Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn thành phố hồ chí minh - Pdf 65

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

NGUYỄN HỮU TRUNG

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN HỮU TRUNG

LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

TỘI CHO VAY LÃI NẶNG TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM - TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

KHÓA VIII.2

HÀ NỘI - 2020


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN HỮU TRUNG

TỘI CHO VAY LÃI NẶNG TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM - TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Luật học – Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: LH VIII.2 – 082

23

Chương 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ TỘI CHO VAY
LÃI NẶNG TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH

33

2.1. Khái quát tình hình xét xử sơ thẩm các vụ án về tội cho vay lãi nặng
trong giao dịch dân sự tại thành phố Hồ Chí Minh

34

2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự trong xét xử các vụ án về tội cho
vay lãi nặng trong giao dịch dân sự tại thành phố Hồ Chí Minh

34

Chương 3 YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO ÁP DỤNG ĐÚNG
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI CHO VAY LÃI NẶNG TRONG GIAO
DỊCH DÂN SỰ

54

3.1. Yêu cầu

54

3.2. Các giải pháp


: Toà án nhân dân Tối cao

TANDCC

: Toà án nhân dân Cấp cao

TNHS

: Trách nhiệm hình sự

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa

Nxb

: Nhà xuất bản


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới kinh tế, Đảng và Nhà
nước ta luôn luôn nỗ lực tìm kiếm các giải pháp nhằm đưa nền kinh tế nước
nhà phát triển một cách toàn diện và hội nhập có hiệu quả với nền kinh tế thế
giới. Những giải pháp đưa ra và được thực hiện trên thực tế đã thu được
những kết quả khả quan, trong đó có những biện pháp quy định về hoạt động
cấp tín dụng, cho vay dân sự và sâu hơn là những quy định ràng buộc về lãi
suất. Việc điều chỉnh lãi suất hợp lí sẽ giúp phát triển nền kinh tế. Tuy nhiên,
hiện nay những quy định của pháp luật về hợp đồng vay và đặc biệt là lãi suất
cho vay có những bất cập nhất định. Những bất cập đó thể hiện ở chỗ những

phát triển kinh tế của đất nước. Quá trình xử lý gặp khó khăn, diễn ra chậm
chạp có một phần nguyên nhân do quy định của pháp luật có liên quan chưa
thực sự rõ ràng. Tuy BLHS mới ra đời và sự đổi mới trong quy định về loại
tội phạm này tại Điều 201 đã cơ bản khắc phục được những bất cập của
BLHS trước đó (Điều 163) nhưng với thực trạng CVLN trong giao dịch dân
sự ngày càng biến tướng theo chiều hướng tinh vi, mở rộng quy mô thì quy
định của BLHS mới đã bộc lộ một số bất cập. Do đó việc xử lý, ngăn chặn tệ
nạn CVLN trong giao dịch dân sự là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách cần phải
được giải quyết ngay góp phần thúc đẩy công cuộc phòng chống tội phạm
kinh tế phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước, bài trừ tệ nạn xã hội, đảm
bảo an ninh kinh tế cho đất nước.
CVLN trong giao dịch dân sự là một rào cản lớn trong phát triển nền
kinh tế nước ta, vì vậy cần phải tăng cường phòng chống, xử lý nạn CVLN
trong giao dịch dân sự để ổn định nền kinh tế. Tuy nhiên cơ sở lý luận về tội
CVLN trong giao dịch dân sự trong pháp luật hình sự là gì? Pháp luật quy
định và thực tiễn áp dụng pháp luật vào thực tế có phù hợp và hiệu quả
không? Xung quanh tội CVLN trong giao dịch dân sự còn có những quan

2


điểm lý luận và những quan hệ xã hội nào còn chưa được pháp luật cụ thể
hóa? v.v. là những vấn đề cần được nghiên cứu, giải đáp.
Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những đầu tàu kinh tế phía nam
cũng như cả nước, nhưng sự phát triển đó cũng đồng thời kéo theo nhiều hệ
lụy. Tình hình tội phạm nói chung, tình hình các tội xâm phạm trật tự quản lý
kinh tế nói riêng ở thành phố Hồ Chí Minh diễn biến phức tạp, gây thiệt hại
nhiều mặt cho đời sống xã hội. Các cơ quan tố tụng, đặc biệt là ngành TAND
đã rất nỗ lực trong công tác điều tra, truy tố, xét xử tội phạm, thu được nhiều
kết quả. Nhưng do nhiều nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan, việc áp dụng

Ngọc Hòa làm chủ biên, được Nxb. Tư pháp phát hành năm 2018.
- Theo tìm hiểu của học viên, hiện tại chưa có công trình nghiên cứu
khoa học chuyên sâu về tội phạm cụ thể này mà chủ yếu các tác giả nghiên
cứu những khía cạnh khác nhau về Tội CVLN trong giao dịch dân sự trong
các bài báo khoa học, như: bài viết “Tội cho vay lãi nặng - những bất cập của
Bộ luật Hình sự và giải pháp khắc phục” của tác giả Nguyễn Văn Hương,
Tạp chí Tòa án nhân dân số 19 năm 2004; bài viết “Về tội làm tiền giả, tội
tàng trữ tiền giả, tội phá hủy tiền tệ, tội cho vay nặng lãi” của tác giả Phạm
Thanh Bình, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 132 năm 1999.
Ngoài ra có một số tác giả nghiên cứu về hành vi này ở góc độ luật dân
sự hoặc nghiệp vụ tài chính – ngân hàng. Có thể kể đến các bài báo, như: bài
viết “Giải pháp ngăn chặn hữu hiệu hoạt động tín dụng đen” của tác giá
Nguyễn Thanh Cai, Tạp chí Tài chính số 706 tháng 6/2019; bài “Giải pháp
ngăn chặn tín dụng đen” của tác giả Trần Thị Hồng Vân, Tạp chí Tài chính
số 621 tháng 11/2015; bài “Phát triển tín dụng vi mô - Giải pháp đẩy lùi "tín
dụng đen" ở Việt Nam” của tác giả Bùi Diệu Anh, Tạp chí Tài chính số 630
tháng 4/2016;…
Như vậy, mặc dù có nhiều công trình khoa học đề cập đến Tội CVLN
trong giao dịch dân sự ở các phương diện, cấp độ và cách tiếp cận khác nhau,

4


song do mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của các công trình đó nên
đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên
sâu Tội CVLN trong giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 201 BLHS năm
2015 từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh. Vì vậy học viên nhận thấy đề tài
luận văn này không trùng lặp với các công trình nghiên cứu trước đây.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu

- Về lý luận: Luận văn tập trung trong phạm vi hệ thống lý luận chuyên
ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự.
- Về thực tiễn: Luận văn tập trung nghiên cứu thực tiễn định tội danh và
quyết định hình phạt đối với Tội CVLN trong giao dịch dân sự, chủ yếu ở giai
đoạn xét xử.
- Về không gian: địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
- Về thời gian: từ năm 2018 (thời điểm BLHS năm 2015 có hiệu lực thi
hành) đến đầu năm 2020.
5. Phương pháp luận về phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà
nước về pháp luật và sử dụng pháp luật trong đấu tranh phòng, chống tội
phạm. Ngoài ra còn dựa trên hệ thống lý luận chuyên ngành Luật hình sự và
tố tụng hình sự.
5.2 Các phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu như: phân tích,
tổng hợp, so sánh, thống kê,v.v để phân tích, đánh giá, giải quyết những vấn

6


đề được đặt ra.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể góp phần làm
rõ thêm cho hệ thống lý luận chuyên ngành luật hình sự về Tội CVLN trong
giao dịch dân sự.
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể tham khảo
trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đấu tranh phòng, chống tội phạm
mà cụ thể là đấu tranh phòng, chống tội phạm CVLN trong giao dịch dân sự.

triển của tội CVLN trong giao dịch dân sự.
1.1. Những vấn đề lý luận về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch
dân sự
1.1.1. Khái niệm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
1.1.1.1. Khái niệm về tội phạm
Khái niệm tội phạm là một trong những vấn đề quan trọng nhất của luật
hình sự. Chế định tội phạm là chế định trung tâm thể hiện rõ nét bản chất giai
cấp, các đặc điểm chính trị, xã hội cũng như pháp lý của luật hình sự ở mỗi
nước. Tội phạm là một hiện tượng xã hội, cho nên khái niệm của nó luôn luôn
gắn liền với sự phát triển xã hội và ngày càng được nghiên cứu hoàn thiện.
Hiện nay, một số quốc gia trên thế giới có quy định khái niệm tội phạm
trong Bộ luật hình sự, tuy nhiên cũng có một số quốc gia không đưa khái
niệm tội phạm vào Bộ luật hình sự.

8


Cụ thể: BLHS Cộng hòa Liên bang Đức không có điều luật về khái
niệm tội phạm nhưng có cả một chương quy định về hành vi phạm tội. Trong
đó, các quy định tập trung vào các vấn đề như: chủ thể của tội phạm, vấn đề
lỗi và các trường hợp sai lầm, vấn đề thực hiện qua không hành động và vấn
đề thực hiện cho người khác, các căn cứ biện hộ, phạm tội chưa đạt, người
thực hiện phạm tội và người tòng phạm. Hay như ở Cộng hòa Pháp, trong
Phần chung của Bộ luật hình sự không nêu các dấu hiệu của hành vi phạm tội.
Tuy nhiên, tại Phần các tội phạm lại quy định các dấu hiệu của hành vi phạm
tội,v.v.
Tại Việt Nam, tuy vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về việc
có cần thiết phải đưa khái niệm tội phạm vào BLHS hay không. Nếu quy định
thì nên theo hướng nào.v.v. Nhưng về mặt lập pháp, khái niệm tội phạm đã
được quy định tại Điều 8 BLHS năm 2015 trên cơ sở kế thừa quy định của

quyền chính đáng của công dân tránh sự tùy nghi không có cơ sở từ các cơ
quan có thẩm quyền.
- Thứ tư, tội phạm phải chịu hình phạt.
Bất kỳ một hành vi phạm tội nào cũng bị áp dụng một hình phạt đã
được quy định trong Bộ luật hình sự.
Một người thực hiện các hành vi có đủ 4 dấu hiệu trên thì được coi là
tội phạm.
1.1.1.2. Khái niệm về cho vay
Ngày nay, để phát triển kinh tế nhằm nâng cao đời sống vật chất của
người dân thì việc đầu tư nguồn vốn để phát triển kinh tế đồng thời tìm kiếm
nguồn vốn, tài chính để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống hàng ngày là gần như
bắt buộc. Với nguồn tài chính dồi dào nhằm để hổ trợ giúp đỡ cho người khác
và tăng nguồn thu nhập cho bản thân, nhiều cá nhân, tổ chức đã tận dụng

10


nguồn vốn của mình cho các chủ thể khác vay, mượn để sinh hoạt và sản
xuất. Để hiểu rõ thuật ngữ cho vay, người viết đưa ra một số khái niệm được
chấp nhận rộng rãi tại Việt Nam về cho vay như sau:
BLDS năm 2015 định nghĩa như sau về hợp đồng vay tài sản: “Hợp
đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài
*

*

*

sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài
*

định trong một thời gian nhất định theo sự thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn
*

*

*

*

trả cả gốc và lãi” (khoản 16 Điều 4).
Ngoài ra, theo Từ điển luật học thì cho vay được hiểu là: “Bên cho vay
giao cho bên vay một khoản tiền hoặc vật cùng loại để làm sở hữu trong thời
hạn hoặc các bên đã thỏa thuận. Cho vay có thể có lãi hoặc không có lãi,
người vay chỉ phải trả lãi nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy
định”1.
Theo Từ điển Tiếng Việt thì cho vay là: “đưa tiền cho vay trong một
thời hạn nhất định rồi trả cả vốn lẫn tỷ suất lại”2. Theo Từ điển Tưởng giải
và liên tưởng thì khái niệm cho vay là “tạm cho người khác sử dụng một
khoản tiền hoặc vật dụng và sẽ được hoàn lại theo thỏa thuận”3.
Từ các khái niệm pháp lý và khái niệm trong từ điển Việt Nam, tác giả
đưa ra khái niệm về cho vay như sau: cho vay là việc một người (người cho
1

Từ điển luật học, Nxb Từ điển Bách Khoa,tr.143

2

Nguyễn Như Ý, Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, tr.371

3

phát sinh hậu quả pháp lí. Tuỳ từng giao dịch cụ thể mà làm phát sinh, thay
đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự. Giao dịch là hành vi có ý thức của

12


chủ thể nhằm đạt được mục đích nhất định, cho nên giao dịch dân sự là hành
vi mang tính ý chí của chủ thể tham gia giao dịch, với những mục đích và
động cơ nhất định.
Trong giao dịch dân sự ý chí và sự thể hiện ý chí của chủ thể tham gia
giao dịch là vô cùng quan trọng. Ý chí là nguyện vọng, mong muốn chủ quan
bên trong của con người mà nội dung của nó được xác định bởi các nhu cầu
về sản xuất, tiêu dùng của bản thân họ. Ý chí phải được thể hiện ra bên ngoài
dưới một hình thức nhất định để các chủ thể khác có thể biết được ý chí của
chủ thể muốn tham gia đã tham gia vào một giao dịch dân sự cụ thể. Bởi vậy,
giao dịch dân sự phải là sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí. Thiếu sự
thống nhất này, giao dịch dân sự có thể bị tuyên bố là vô hiệu hoặc sẽ vô hiệu.
Điều này không chỉ đúng với cá nhân mà đúng với cả pháp nhân, hộ gia đình,
tổ hợp tác. Bởi khi xác lập giao dịch dân sự các chủ thể này đều thông qua
người đại diện. Người đại diện thể hiện ý chí của pháp nhân, hộ gia đình, tổ
hợp tác trong phạm vi thẩm quyền đại diện.
1.1.1.4. Khái niệm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Với nhu cầu vay vốn để tiến hành hoạt động sản xuất cũng như tiêu
dùng, sinh hoạt ngày càng tăng cao, một số đối tượng, tổ chức đã lợi dụng vào
các hoàn cảnh khó khăn, cấp thiết hoặc sự thiếu kiến thức về quan hệ cho
vay/cấp tín dụng của người khác để tiến hành cho vay và đặt ra mức lãi suất
rất cao làm cho người vay gặp nhiều khó khăn, khó có thể trả xong khoản tiền
đã vay.
Hành vi CVLN trong giao dịch dân sự được ghi nhận với tư cách là tội
phạm lần đầu tiên tại Điều 171 BLHS năm 1985, sau đó tiếp tục được ghi

phần không nhỏ trong việc đưa những đối tượng CVLN trong giao dịch dân
sự ra xử lý trước pháp luật.
Từ những phân tích trên và quy định của BLHS năm 2015 học viên đưa
ra khái niệm về tội CVLN trong giao dịch dân sự như sau: Tội CVLN trong

14


giao dịch dân sự là hành vi do cá nhân từ 16 tuổi thực hiện, cho chủ thể khác
vay một số tiền với lãi suất gấp từ 05 lần trở lên mức lãi suất cao nhất được
quy định trong BLDS, và sau khi trừ đi khoản lãi suất được pháp luật cho
phép thì người đó thu được số tiền từ 30.000.000 đồng trở lên được coi là tội
phạm theo quy định của Bộ luật hình sự.
Ví dụ: ông A cho ông B vay 100.000.000 đồng với thỏa thuận lãi suất
là cứ 1.000.000 đồng được vay thì ông B phải trả lãi 10.000 đồng/ngày, tương
đương lãi suất của khoản vay là 30.000.000/tháng = 30%/tháng = 360%/năm.
Trong khi tại thời điểm giao kết hợp đồng vay, BLDS quy định lãi suất theo
thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp
luật khác có liên quan quy định khác. Tức là mức lãi suất cao nhất pháp luật
cho phép đối với hợp đồng vay tại thời điểm đó là 100%/năm của khoản tiền
vay. Như vậy mức 360%/năm mà các bên thỏa thuận đã vượt hơn 05 lần mức
lãi suất cao nhất quy định trong BLDS (100%/năm), và nếu vay trong vòng 01
năm thì ông A thu lợi trên 30.000.000 đồng Do đó hành vi của ông A có dấu
hiệu phạm tội CVLN trong giao dịch dân sự.
1.1.2. Đặc điểm của tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tội CVLN trong giao dịch dân sự được quy định tại Điều 201 thuộc
chương XVIII các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của BLHS năm 2015
cũng giống như những tội phạm khác đều có các đặc điểm riêng biệt để phân
biệt với các tội phạm khác.
Tội CVLN trong giao dịch dân sự có các đặc điểm cơ bản sau:

những đối tượng này, vì lợi ích vật chất đem lại, họ sẵn sàng ép người đi vay
vào đường cùng, mặc cho hành vi của họ có vi phạm pháp luật hay không.
Đối tượng CVLN trong giao dịch dân sự thường không có đăng ký kinh
doanh, cũng như không có giấy phép kinh doanh nhưng họ vẫn cố ý thực hiện
hành vi cho vay trái pháp luật đó.

16


Thứ sáu, người CVLN trong giao dịch dân sự thường có mối quan hệ
rộng rãi, có kinh nghiệm, hiểu biết pháp luật, một số trường hợp thậm chí có
quan hệ với những người có quyền lực trong cơ quan nhà nước,… nên dễ thực
hiện hành vi cho vay và khó phát hiện hành vi CVLN trong giao dịch dân sự
đó.
1.1.3. Dấu hiệu của tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
1.1.3.1. Khách thể
Khách thể của tội phạm này là trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ,
nằm trong nhóm quan hệ xã hội trật tự quản lý kinh tế.
“Có ý kiến cho rằng, ngoài lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, tội CVLN trong
giao dịch dân sự còn bao gồm cả lĩnh vực kinh doanh khác như: cho thuê tài
sản (kể cả bất động sản và động sản), vì trên thực tế không chỉ cho vay tiền
mà còn cho thuê, mướn tài sản với số tiền thuê rất cao và cũng có tính chất
bóc lột, nếu chỉ giới hạn trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ thì chưa đáp ứng
được tình hình, nhất là trong một nền kinh tế thị trường”4. Tuy nhiên, hiện tại
lĩnh vực cho thuê tài sản chưa được quy định vì các nhà làm luật không cho
rằng cho thuê tài sản thuộc nội hàm của khái niệm CVLN trong giao dịch dân
sự, dù xét đến cùng về bản chất thì hành vi cho thuê tài sản cũng là hành vi
cho vay, giống như cho vay tiền tệ. Thực chất thì cho vay cũng giống như cho
người khác thuê số tiền đó để làm ăn, để sinh hoạt, hiện không có khái niệm
cho thuê tiền tệ mà chủ yếu gọi là cho vay, hơn nữa việc cho vay tiền còn phải

hợp đồng vay được xác định như sau:
“1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa
*

thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm

*

*

*

*

*

của khoản tiền vay, trừ trường hợp pháp luật liên quan có quy định khác.

*

*

*

*

*

*


*

*

*

*

18

*

*


2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác
định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng
50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả
nợ”.
Như vậy, theo quy định về mức lãi suất tối đa của BLDS, nếu lãi suất
cho vay gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất tối đa nói trên, tức là từ
100%/năm khoản tiền vay trở lên thì hành vi cho vay có dấu hiệu của Tội
CVLN trong giao dịch dân sự. Tuy nhiên số tiền thu lợi bất chính có được từ
hành vi này phải từ 30.000.000 đồng trở lên. Nếu trong giao dịch dân sự,
người cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy
định trong BLDS nhưng thu lợi bất chính dưới 30.000.000 đồng thì hành vi
không cấu thành tội phạm này.
Tội phạm hoàn thành kể từ thời điểm cho vay với thỏa thuận mức lãi
suất rất cao như luật định và người cho vay đã thu lợi bất chính với số tiền từ
30.000.000 đồng. Nếu các bên đã giao kết hợp đồng vay với mức lãi suất như

Đã bị xử phạt hành chính về hành vi CVLN mà còn vi phạm, là trường
hợp, trước khi thực hiện hành vi CVLN trong giao dịch dân sự, người phạm
tội đã bị xử phạt hành chính cũng về hành vi CVLN trong giao dịch dân sự
bằng một trong các hình thức được quy định trong Luật Xử lý vi phạm hành
chính do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dung mà chưa quá một năm;
nếu người phạm tội bị xử phạt hành chính về hành vi khác mà không phải là
CVLN trong giao dịch dân sự thì không thuộc trường hợp quy định tại Điều
này.
Đối với trường hợp đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được
xoá án tích mà còn vi phạm là trước khi thực hiện hành vi CVLN trong giao
dịch dân sự, người phạm tội đã bị Toà án kết án về tội này nhưng chưa được
xoá án tích theo quy định tại Chương X Bộ luật hình sự; nếu người phạm tội
bị kết án về tội phạm khác mà không phải tội CVLN trong giao dịch dân sự

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status