,
tìm hiểu, phụng dựng đúng mức. Các cơ quan, ban ngành của tỉnh chưa có
chiến lược, chính sách cụ thể để giữ gìn và khai thác giá trị của tín ngưỡng
này ở Thái Bình. Do đó, phát huy ảnh hưởng tích cực, loại bỏ ảnh hưởng
tiêu cực của tín ngưỡng trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội là một
việc làm cần thiết cho sự bứt phá đi lên của tỉnh nhà.
Xuất phát từ những lí do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “ Tín ngưỡng
thờ Mẫu ở tỉnh Thái Bình hiện nay” để làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ triết
học của mình.
4
2. Lịch sử nghiên cứu
Cho đến nay vấn đề tín ngưỡng bản địa của Việt Nam nói chung và tín
ngưỡng thờ Mẫu nói riêng đã được một số tác giả nghiên cứu dưới nhiều
góc độ, khía cạnh với mục đích và phương pháp khác nhau. Các học giả như
giáo sư Ngô Đức Thịnh, Đặng Văn Lung, Nguyễn Đăng Duy, Đỗ Thị Hảo,
Mai Ngọc Trúc, Nguyễn Đình San… đã công bố các công trình về tín ngưỡng
thờ Mẫu gắn với đời sống văn hóa, lịch sử, tôn giáo.
Trước hết, có thể kể đến các tác giả và tác phẩm nghiên cứu về văn
hóa, tôn giáo, tín ngưỡng nói chung như: Toan Ánh (1991), Nếp cũ tín
ngưỡng Việt Nam, Quyển thượng, Nxb TP. Hồ Chí Minh; Nguyễn Minh San
(1998) Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội;
Nguyễn Đăng Duy (2001) Các hình thái tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam,
Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội; Ngô Đức Thịnh (2001) Tín ngưỡng và văn
các hội thảo về đề tài tín ngưỡng thờ Mẫu như: thờ Mẫu đền Tiên La xã
Đoan Hùng, huyện Hưng Hà; thờ Mẫu đền Đồng Bằng huyện Quỳnh Phụ;
thờ Linh Từ Quốc Mẫu Trần Thị Dung… Và đã xuất bản cuốn kỉ yếu khoa
học ‘‘Nữ thần và Thánh Mẫu Thái Bình”năm 2005.
Về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Thái, tác giả Trần Thiên Ngọc có cuốn “Mẫu
thiêng Đông Nhung tướng quân và văn hóa du lịch danh thắng đền Tiên La
hiện nay”(2003), Sở Văn hoá Thông tin và Thể thao Thái Bình; Nguyễn
Thanh, Lễ hội truyền thống ở Thái Bình (2000), Nxb Khoa học Xã hội, Hà
Nội; Phạm Minh Đức, Bùi Duy Lan, Nữ thần và Thánh mẫu Thái Bình
(2005), Sở Văn hoá Thông tin và Thể thao Thái Bình; Nguyễn Thị Tô Hoài
“Tín ngưỡng thờ Mẫu đền Đồng Bằng và việc bảo tồn bản sắc văn hóa địa
phương trong bối cảnh hội nhập” (2005), kỉ yếu khoa học, Nxb Sở Văn hóa
Thông tin và Thể thao Thái Bình. Ngoài ra còn một số bài viết trên báo tỉnh
Thái Bình như: Lê Hoàng Tiến với bài” Đền Mẫu Song An, Vũ Thư, Thái
Bình”; Nguyễn Hải Dũng với bài “Thờ bà Man Thiện- thân Mẫu Hai Bà
Trưng”…Nhìn chung, các công trình này mới chỉ bước đầu nghiên cứu về
6
tín ngưỡng thờ Mẫu ở địa phương dưới góc độ văn hóa tín ngưỡng mà
chưa bàn sâu về phương diện triết học của vấn đề. Về phương diện này, có
thể nói hiện chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt nào. Vì vậy, tôi chọn
vấn đề “Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Thái Bình hiện nay” với hướng nghiên cứu
chủ yếu là những khía cạnh triết học và thực trạng của sinh hoạt tín
ngưỡng thờ Mẫu ở Thái Bình để làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Từ việc nghiên cứu tư tưởng triết học của tín ngưỡng thờ Mẫu, luận
văn tiến tới khảo sát thực trạng sinh hoạt tín ngưỡng thờ Mẫu ở Thái Bình
và đề xuất kiến nghị nhằm phát huy những giá trị tín ngưỡng thờ Mẫu ở
Thái Bình.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát thực trạng hoạt động của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Thái
Bình hiện nay.
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm định hướng đúng đắn cho hoạt
động của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Thái Bình trong giai đoạn hiện nay.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn được chia làm 2 chương 6 tiết
Chương 1: NHỮNG KHÍA CẠNH TRIẾT HỌC TRONG TÍN NGƯỠNG
THỜ MẪU Ở TỈNH THÁI BÌNH
1.1Khái niệm tín ngưỡng, tín ngưỡng thờ Mẫu và nghi lễ thờ
Mẫu ở Thái Bình hiện nay
1.1.1. Khái niệm tín ngưỡng và tín ngưỡng thờ Mẫu
1.1.1.1 Khái niệm tín ngưỡng
Có nhiều cách tiếp cận khái niệm tín ngưỡng tùy thuộc vào góc độ
nghiên cứu cũng như mục đích nghiên cứu. Tuy nhiên, có thể thấy rằng khi
nghiên cứu tín ngưỡng, đa phần các tác giả thường gắn nó với khái niệm
tôn giáo. Có ý kiến khác lại cho rằng, tín ngưỡng là một cấp độ phát triển
thấp của tôn giáo, là giai đoạn tiền tôn giáo.
Trong Hán- Việt từ điển, Đào Duy Anh đã giải nghĩa: “Tín ngưỡng là
8
lòng ngưỡng mộ mê tín đối với một tôn giáo hay một chủ nghĩa” [1;238].
Ngô Đức Thịnh đưa ra quan điểm rõ ràng hơn: “ Tín ngưỡng được
hiểu là niềm tin của con người vào cái gì đó thiêng liêng cao cả, siêu nhiên,
hay nói gọn lại là niềm tin, ngưỡng vọng vào cái thiêng liêng, đối lập với cái
trần tục, hiện hữu mà ta có thể sờ mó, quan sát được. Có nhiều loại niềm
tin, nhưng ở đây là niềm tin của tín ngưỡng là niềm tin vào cái thiêng liêng.
Do vậy, niềm tin vào cái thiêng thuộc về bản chất của con người, nó là nhân
tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người, cũng giống đời sống vật
chất, đời sống xã hội tinh thần, tư tưởng, đời sống, tình cảm…” [40;16].
Nguyễn Duy Hinh trong “Tín ngưỡng Thành hoàng Việt Nam” cho
2. Xem xét tín ngưỡng như là kết quả của sự hình thành và phát triển
các quan hệ xã hội, có tác động trở lại các quan hệ của nó.
3. Xem xét tín ngưỡng như là phương thức biểu hiện niềm tin của con
người vào cái thiêng liêng, biểu hiện sự bất lực của họ trước sức mạnh
thống trị của lực lượng siêu nhiên và xã hội.
4. Xem xét tín ngưỡng như là một hiện tượng lịch sử- văn hóa có quy
luật hình thành và vận động biến đổi riêng.
5. Xem xét tín ngưỡng như là một bộ phận của ý thức xã hội quan hệ
với tôn giáo, văn hóa, ngôn ngữ, triết học, lịch sử, nghệ thuật, khoa học. Sự
tổng hợp, đan xen của năm đặc trưng trên tạo thành lát cắt bởi điểm giao
nhau nói lên đặc trưng chung nhất của tín ngưỡng”.
Trong pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo. Chương I, điều 3 quy định như
sau: “ Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ tiên; tưởng
niệm và tôn vinh người có công với nước, với cộng đồng; thờ cúng thần
thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân
gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã
hội”[6;10]
Theo quan điểm của triết học Mácxit, tôn giáo và tín ngưỡng không
phải là những khái niệm đồng nhất. Mặc dù chúng đều thuộc một hình thái
10
ý thức xã hội nhưng giữa chúng vẫn có sự khác biệt cơ bản. Triết học Mác-
Lênin đưa ra quan niệm: tín ngưỡng là sản phẩm của lịch sử xã hội, thể
hiện niềm tin của con người vào một lực lượng siêu nhiên nào đó có khả
năng “cứu vớt” con người khỏi những bất công và bế tắc trong cuộc sống.
Tín ngưỡng theo cách hiểu thông thường là tín ngưỡng tôn giáo, nhưng xét
về bản chất và nguồn gốc, tín ngưỡng và tôn giáo vừa có những nét tương
đồng nhưng vẫn có những điểm khác biệt.
* Về sự tương đồng giữa tôn giáo và tín ngưỡng
Một là, những người có tôn giáo (Phật giáo, Thiên chúa giáo, đạo Tin
lành,…) và có sinh hoạt tín ngưỡng dân gian (tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên,
làm việc này một cách chuyên nghiệp cả. Các tăng sĩ Phật giáo và các giáo
sĩ đạo Công giáo đều là những người làm việc chuyên nghiệp và hành đạo
suốt đời (có thể có một vài ngoại lệ, nhưng số này chiếm tỷ lệ rất ít).
Như vậy, sự khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo có thể hiểu là sự
khác nhau giữa cái chung và cái riêng, giữa cái phổ biến và cái không phổ
biến. Tín ngưỡng thường được coi là trình độ phát triển thấp hơn so với
tôn giáo. Tín ngưỡng mang tính dân tộc, dân gian. Khi nói đến tín ngưỡng
người ta thường nói đến tín ngưỡng của một dân tộc hay một số dân tộc
có một số đặc điểm chung còn tôn giáo thì thường là không mang tính dân
gian. Tín ngưỡng không có một hệ thống điều hành và tổ chức như tôn
giáo, nếu có thì hệ thống đó cũng lẻ tẻ và rời rạc. Tín ngưỡng nếu phát
triển đến một mức độ nào đó thì có thể thành tôn giáo. Ngoài ra, khi
nghiên cứu về tín ngưỡng và tôn giáo cũng cần phải lưu ý rõ sự khác biệt
giữa chúng với khái niệm “mê tín” và “mê tín dị đoan”.
Mê tín được hiểu là lòng tin mê muội, viển vông, cuồng nhiệt không
dựa trên cơ sở khoa học và lẽ phải thông thường. Mê tín gây ra hậu quả
xấu đối với con người và xã hội. Mê tín đến mức cuồng tín mê muội, không
12
còn lý trí, suy đoán tuỳ tiện, tin vào những điều không có trong thực tế thì
trở thành mê tín dị đoan.
Mê tín và mê tín dị đoan là những hiện tượng phản khoa học, phản
văn hoá. Trong thực tế các hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáo, mê tín, mê tín
dị đoan thường tồn tại đan xen lẫn nhau, phản ánh hư ảo hiện thực cuộc
sống. Vì thế, chúng ta phải có những biện pháp cụ thể để loại trừ những
hiện tượng mê tín, mê tín dị đoan đang len lỏi vào trong đời sống xã hội.
Từ những lược khảo về các khái niệm hay quan điểm về tín ngưỡng đã
có trong lịch sử các chuyên ngành khoa học khác nhau, có thể đúc kết rằng,
tín ngưỡng mang những nét đặc trưng như: Tín ngưỡng gắn liền với đời
sống tinh thần của con người, được sinh ra từ hiện thực xã hội và phản ánh
hiện thực xã hội ấy, là sự thể hiện niềm tin của con người vào các đấng siêu
rừng xanh, hang hẻm, hình ảnh đầu tiên mà con người tôn thờ là Mẫu
Thượng Ngàn, Mẫu Sơn Lâm. Cũng chính từ sự tôn thờ đó mà trong dân
gian xuất hiện nhiều truyện kể, truyền thuyết ly kỳ về Mẫu Thượng Ngàn.
Cho đến ngày nay nhân dân ta vẫn tôn thờ Bà Chúa Thượng Ngàn, hình
ảnh của bà còn đọng mãi trong ký ức dân gian cùng với các vị Nữ thần
khác.
Khi mở rộng địa bàn cư trú xuống đồng bằng, người che chở cho
dân là Mẹ nước, thế nên ý thức về Mẫu Thoải dần dần được hình thành.
“Thực chất nhân vật Mẫu Thoải là sự ngưng kết, chắt lọc của tín ngường
thờ thần nước trong lòng xã hội cũ, khi mà nền kinh tế nông nghiệp còn
lạc hậu, còn triền miên, dai dẳng” [16;108].
Cuộc sống sinh sôi và nhu cầu của con người ngày càng nhiều thì con
người không chỉ trú ngụ ở sông núi mà còn phải khai phá đất đai để sinh
sống. Lúc này hình ảnh Mẹ Đất được hình thành với sự tôn vinh là Mẫu Địa
cùng với Mẫu thoải, Mẫu Thượng Ngàn phù hộ cho cuộc sống bình an, mưa
14
thuận, gió hoà của con người: “Trông trời, trông đất, trông mưa”.
Cho đến thế kỷ XVI, tín ngưỡng thờ Mẫu được làm phong phú hơn với
hình tượng công chúa Liễu Hạnh được tôn là Thánh Mẫu. Khác với Mẫu
Thượng Ngàn, Mẫu Thoải, Mẫu Địa đều có nguồn gốc từ tự nhiên thì Mẫu
Liễu là hình tượng con người trần thế hội tụ đầy đủ các yếu tố và đức tính
quý báu của người phụ nữ Việt Nam như: yêu chồng, thương con, có trách
nhiệm với gia đình, ghét cái ác, yêu thương giúp đỡ người nghèo khổ, tài
hoa, khéo léo… Chính vì thế người Việt tôn vinh Liễu Hạnh là Tiên, là
Thánh, là một trong tứ bất tử của mình. Mặc dù Mẫu Liễu xuất hiện muộn
hơn cả nhưng lại mau chóng trở thành vị thần được tôn vinh hơn hết của
dân tộc Việt Nam.
Trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt còn tôn thờ những người
mẹ, những phụ nữ có tài, có đức, có công lao trong lich sử đấu tranh dựng
nước và giữ nước của dân tộc như: Hai Bà Trưng, Thái Hậu Dương Vân
Ninh), là cửa ngõ thông thương giữa Hải Phòng, Quảng Ninh, nối dài tới
các tỉnh duyên hải suốt dọc đất nước. Toàn tỉnh được bao bọc bởi hệ thống
sông biển khép kín. Bờ biển Thái Bình chạy dài trên 50 km, là môi trường
thuận lợi để phát triển kinh tế biển và phát triển du lịch. Có 4 sông lớn chảy
qua địa phận của tỉnh: phía Bắc và Đông Bắc là sông Hoá, phía Bắc và Tây
Bắc là sông Luộc, phía Tây và Nam là hạ lưu của sông Hồng và sông Trà Lý
với 5 cửa sông lớn Văn Úc, Diêm Điền, Ba Lạt, Trà Lý, Lân [52].
Đơn vị hành chính của tỉnh gồm thành phố Thái Bình và tám huyện:
Kiến Xương, Đông Hưng, Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Thái Thụy, Tiền Hải, Vũ Thư
với 286 xã, phường, thị trấn và một thành phố. Với quy mô dân số tính đến
thời điểm hiện tại khoảng 1.945.276 người, mật độ dân số trung bình
khoảng 1.250 người/km2 (cao hơn nhiều so với các tỉnh trong cả nước), tỷ
lệ sinh khoảng 1,3%. Đây cũng là tỉnh có mật độ dân cư cao nhất so với các
tỉnh đồng bằng và trung du Bắc Bộ, trong đó có gần 90,1% dân số sống ở
16
nông thôn. Người Việt (người Kinh) sinh sống là chủ yếu, các dân tộc khác
chỉ có khoảng trên dưới 100 người [52].
Thái Bình là mảnh đất địa linh nhân kiệt, có truyền thống anh hùng,
đóng góp nhiều thành tích và chiến công trong lịch sử dựng nước và giữ
nước. Nhân dân Thái Bình giàu truyền thống yêu nước. Trong hai cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cũng như trong sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhân dân luôn tin theo Đảng, tích cực chiến
đấu, lao động, góp phần tô thắm thêm những trang lịch sử hào hùng của
dân tộc.
Là tỉnh thuần nông, kinh tế Thái Bình chậm phát triển so với các tỉnh
lân cận. Sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng hơn 70% nhưng năng suất và
hiệu quả chưa cao. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ đang phát
triển nhưng chưa mạnh mẽ. Thu nhập bình quân/đầu người còn thấp, đời
sống và sản xuất của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn. Từ khi cả nước
thực hiện công cuộc đổi mới, mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế đến nay, đời
nương thân cửa Phật. Nợ nước thù nhà, Thục Nương chiêu tập binh mã,
dựng cờ khởi nghĩa mang bốn chữ vàng “Bát Nạn tướng quân” lập đàn tế
trời dấy binh chống lại bọn xâm lược. Nghĩa quân do Bà chỉ huy ngày càng
lớn mạnh và làm tổn thất rất nhiều quân thù. Hay tin Hai Bà Trưng khởi
nghĩa tại Hát Môn, Thục Nương đem quân hợp sức với quân của Hai Bà
Trưng và được phong chiếu “Đông Nhung Đại Tướng Quân”. Cuộc khởi
nghĩa của dân tộc ta do Hai Bà Trưng lãnh đạo đã giành toàn thắng vào
mùa xuân năm 40. Bát Nạn tướng quân được thưởng 1000 quan tiền và
làng Tiên La - căn cứ của nghĩa quân được coi là đất thang mộc, nhân dân
trong làng được xoá tô thuế.
Bị thất bại nặng nề, nhà Hán sai Mã Viện đem quân sang đánh nước
ta, đàn áp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Tướng quân Bát Nạn đã cùng
18
nghĩa quân hương Đa Cương sát cánh cùng quân của Hai Bà Trưng đánh
giặc. Thế giặc rất mạnh, quân ta phải rút lui dần Cuối năm 43, cuộc
kháng chiến chống xâm lược của Hai Bà Trưng thất bại, Hai Bà Trưng đã
anh dũng hy sinh để giữ vẹn toàn khánh tiết. Bát Nạn và nghĩa quân Đa
Cương phải về Tiên La cố thủ. Quân Hán vây ép, cuối cùng căn cứ Tiên La bị
phá. Trong trận chiến đấu cuối cùng, Bát Nạn tướng quân cùng quân sỹ của
mình đã anh dũng hy sinh ở gò Kim Quy vào ngày 17-3-43. Nhân dân ta vô
cùng thương tiếc Bát Nạn tướng quân và những dũng tướng trung thành
của Bà, đã lập đền thờ ngay trên mảnh đất Bà đã anh dũng hy sinh để đời
đời tưởng nhớ công đức.
Trải qua bao tháng năm thăng trầm lịch sử, tuy có bị ảnh hưởng bởi
chiến tranh, khắc nghiệt của thời tiết song đền Tiên La được nhà nước và
nhân dân bảo tồn, tôn tạo mỗi ngày thêm nguy nga, lộng lẫy - là điểm đến
lý tưởng của đông đảo du khách. Hàng năm cứ vào dịp trung tuần tháng 3
âm lịch, UBND huyện Hưng Hà, UBND xã Đoan Hùng và nhân dân địa
phương lại mở lễ hội đền Tiên La để tưởng nhớ công ơn Bà.
*Linh từ Quốc Mẫu Trần Thị Dung
cũng là quá trình bà Trần Thị Dung trong vai trò Quốc mẫu dù không được
phong tước hiệu, không được xướng tên đăng đàn, nhưng đã luôn tìm cách
tạo điều kiện cho họ Trần phát triển thế lực. Ngay cả khi bị giáng xuống làm
Thiên Cực công chúa và gả cho Thái sư Trần Thủ Độ, bà vẫn một lòng hy
sinh cho sự hưng thịnh của dòng tộc họ Trần. Chính sự khiêm nhường và
lòng trung thành không chút so bì của bà mà vua Trần Thái Tông (1226-
1258) đã ban cho bà rất nhiều đặc ân.
Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông năm Mậu Ngọ
(1258), trước thế giặc mạnh, chủ trương của triều đình nhà Trần là tạm thời
rút khởi thành Thăng Long, thực hiện vườn không nhà trống nhằm tiêu hao
20
sinh lực địch rồi sau đó tổ chức đánh úp. Cuộc rút lui khỏi thành Thăng Long
gặp rất nhiều khó khăn và phức tạp bởi ngoài lực lượng quân đội còn có
hoàng tộc, thân nhân quan lại. Nhận thấy năng lực và lòng trách nhiệm của
phu nhân Thái sư Trần Thị Dung, triều đình đã ủy thác cho bà toàn bộ trọng
trách bảo đảm an toàn cho hoàng gia và tích trữ hậu cần cho quân đội trong
cuộc rút lui. Trước khi quân ta rút khỏi Thăng Long, bà đã đôn đốc công việc
chuẩn bị tích trữ lương thực, vận chuyển về vùng hậu phương an tòan. Dưới
sự chỉ huy của bà, các thuyền bè lánh nạn có thu giấu binh khí đều bị khám xét
và tịch thu để dùng vào việc quân. Ngày mười ba tháng chạp năm Đinh Tỵ
(1257), khi quân nhà Trần cho phá cầu Phủ Lỗ (nay thuộc địa bàn huyện
Đông Anh, Hà Nội), bày trận ở bên sông chặn giặc Mông Cổ thì Linh Từ quốc
mẫu Trần Thị Dung chỉ huy hoàng gia lặng lẽ, trật tự tản cư khỏi kinh thành
Thăng Long. Quân Mông Cổ vào kinh thành nhưng Thăng Long là một trận
địa vườn không nhà trống: không người, không lương thực. Ngày 24 tháng
Chạp, quân dân nhà Trần mở trận đánh úp ở Đông Bộ Đầu (bến sông Hồng,
khoảng phía trên cầu Long Biên, Hà Nội), đang trong tình thế quẫn bách tiến
thoái lưỡng nan và cũng không kịp trở tay, quân Mông Cổ đành rút chạy về
nước. Thành Thăng Long được giải phóng sau 9 ngày bị giặc chiếm đóng.
Cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần thứ nhất (1258) của quân
Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao là thân mẫu của vua Lê Thánh Tông- một
vị vua anh minh, hùng tài đảm lược trong lịch sử Việt Nam.
Bà Ngọc Dao mồ côi mẹ từ thuở nhỏ, được bà ngoại đem về nhà nuôi.
Một lần, có người đi qua nhìn bà và bảo rằng: “Cô bé này về sau sẽ làm mẹ
thiên hạ”.
Chị ruột của bà Ngọc Dao là Ngọc Vân được vào chầu Thái tổ Cao
Hoàng đế. Năm thứ ba niên hiệu Thiệu Bình (1436), Ngọc Dao 16 tuổi,
22
được tuyển vào cung. Do nết na, lễ độ, thờ trên đúng lễ, đối với kẻ dưới có
ân nên được vua Lê Thái Tông rất yêu mến.
Sử cũ chép, lúc Thái hậu còn làm Tiệp dư, đi cầu tự, chiêm bao thấy
trời cho tiên đồng, rồi có thai. Vì sự ghanh tị của Nguyên phi Ngọc Anh nên
Ngọc Dao đã về làng Đô Kỳ nay thuộc xã Đông Đô, Hưng Hà (quê ngoại của
bà) để sinh nở an toàn. Dân gian kể rằng khi được đón về đến cầu Chày, bên
này là đất huyện Duyên Hà và bên kia là đất huyện Thần Khê thì Tiệp dư
trở dạ, nhưng mãi không sinh được. Thấy vậy, bà bèn bảo mang hương hoa
đến và thắp hương khấn rằng:
“Có phải con mẹ, con cha
Thì sinh ở đất Duyên Hà, Thần Khê”.
Vừa khấn dứt lời thì bà sinh một hoàng tử “Tư trời rạng rỡ, thần sắc
anh dị, tuấn tú, sáng suốt, thực là bậc anh minh”, Tiệp dư Ngô Thị Ngọc
Dao đặt tên con là Lê Tư Thành. Tư Thành lên ngôi vua từ 19 tuổi đổi
thành Lê Thánh Tông, ông cho soạn bộ Luật Hồng Đức (còn gọi là Quốc
triều hình luật) gồm 723 điều, đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Nhận xét về
tài đức của vua, sử thần Ngô Sĩ Liên viết: “Vua sáng lập cơ đồ, văn vật khả
quan, mở rộng đất đai, bờ cõi khá rộng, thực là bậc vua anh hùng tài lược,
dù Vũ Đế nhà Hán, Thái Tôn nhà Đường cũng không hơn được”. Vậy thì
ngoài những điều đã biết, còn điều gì nữa đã tạo nên đức độ, tài năng lỗi lạc
của ông vua trẻ lên nắm giữ triều chính lúc 19 tuổi? Phải chăng là còn do
công mẹ sinh thành, được rèn cặp chu đáo ngay từ thuở nhỏ, mà từ nghìn
xứng đáng ở vị trí hàng đầu các vị hoàng hậu của nước Đại Việt. Năm 1496,
ngay sau khi mất, vua Lê Thánh Tông truy phong bà là Quang Thục Hoàng
Thái hậu. Nhớ tới công lao của Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao, người dân xã
Đông Đô, huyện Hưng Hà (quê ngoại của bà) đã lập đền thờ và ngày ngày
hương khói. Cứ tháng ba âm lịch hàng năm nhân dân lại mở lễ hội Đô Kỳ để
tưởng nhớ và tri ân tới bà.
24
*Bảo Hoa công chúa, con gái vua Trần Duệ Tông
Đình Phất Lộc tên tự là (Đình Phúc Lộc) thuộc thôn Phất Lộc, xã Thái
Giang, huyện Thái Thuỵ, cách thành phố Thái Bình 21 km về phía đông
Nam.
Đình thờ Đức thánh Trần Triều Bảo Hoa công chúa, con gái vua Trần
Duệ Tông. Xuất thân từ tầng lớp “Kim chi ngọc diệp” nhưng bà đã tới đất
Thái Giang dạy cho nhân dân làm ăn và truyền đạo Phật. Công lao của bà
được nhân dân vô cùng khâm phục giúp đời sống của họ trở nên yên ấm.
Vào ngày 2 - 4 âm lịch hàng năm (ngày giỗ của bà) nhân dân Thái Giang tổ
chức nghi thức lễ hội rước kiệu và bài vị của bà từ dòng ho Trần sang đền
thờ bà để làm tế lễ. Bà được tôn làm Mẫu của người dân Thái Giang. Trải
qua biến cố thăng trầm của lịch sử, các di tích ở vùng quê này dần bị mai
một. Song đến nay đình Phất Lộc vẫn là một trong những di tích có kiến
trúc nghệ thuật hiếm hoi có niên đại cách ngày nay gần 400 năm, được
nhân dân giữ gìn tôn tạo, để lưu lại những dấu ấn lịch sử, tô đẹp cho cảnh
quan làng xã.
Thờ Mẫu ở Thái Bình thờ Mẫu là nhân thần, những người có công lao
trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc còn thờ phụng Mẫu là
như Mẫu Đời, Đền Bà…
*Đền Mẫu Đợi
Đền Mẫu Đợi (còn gọi là Đền Đợi) nằm ở phía Đông của tỉnh Thái
Bình, cách trung tâm tỉnh lỵ Thái Bình khoảng 17 km. Đền Đợi thờ bà Thái
Vỹ- Cao Sơn Thần Nữ (tức bà chúa Thượng Ngàn).