Hình thức giao dịch dân sự theo pháp luật việt nam luận văn ths luật - Pdf 30


Đại học Quốc gia Hà Nội
khoa Luật
PHM TH MINH TRANG

HèNH THC GIAO DCH DN S
THEO PHP LUT VIT NAM Chuyên ngành: Lut Dõn s v T tng Dõn s
Mã số: 60 38 01 03
Luận văn thạc sĩ Luật học



LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
Trang

1

Chƣơng 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÌNH THỨC GIAO
DỊCH DÂN SỰ
6
1.1.
Khái niệm, đặc điểm pháp lý của giao dịch dân sự
6
1.1.1.
Khái niệm giao dịch dân sự
6
1.1.2.
Đặc điểm của giao dịch dân sự
14
1.2.
Khái niệm về hình thức giao dịch dân sự
18
1.3.
Quy định về hình thức giao dịch Việt Nam qua các thời kỳ
21

Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch
trong trường hợp pháp luật có quy định
47
2.2.1.
Hình thức là yếu tố pháp lý quyết định hiệu lực của giao dịch dân sự
47

2.2.2.
Hình thức giao dịch dân sự là cơ sở để xác định thời điểm có hiệu lực
của giao dịch
52
2.3.
Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm hình thức
53
2.3.1.
Chấm dứt thực hiện giao dịch dân sự
55
2.3.2.
Xử lý hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm về mặt
hình thức
56

Chƣơng 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT
VỀ HÌNH THỨC GIAO DỊCH DÂN SỰ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
60

3.1.
Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về hình thức giao dịch dân sự
60

KẾT LUẬN
88

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
89 NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

1. BLDS: Bộ luật Dân sự
2. TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Từ bao đời nay để duy trì sự phát triển của xã hội và nhằm thỏa mãn
các nhu cầu của bản thân, con người đã sử dụng phương thức giao dịch dân
sự. Hiện nay,Việt Nam đang trong thời kỳ phát triển kinh tế theo định hướng
xã hội chủ nghĩa thì giao dịch dân sự càng đóng vai trò quan trọng trong việc
vận hành nền kinh tế.
Nội dung của giao dịch dân sự không thể nằm trong tư tưởng của con
người mà nó phải được thể hiện ra bên ngoài bằng một hình thức nhất định.
Trong một số trường hợp để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho người tham gia
giao dịch dân sự và nhằm tăng cường tính pháp chế của nhà nước trong việc
quản lý giao dịch dân sự thì hình thức được coi là điều kiện có hiệu lực của
giao dịch dân sự. Vì vậy, xuất phát từ tầm quan trọng của hình thức giao dịch
dân sự nên pháp luật đã có hành lang pháp lý về vấn đề này.

dân sự Việt Nam” của trường Đại học Luật Hà Nội; sách “Bình luận những
nội dung mới của Bộ luật dân sự 2005” của Đinh Trung Tụng (Cb); “Giao
dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ các quy định về hình thức” của TS.
Nguyễn Văn Cường [19]; “Nhà ở của vợ chồng nhưng một bên đứng ra bán”
của TS. Nguyễn Hải An [2]; “Về hợp đồng mua bán nhà ở vô hiệu do vi phạm
điều kiện hình thức” của Trần Thị Thu Hà [27]; “Bàn về điều kiện về hình
thức của giao dịch dân sự theo Bộ luật dân sự năm 2005” của Thẩm phán
Tưởng Duy Lượng;
Về luận án tiến sỹ: Có một số luận án tiến sỹ nghiên cứu các đề tài có
liên quan đến vấn đề hình thức giao dịch dân sự như đề tài: “Giao dịch dân sự
vô hiệu và việc giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu” của
TS. Nguyễn Văn Cường [20], đề tài:“Hiệu lực của hợp đồng theo quy
địnhcủa pháp luật Việt Nam” của TS. Lê Minh Hùng [38]…
Có thể nói, những công trình khoa học trên là tài liệu quí báu giúp tác
giả có thêm nhiều thông tin quan trọng phục vụ cho việc nghiên cứu luận văn,
tuy nhiên các công trình trên chưa nghiên cứu toàn diện và thấu đáo về hình

3
thức giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam, đặc biệt là
BLDS năm 2005. Do vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Hình thức giao dịch dân
sự theo pháp luật Việt Nam” không trùng lặp với các công trình khoa học đã
được công bố.
3. Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, khảo sát thực trạng pháp luật và thực
tiễn áp dụng pháp luật về hình thức giao dịch dân sự ở Việt Nam, đối chiếu
với quy định về hình thức giao dịch dân sự trong hệ thống pháp luật Việt Nam
từ xưa đến nay và một số nước trên thế giới, đề tài hướng đến mục tiêu góp
phần hoàn thiện và làm phong phú thêm cơ sở lý luận, thực tiễn của vấn đề
hình thức giao dịch dân sự; đồng thời đưa ra những giải pháp có thể sửa

dung của Luận văn tập trung phân tích các quy định về hình thức giao dịch
dân sự trong BLDS 2005. Bên cạnh đó, luận văn còn nghiên cứu và phân tích
các quy định có liên quan đến hình thức của giao dịch dân sự trong các văn
bản pháp luật liên quan khác, cũng như thực tiễn giải quyết tranh chấp trong
các lĩnh vực này.
Về mặt thời gian: Cùng với việc nghiên cứu các quy định của pháp luật
hiện hành, tác giả cũng dành một liều lượng thích hợp để nghiên cứu các quy
định về hình thức giao dịch dân sự trong pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài vận dụng các phương pháp của Chủ nghĩa duy vật biện chứng
Mác-Lênin và các phương pháp chuyên ngành khoa học pháp lý để giải quyết
những vấn đề lý luận và pháp lý liên quan đến các quy định về hình thức giao
dịch dân sự. Trong đó chủ yếu sử dụng phương pháp lô gích pháp lý, phương
pháp lịch sử và phương pháp so sánh pháp luật để làm rõ mối quan hệ giữa
hình thức giao dịch dân sự giữa pháp luật hiện hành và pháp luật cổ; giữa
pháp luật Việt Nam và pháp luật trên thế giới; giữa các quy định của pháp luật
và thực tiễn áp dụng…

5
6. Tính mới của luận văn
Kết quả nghiên cứu được thể hiện trong luận văn có một số điểm mới
sau đây:
- Thứ nhất, nghiên cứu lý luận một cách toàn diện về hình thức giao
dịch dân sự. Đánh giá và phân tích về hình thức giao dịch dân sự trong pháp
luật Việt Nam qua các thời kỳ, đồng thời so sánh với quy định về hình thức
giao dịch dân sự của một số nước trên thế giới.
- Thứ hai, đưa ra và phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật, giải quyết
tranh chấp liên quan đến hình thức giao dịch dân sự thông qua các bản án tại
Tòa án nhân dân. Từ đó tìm ra những bất cập trong quy định của pháp luật và
đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật liên quan đến vấn đề hình thức

đơn giản nhất như con người trao đổi sản phẩm do mình làm ra, cho đến
ngày nay khi giao dịch được sử dụng với nhiều hình thức biểu đạt và là một
công cụ hữu hiệu để cá nhân, tổ chức thỏa mãn nhu cầu về vật chất, tinh
thần của mình. Theo đó thì một cá nhân, tổ chức muốn tồn tại và phát triển
trong xã hội phải tham gia vào các giao dịch nhất định để trao đổi và dịch
chuyển các lợi ích với nhau.
Với vị trí và ý nghĩa quan trọng như vậy, cho nên giao dịch dân sự
nhanh chóng được đưa vào hệ thống luật pháp của các quốc gia để nhằm ổn
định, giữ trật tự cho nền kinh tế phát triển. Có thể thấy rằng, một xã hội phát
triển luôn phải đặt ra nhu cầu hoàn thiện và phát triển chế định giao dịch.
Điều này được thể hiện rõ nét trong hệ thống pháp luật của Việt Nam từ khi
hình thành cho đến ngày nay. Tuy rằng, thuật ngữ “ giao dịch dân sự” chưa
được thể hiện từ những ngày đầu của lịch sử lập pháp Việt Nam nhưng trong
các văn bản cổ luật đã tìm thấy các thuật ngữ có ý nghĩa tương đương hoặc
thể hiện bản chất của việc giao dịch như: khế ước hoặc mua, bán, cho, cầm
hoặc hành vi thể hiện ý chí của con người nhằm phát sinh, thay đổi hoặc chấm
dứt quyền, nghĩa vụ dân sự mà không phụ thuộc vào ý chí bên kia như hành

7
vi lập di chúc….Trải qua nhiều thời kỳ phát triển của xã hội cùng với sự
thăng trầm của nền kinh tế, ngày nay thuật ngữ giao dịch dân sự đã được nâng
tầm thành chế định giao dịch dân sự và chiếm một vị trí quan trọng trong Bộ
luật dân sự hiện hành.
Đối với thế giới, sự phát triển của “giao dịch dân sự” tại mỗi quốc gia
có những đặc thù riêng. Nét chung nhất có thể thấy được là vị trí của chế định
giao dịch dân sự ngày càng được nâng cao và chú trọng. Tuy nhiên, tùy theo
tình hình phát triển kinh tế xã hội ở một đất nước mà giao dịch dân sự lại
được quy định ở những khía cạnh, góc độ khác nhau. Ví dụ: tại BLDS của
Nhật Bản quy định về chế định hợp đồng và chế định thừa kế theo di chúc; tại
BLDS của Pháp không nêu ra chế định giao dịch dân sự mà quy định về chế

hội. Chỉ khi nảy sinh tranh chấp, mâu thuẫn thì chủ thể tham gia giao dịch yêu
cầu hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét xử và tạo điều kiện cần thiết để
giao dịch được thực hiện.
Điều 121 BLDS Việt Nam năm 2005 định nghĩa giao dịch dân sự như
sau: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm
phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Để hiểu rõ hơn
về khái niệm này cần tìm hiểu bản chất của “hợp đồng” và “hành vi pháp lý
đơn phương”.
Theo quy định tại Điều 388 BLDS 2005 thì: “Hợp đồng dân sự là sự
thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa
vụ dân sự ”. Tác giả cho rằng khái niệm này khá phù hợp với thực tế hiện nay
và mang tính khái quát cao. Chúng ta có thể xem xét một số quy định về hợp
đồng của một số nước trên thế giới. Theo quy định tại Điều 1373 BLDS 1994
của Bang Québec (Canada): “Hợp đồng là sự thống nhất ý chí, theo đó một
hoặc nhiều chủ thể phải thực hiện những cam kết đã định vì lợi ích của một
hoặc nhiều chủ thể khác”. Định nghĩa này đã thể hiện rõ bản chất của hợp
đồng là sự thỏa thuận và thống nhất ý chí. Nhưng đây mới chỉ là điều kiện
cần, định nghĩa hợp đồng của BLDS Québec chưa chỉ ra được dấu hiệu đặc
trưng nhất của hợp đồng là sự ràng buộc pháp lý về quyền và nghĩa vụ giữa

9
các bên. Luật Hợp đồng Trung Quốc năm 1999 quy định tại Điều 2 về hợp
đồng như sau: “Hợp đồng theo quy định của luật này là sự thỏa thuận về việc
xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự giữa các chủ thể bình
đẳng tự nhiên nhân, các tổ chức khác. Các thỏa thuận liên quan đến quan hệ
hôn nhân, nhận con nuôi, giám hộ… thích dụng với quy định của các luật
khác”. Quy định Hợp đồng của pháp luật Trung Quốc hơi dài nhưng về mặt
bản chất và nội dung tương tự như định nghĩa hợp đồng của BLDS Việt Nam.
Hợp đồng là một loại giao dịch dân sự, là căn cứ pháp lý làm phát sinh,
thay đổi và chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự. Hiểu theo nghĩa rộng hơn thì

lẽ nếu đặt từ “dân sự” ngay sau từ “hợp đồng” dễ gây hiểu nhầm theo nghĩa
hẹp, khái niệm hợp đồng dân sự ở đây là một loại hợp đồng như là các là hợp
đồng khác như: hợp đồng thương mại, hợp đồng kinh tế…Trong khi đó khái
niệm “hợp đồng dân sự” được các nhà làm luật xây dựng với mục đích để chỉ
tất cả các loại hợp đồng, vì theo nghĩa rộng dân sự bao gồm cả các lĩnh vực:
kinh tế, thương mại, lao động, hôn nhân, gia đình [9, Điều 1]
Bộ luật dân sự Việt Nam không quy định về khái niệm hành vi pháp lý
đơn phương, tuy nhiên dựa trên góc độ khoa học và theo quy định của Điều
131 BLDS 2005 về “Giao dịch dân sự” thì có thể hiểu hành vi pháp lý đơn
phương là hoạt động thể hiện ý chí của một bên nhằm phát sinh, thay đổi hoặc
chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự mà không phụ thuộc vào ý chí của bên kia.
Ví dụ như: một người lập di chúc để lại di sản thừa kế….Nếu đặt trong phạm
vi rộng thì định nghĩa hành vi pháp lý đơn phương như trên là khá đúng đắn
và có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, cần phải đặt ra câu hỏi là mọi hành vi
pháp lý đơn phương có phải là giao dịch dân sự không? Theo tác giả thì một
số hành vi pháp lý đơn phương không được coi là giao dịch dân sự, bởi các lý
do sau đây:
- Xem xét quy định tại Điều 249 BLDS 2005 về Từ bỏ quyền sở hữu
như sau: “Chủ sở hữu có thể tự chấm dứt quyền sở hữu đối với tài sản của
mình bằng cách tuyên bố công khai hoặc thực hiện hành vi chứng tỏ việc
mình từ bỏ quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản đó”. Tác giả đồng

11
ý với việc đây cũng được xem là một hành vi pháp lý đơn phương. Tuy nhiên,
cần phải xem xét hành vi pháp lý đơn phương trên có phải là giao dịch dân sự
hay không? Theo tác giả thì hành vi từ bỏ quyền sở hữu theo quy định tại
Điều 249 BLDS 2005 không phải là giao dịch dân sự. Bởi lẽ hành vi này
không làm phát sinh bất kỳ giao dịch dân sự nào. Hay nói cách khác về phía
người tuyên bố từ bỏ quyền sở hữu sẽ chấm dứt quyền sở hữu đối với tài sản
của mình tuy nhiên hành vi này cũng không thể xác định sẽ phát sinh quyền

đang trong quá trình soạn thảo Bộ luật dân sự sửa đổi và chế định giao dịch
dân sự rất được quan tâm. Dự thảo Bộ luật dân sự đã đề cập đến việc thay đổi
thuật ngữ: “Giao dịch dân sự” thành thuật ngữ “Hành vi pháp lý”. Một số nhà
khoa học pháp lý cho rằng: thuật ngữ hành vi pháp lý rộng hơn thuật ngữ giao
dịch dân sự và bao quát được hết các hành vi pháp lý được thực hiện trong
giao lưu dân sự. Tác giả không đồng tình với nhận định trên và cho rằng giữ
nguyên thuật ngữ giao dịch dân sự theo quy định của BLDS 2005 sẽ có nhiều
thuận lợi và tích cực hơn, bởi các lý do sau:
- Thuật ngữ “giao dịch dân sự” đặc biệt là thuật ngữ “giao dịch” đã
được sử dụng trong suốt thời gian dài của nền kinh tế - xã hội Việt Nam và ăn
sâu vào tiềm thức của người dân. Trong cuộc sống hàng ngày thuật ngữ này
được sử dụng khá nhiều và phổ biến. Nó chính thức được thừa nhận với một
khái niệm hoàn chỉnh tại BLDS năm 1995. Vì vậy, với một thuật ngữ đã được
sử dụng nhiều và không gây ra nhiều những bất cập trong quá trình áp dụng
pháp luật thì việc thay thế sẽ gây ra những tác động về mặt tiêu cực không
nhỏ. Nếu các nhà làm luật thay thế thuật ngữ “hành vi pháp lý” cho thuật ngữ
“giao dịch dân sự” sẽ kéo theo hàng loạt văn bản pháp lý có liên quan phải
sửa đổi những nội dung liên quan đến giao dịch dân sự. Ngoài ra, với một
thuật ngữ mới xa lạ trong đời sống hàng ngày thì chúng ta phải tổ chức tuyên
truyền sâu rộng để người dân biết và hiểu, do vậy quá trình này sẽ tốn nhiều
thời gian và tiền bạc.
- Hiện nay, nhiều nước trên thế giới có nền kinh tế - xã hội phát triển
hơn Việt Nam đang sử dụng thuật ngữ “giao dịch dân sự” và thuật ngữ này

13
vẫn có thể bao quát được nhiều hành vi xử sự của con người trong xã hội. Vì
vậy, tác giả cho rằng tại thời điểm hiện tại việc đưa ra một thuật ngữ mới là
“hành vi pháp lý” không cần thiết, trong khi thuật ngữ “giao dịch dân sự” vẫn
còn phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội và nền khoa học pháp lý của nước
ta và trên thế giới.

hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự được gọi là hợp đồng. Như vậy, theo
tác giả thì hành vi của chủ sở hữu hoặc người có quyền khác tác động trực
tiếp lên tài sản thuộc quyền của mình mà làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm
dứt quyền, nghĩa vụ dân sự là hành vi pháp lý đơn phương Đối với hành vi
kết hôn, ly hôn, cấp dưỡng… đều là hành vi của hai bên xác lập nhằm phát
sinh quan hệ hôn nhân, chấm dứt quan hệ hôn nhân hoặc phát sinh quan hệ

14
cấp dưỡng. Vì vậy về mặt bản chất có thể được coi như một loại hợp đồng.
Tác giả đồng tình với quan điểm này và cho rằng kết hôn là một loại hợp
đồng đặc biệt. Tại nhiều nước phương Tây, kết hôn được coi là một dạng hợp
đồng nhưng tại các nước Châu Á như Việt Nam do truyền thống văn hóa lâu
đời còn có nhiều tác động đến pháp luật nên vấn đề kết hôn chưa được thừa
nhận là hợp đồng. Qua phân tích trên đây tác giả muốn khẳng định rằng nếu
hành vi nào thỏa mãn khái niệm, bản chất, dấu hiệu, đặc điểm của giao dịch
dân sự thì là giao dịch dân sự và không phụ thuộc vào việc hành vi đó có phù
hợp với tên thuật ngữ giao dịch hay không. Việc xem xét để thay đổi một
thuật ngữ pháp lý đã được sử dụng lâu đời bằng một thuật ngữ pháp lý mới
với lý do một bộ phận không phù hợp với tên gọi đó là điều không cần thiết.
Nên chăng đối với những trường hợp đặc biệt hay ngoại lệ thì các nhà làm
luật nên có những quy định riêng để tạo điều kiện cho việc áp dụng pháp luật
được dễ dàng hơn.
1.1.2. Đặc điểm của giao dịch dân sự
Theo như khái niệm về Giao dịch dân sự đã phân tích ở trên, có thể
thấy Giao dịch dân sự có những đặc điểm chung như sau:
1.1.2.1. Thể hiện ý chí của các bên tham gia giao dịch
Trong giao dịch dân sự có ý chí và thể hiện ý chí, nguyện vọng của chủ
thể tham gia giao dịch. Ý chí là nguyện vọng, mong muốn chủ quan của con
người mà nội dung của nó được xác định bởi nhu cầu vật chất hoặc tinh thần
của bản thân họ. Đồng thời, ý chí phải được thể hiện ra bên ngoài bằng một

dân sự mà chủ thể đó không muốn. Một chủ thể khi đang mong muốn đạt
được một nhu cầu vật chất hoặc tinh thần nhất định, họ sẽ tự nguyện tham gia
vào một giao dịch dân sự để đạt được điều đó. Tuy nhiên, chủ thể đó cũng
phải có năng lực hành vi dân sự theo luật định để đủ tư cách tham gia vào
giao dịch dân sự. Đối với những người hạn chế năng lực hành vi dân sự và
người mất năng lực hành vi dân sự pháp luật đã quy định họ chỉ được tham
gia một số giao dịch nhất định phù hợp với ý chí của họ hoặc thông qua người
đại diện. Vậy một vấn đề đặt ra là quy định này có vi phạm sự tự nguyện của

16
đối tượng chủ thể này không? Theo tác giả thì quy định này cũng nhằm đảm
bảo tính công bằng và sự tự nguyện cho các chủ thể này. Bởi lẽ, theo góc độ y
khoa họ không nhận thức hoặc làm chủ được hành vi của mình, không nhận
thức đúng đắn về một vấn đề phức tạp, từ đó nếu để các chủ thể này tham gia
vào tất cả các loại giao dịch thì có thể họ sẽ gặp phải sự lừa đảo, lừa dối trong
quan hệ dân sự.
Sự tự nguyện cũng là nguyên tắc cơ bản của quan hệ pháp luật dân sự.
Trong quan hệ dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được áp
đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào [9, Điều 4]. Do vậy, trong
các giao dịch dân sự nếu thiếu yếu tố này không thể coi là giao dịch được.
Tuy nhiên, trong thực tiễn sự tự nguyện này mang tính tương đối.
Trong một số loại giao dịch thì chủ thể sử dụng dịch vụ không có sự lựa chọn
nào khác và buộc phải lựa chọn một chủ thể cung cấp dịch vụ nhất định. Điều
này thường xảy ra đối với các dịch vụ độc quyền của nhà nước. Khách hàng
thể hiện sự chấp nhận của mình qua việc ký hợp đồng mà không được thay
đổi hoặc thỏa thuận sửa đổi bất kỳ một điều khoản nào của hợp đồng do bên
cung cấp đã soạn sẵn.
1.1.2.3. Nội dung của giao dịch dân sự không được trái với pháp luật
và đạo đức xã hội
Pháp luật tôn trọng sự thỏa thuận và sự tự nguyện của các chủ thể tham

nhà làm luật cần quy định rõ hơn về khái niệm đạo đức xã hội.
Tóm lại, ý chí và sự tự nguyện của chủ thể đảm bảo cho giao dịch thể
hiện đúng ý chí của các bên tham gia. Nội dung không trái với pháp luật và
đạo đức xã hội để đảm bảo cho một giao dịch hợp pháp, được pháp luật công
nhận. Vì vậy, đây là những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên một giao dịch
dân sự hợp pháp.
Bên cạnh đó, thông qua khái niệm và đặc điểm của giao dịch dân sự tác
giả cũng nhận thấy được một số ý nghĩa quan trọng của chế định giao dịch
dân sự trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay. Thứ nhất, việc xây dựng

18
chế định giao dịch là công cụ pháp lý quan trọng bảo đảm an toàn cho các chủ
thể tham gia giao dịch nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất, tinh thần của mình
trong xã hội hiện nay. Khi các bên tham gia giao dịch có quyền tự do giao kết,
tự nguyện tham gia giao dịch nhưng sự tự do này đều được đặt trong khuôn
khổ của pháp luật. Các quy định về điều kiện để các chủ thể tham gia giao
dịch; quy định về các biện pháp chế tài đối với các giao dịch không tuân theo
các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự…là công cụ bảo vệ trật tự công
và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho các chủ thể tham gia giao dịch. Thứ
hai, chế định giao dịch đảm bảo cho việc quản lý của nhà nước đối với quan
hệ giao dịch dân sự, góp phần ổn định trật tự xã hội. Với những ý nghĩa nêu
trên nên giao dịch dân sự chiếm một vị trí khá quan trọng trong hệ thống pháp
luật của nước ta từ xưa đến nay.
1.2. Khái niệm về hình thức giao dịch dân sự
Trước hết, hình thức được hiểu là: “cái bên ngoài, cái chứa đựng nội
dung” [87, Tr.809]. Hay nói cách khác hình thức nhằm biểu đạt nội dung, nếu
nội dung không được thể hiện bằng một hình thức nhất định thì nội dung mãi
chỉ là ý chí, mong muốn trong tiềm thức của con người. Với đặc điểm như
vậy hình thức có một ý nghĩa khá quan trọng trong thế giới khách quan.
Yếu tố cơ bản để tạo ra giao dịch dân sự là ý chí của chủ thể, sự bày tỏ

hội và đảm bảo trật tự kinh tế thị trường.
Hình thức giao dịch được quy định trong pháp luật của hầu hết các
quốc gia. Nhưng cách thể hiện và sự thừa nhận yếu tố này trong pháp luật của
các nước lại không giống nhau. Trên thế giới việc quy định về hình thức giao
dịch dân sự đang được tiếp cận ở hai khuynh hướng.
Thứ nhất, một số nước quy định hình thức nhất định cho một số loại
giao dịch, nếu vi phạm quy định này thì giao dịch đó vô hiệu. Tiêu biểu cho
xu hướng này là: Đức, Thái Lan….Theo Điều 115 Bộ luật dân sự và thương
mại Thái Lan năm 1995 thì: “Một hành vi pháp lý không theo đúng hình thức
quy định của pháp luật thì vô hiệu”. Có thể nói rằng, quy định này là cơ sở để
tạo nên chứng cứ khi có tranh chấp về giao dịch dân sự. Đồng thời, cũng là để

20
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Tại pháp luật dân sự của các
quốc gia này, hình thức của giao dịch là một yếu tố quan trọng và được các
nhà làm luật xây dựng khá tỉ mỉ và chặt chẽ.
Thứ hai, một số quốc gia có quy định về hình thức của giao dịch nhưng
yếu tố hình thức không được coi là một điều kiện để xác định hiệu lực của
giao dịch dân sự. Đại diện cho khuynh hướng này là: Pháp, Nhật Bản…Theo
pháp luật Nhật Bản đã quy định: “Mặc dù nhà nước yêu cầu tuân thủ hình
thức đặc biệt, thì giao dịch pháp lý vẫn hoàn toàn có đặc điểm không theo
một hình thức bắt buộc nào” [12, tr.118] . Đồng thời, cũng theo nguyên tắc
của BLDS Nhật Bản thì nguyên tắc tự do giao dịch dân sự thừa nhận cả việc
tự do lựa chọn hình thức giao kết. Cách quy định này có ưu điểm tạo ra khung
pháp luật mở cho các chủ thể tham gia giao dịch tự do lựa chọn hình thức
giao dịch nhất định. Tuy nhiên, trong trường hợp xảy ra tranh chấp thì với
một số giao dịch dân sự có giá trị lớn, việc không tuân thủ theo hình thức mà
pháp luật quy định sẽ khiến các chủ thể không có chứng cứ đủ điều kiện pháp
lý để chứng minh trước tòa. Vì vậy, trong thực tiễn khi tham gia các giao dịch
quan trọng, có giá trị tài sản lớn các chủ thể thông thường đều chọn hình thức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status