BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
[\
NGUYỄN THỊ SÁU
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA BỆNH SÁN LÁ
GAN DO FASCIOLA SPP. TRÊN ĐÀN BÒ THỊT NUÔI
TẠI HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2014
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung
thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện đề tài nghiên cứu
và hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn.
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều chính xác
và được chỉ rõ nguồn gốc.
Ninh Bình, ngày 28 tháng 10 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Thị Sáu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page ii
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
MỞ ĐẦU 1
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục đích của đề tài 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Đặc điểm sinh học của sán lá gan lớn 3
1.1.1. Phân loại sinh học 3
1.1.2. Đặc điểm hình thể 3
1.1.3. Vòng đời phát triển của Fasciola spp. 5
1.1.4. Đặc điểm hình thái các giai đoạn phát triển của Fasciola 7
1.2. Tình hình dịch tễ của sán lá gan lớn 12
1.3. Cơ chế phát bệnh của sán lá gan lớn 14
1.4. Triệu chứng, bệnh tích và chẩn đoán bệnh sán lá gan lớn. 16
1.4.1. Triệu chứng 16
1.4.2. Bệnh tích 17
1.4.3. Chẩn đoán 19
1.4.4. Phòng và
điều trị bệnh sán lá gan lớn 21
1.5. Tình hình nghiên cứu về bệnh sán lá gan lớn 24
1.5.1. Những nghiên cứu về bệnh sán lá gan lớn trên thế giới 24
3.3. Tình hình nhiễm sán lá gan lớn ở vật chủ trung gian 48
3.3.1. Kết quả thu thập ốc Lymnaea tại 10 xã điều tra 48
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page v
3.3.2. Xác định vật chủ trung gian của Fasciola gigantica 50
3.4. Tình hình nhiễm ấu trùng nang (Adolescaria) ở cây thủy sinh tring
vùng nghiên cứu 51
3.5. Triệu chứng, bệnh tích của bò nhiễm sán lá gan lớn 52
3.5.1. Triệu chứng của bò nhiễm sán lá gan lớn 52
3.5.2. Bệnh tích của gan bò thịt nhiễm sán lá gan lớn 55
3.6. Nghiên cứu tác dụng tẩy sán lá gan của một số loại thuốc 63
3.6.1. Xác định tác dụng tẩy sán lá gan của một số thuốc đã sử d
ụng nhiều
năm qua 63
3.6.2. Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh sán lá gan lớn cho bò ở huyện
Nho Quan – Ninh Bình. 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vi
DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang
3.1: Số đo sán lá gan lớn thu thập từ các điểm nghiên cứu 42
3.2. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan trên bò nuôi tại 10 xã thuộc huyện
3.1. Hình Ốc Lymnae swinhoei 49
3.2. Hình Ốc Lymnae viridis 50
3.3. Bò gầy, lông xơ xác 55
3.4. Con vật ỉa chảy, phân nhão 55
3.5. Gan hoại tử, xơ cứng 58
3.6. Gan xuất huyết…………………………………………………….56
3.7. Ống mật xơ xứng …………………………………………………56
3.8. Dịch đục trong ống mật……………………………………………56
3.9. Thành ống mật sơ dầy do nhiễm sán (Hex150) 61
3.10. Thâm nhiễm bạch cầu ái toan xung quanh các ống mật tăng sinh (Hex600) 61
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page viii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt Viết đầy đủ
F. gigantica
F. hepatica
SLGL
L. swinhoei
L.viridis
Fasciola gigantica
Fasciola hepatica
Sán lá gan lớn
là một trong những hướng sản xuất phù hợp với điều kiện, tập quán sản xuất,
đem lại hiệu quả kinh tế cao, giúp người dân có thể xóa đói, giảm nghèo bền
vững và quan trọng là có tiềm năng phát triển trong tương lai. Tuy nhiên, việc
phát triển đàn bò ở nước ta cũng còn gặp không ít khó kh
ăn, tỷ lệ bò lai trong
tổng đàn còn quá thấp, tốc độ tăng trưởng đàn bò chưa đạt kế hoạch, mục tiêu
đề ra dù giá thịt bò thương phẩm luôn ổn định, thậm chí còn tăng lên. Bên
cạnh đó, đồng cỏ chăn nuôi ngày càng bị thu hẹp, trong khi người dân chưa
chú trọng tới việc trồng thêm nguồn cỏ phục vụ chăn nuôi, chỉ dựa vào nguồn
thức ăn tự nhiên. Hơ
n nữa, tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp trong thời
gian qua cũng gây áp lực không nhỏ đến việc phát triển đàn bò.
Trên động vật, tại nhiều quốc gia dịch bệnh gây tổn thất kinh tế nặng nề
cho người chăn nuôi gia súc. Trong đó có bệnh do ký sinh trùng gây nên, trên
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 2
đàn bò nguy cơ cao nhiễm sán lá gan lớn (SLGL) (Mas-Coma, 1999). Hàng
năm thiệt hại trong ngành chăn nuôi gia súc do sán lá gan Fasciola.spp. vào
khoảng 2-3 tỷ đô la Mỹ, động vật nhiễm bệnh gầy sút, giảm sản lượng và chất
lượng cung cấp thịt và sữa . Ở người, bệnh ảnh hưởng đến tất cả các lứa tuổi,
cả hai giới, các tầng lớp xã hội và nghề nghiệp, đặc biệt là cư dân của khu vực
nông thôn (WHO, 1995). Hi
ện có khoảng 2,5 triệu người nhiễm bệnh; với 180
triệu người đang có nguy cơ nhiễm bệnh và bệnh lan tràn tới 61 quốc gia tại
cả năm châu lục trên thế giới (WHO, 2006). Tại Việt Nam trong những năm
qua bệnh sán lá gan lớn nổi lên như một bệnh ký sinh trùng phổ biến và trầm
trọng. Các ca bệnh sán lá gan lớn đã được thông báo có mắc tại 50 tỉnh thành
trong toàn quốc. Do tình hình cấp thiết trên, chúng tôi đã tiến hành th
ực hiện
lớp sán lá, có tên khoa học là Fasciola gigantica và Fasciola hepatica. Vị trí
phân loại của hai loài sán này trong hệ thống phân loại (Phan Thế Việt và cs,
1977) như sau:
Liên ngành :Scolecida Huxley 1856, Beklemichev, 1944
Ngành : Plathemithes, Schneider, 1873.
Lớp : Trematoda Rudolphi, 1808
Phân lớp : Plosostomidea Skrjabin et Guschanskaja, 1962
Bộ : Fasciolida Skrjabin et Guschanskaja, 1962
Phân bộ : Fasciolata Skjabin et Schulz, 1935.
Họ : Fasciolidae
Railliet, 1985.
Phân họ : Fasciolinae Stiles et Hassal, 1898.
Giống :Fassciola Limnaeus, 1758
Loài : Fasciola hepatica Limnaeus, 1758.
Fasciola gigantica Cobbold, 1885
Đặc điểm hình thể
Sán trưởng thành
Tất cả ký sinh trùng sán lá nói chung ở trâu bò đều có hình lá và dẹt,
kích thước dao động từ 1mm đến 30 mm, riêng Fasciolopis có kích thước đến
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 4
75 mm. Sán lá gan lớn trưởng thành hình chiếc lá, thân dẹt và bờ mỏng, kích
thước 20 -30 x 10-12 mm, màu trắng hồng hoặc xám đỏ, giác miệng nhỏ, kích
thước 1mm, giác bụng to hơn, kích thước 1,6 mm. Cơ thể sán được bao phủ
bởi 1 lớp cutile mỏng và có nhiều chóp nhỏ; chúng thường “bám dính” với
nhiều cơ quan khác của vật chủ thông qua hai giác hút, một giác hút ở phía
trước gọi là giác miệng và một cái còn lại ở giữa gọi là giác bụng. Miệng
thường nằm ngay
ở giác miệng và nối với manh tràng, chia hai nhánh và mỗi
ực phân bố với loài sán sinh tinh bình thường F.hepatica và F.gigantica.
Tương tự, tại châu Phi, chủ yếu gặp chủng F.gigantica. Ngược lại, ở Châu
Âu, Nam và Bắc Mỹ, châu Đại Dương là các địa danh phân bố chủ yếu của
F.hepatica (Nguyễn Văn Đề, 2003; A. Marcilla et al., 2002; Itagaki T và
Tsutsumi K, 1998).
Vòng đời phát triển của Fasciola spp.
Vòng đời phát triển của Fasciola spp. luôn luôn cần vật chủ trung gian
là ốc nước ngọt và các cây cỏ thủ
y sinh làm vật môi giới truyền bệnh.
Sán trưởng thành sống trong hệ đường mật và từ ống mật trứng theo
đường mật xuống ruột và ra ngoài theo phân. Trứng xuống nước, ở nhiệt độ
thích hợp từ 25
0
C – 30
0
C, nở thành ấu trùng lông, sau 14 – 16 ngày, ấu trùng
này thâm nhập và ký sinh ở vật chủ trung gian 1 là ốc thuộc giống Lymnaea
(Nguyễn Thị Lê và cs, 1977); trong ốc, ấu trùng phát triển qua giai đoạn nang
bào tử, giai đoạn phát triển và sản sinh ra một số lượng lớn ấu trùng đuôi bơi
lội tự do và các ấu trùng đuôi này bám vào cây thủy sinh như rau muống, rau
cần, cải soong… và tạo thành nang ấu trùng (Metacercaria).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 6
Nếu trâu bò cừu là vật chủ chính ăn phải những thực vật nói trên hay
uống nước chứa nang ấu trùng thì sẽ mắc bệnh. Khi vào đến dạ dày, dịch vị
làm tan rã vỏ và ấu trùng được giải phóng, nhiều nhất là ở tá tràng, sau 1 giờ ấu
trùng thoát nang và xuyên qua thành ruột, sau 2 giờ xuất hiện trong ổ bụng, qua
màng glisson vào gan, đến gan ngày thứ 6 sau khi thoát nang, sau đó chúng di
chuyển đến ký sinh trong đường mật. Trong cơ thể vật chủ chính, sán lá gan lớn đạ
Hình 1.3. Hình thể trứng sán lá gan lớn
Kích thước: Trứng SLGL có kích thước trung bình là 140 – 172,3 x 80
– 89,6 µm, dao động từ 130 – 150 x 60 – 90µm có khi tới 152 – 198 x 72-94
µm Trứng sán lá gan lớn có phổ giao động kích thước rộng là do chúng tồn tại
dưới hai thể: nhị bội (diploid form) và tam bội (triloid form).
Cấu tạo: trứng sán có từ 20 đến 30 phôi bào; trong các giai đoạn phát
triển của trứng, lúc đầu các phôi bào phân bố đều, sau đó phôi bào tập trung
dần vào trung tâm và hình thành nguyên ấu trùng lông ở trong trứng.
Sức đề kháng: Trứ
ng sán rất nhạy cảm với điều kiện khô hạn và tác
động trực tiếp của ánh sáng mặt trời. Ở trong phân khô, phôi ngừng phát triển,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 8
trứng bị chết sau 8 đến 9 ngày. Trong điều kiện khô hạn, trứng bị biến dạng, vỏ
trứng nhăn nheo, ấu trùng lông trong vỏ trứng bị chết sau 1 đến 1,5 ngày. Ở môi
trường ẩm ướt, trứng có khả năng sống khá lâu trong phân hơi ẩm, trứng tồn tại
đến 8 tháng. Dưới ánh nắng trực tiếp, trứng chết nhanh. Phôi bị chết sau 2 ngày
ở nhiệt độ thấp từ -5
0
C đến -15
0
C. Nhiệt độ 10
0
C – 20
0
C, trứng ngừng phát triển.
Tại nhiệt độ 40
ống ruột và hầu, các bộ phận này còn nằm trong khối tế bào thân rất lớn,
ngoài ra trong cơ thể nang ấu trùng còn có một đám phôi khác nữa. Do hiện
tượng đơn tính sinh, về sau các đám phôi này sẽ phát triển thành Rediae. Kích
thước của nang
ấu trùng sau 6 ngày ấu trùng lông nhiễm vào ốc là: 0,250 –
0,291 x 0,156 – 0,177mm; trung bình 0,272 x 0,167mm. Khoảng 3 – 7 ngày,
ang ấu trùng sinh sản vô tính cho ra nhiều Rediae, một nang ấu trùng cho ra 5
– 15 Rediae.
Rediae: Có hai hệ: Rediae thế hệ 1 và Rediae thế hệ 2 cùng phát triển
trong ốc. Rediae có dạng hình giun, ít hoạt động, đã xuất hiện một số nét của
sán trưởng thành: giác miệng, giác bụng, hầu, thực quản và ruột, ống ruột
chạy dọc cơ thể của ấu trùng, đuôi dài hơn thân giúp di chuyển được dễ dàng,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 10
Rediae lớn hơn hẳn nang ấu trùng, kích thước sau 7 ngày trung bình 0,494 x
0,134 mm; chiều dài ống ruột trung bình 0,338 mm, giác miệng trung bình
0,078 – 0,063 mm. Toàn bộ cơ thể có mầu vàng đậm, các đám phôi thấy rõ và
lớn hơn.
Hình 1.6. Hình Rediae sán lá gan lớn
Thời gian càng dài thì kích thước Rediae càng lớn, sau 35 ngày kể từ
khi nhiễm ấu trùng, đạt kích thước trung bình: thân: 1,48 x 0,2 mm; ruột 0,68
x 0,121 mm; hầu 0,077 x 0,063 mm.
Ấu trùng đuôi (Cercaria): là dạng ấu trùng sống tự do của sán lá gan
lớn, được phát triển từ Rediae, cấu tạo gồm thân và đuôi. Ấu trùng đuôi còn
non phần thân dài hơn, khi già phần đuôi dài hơn.
Ấu trùng đuôi đã mang phần nào những đặc điểm cấu tạ
o của sán lá
gan trưởng thành cơ quan bám gồm giác miệng và giác bụng, ống tiêu hóa có
cơ thể. Con vật khi đã có sán lá gan ký sinh có thể tiếp tục nhiễm m
ầm bệnh
mới, dẫn đến tình trạng số lượng sán trong cơ thể tăng dần theo tuổi trâu bò.
Tình hình dịch tễ của sán lá gan lớn
Nước ta là một nước có khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, mưa nhiều, rất
thuận lợi cho bệnh sán lá gan phát triển nên tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở gia súc
khá cao. Nguồn gieo rắc căn bệnh chủ yếu là súc vật nuôi (trâu, bò, dê,
cừu…) và một số động vật hoang dã khác mang Fasciola (như lạc đà…). Mỗi
một sán hàng năm thải theo phân chừng 6000 trứng. Sán có thể số
ng ký sinh
trong cơ thể ký chủ từ 5 – 11 năm. Như vậy mỗi súc vật mang sán mỗi năm
thải một khối lượng trứng khá lớn trên đồng cỏ và bãi chăn thả. Thêm vào đó
những đồng cỏ này lại ẩm thấp, lầy lội vừa tạo điều kiện cho trứng phát triển
thành Miracidium vừa tạo điều kiện cho ốc ký chủ trung gian sinh sôi nảy nở
(Phan Lụ
c, 1997)
Bệnh Fasciola phổ biến ở khắp các vùng trong nước. Trâu bò nhiễm
nhiều, mắc bệnh nặng ở các vùng đồng bằng và trung du, nhất là những nơi lầy
lội, ẩm thấp, quanh năm nước ngập, không luân phiên, cải tạo bãi chăn, không
quản lý phân gia súc chặt chẽ trên đồng cỏ. Ở miền núi và ven biển, ký chủ trung
gian ít phát triển hơn nên mức độ nhiễm ít hơn ở đồng bằng và trung du.
Theo Trịnh V
ăn Thịnh (1978) cho biết, trâu trưởng thành mắc bệnh sán lá
gan lớn do F.gigantica, tỷ lệ nhiễm từ 50% - 70%. Theo Phan Địch Lân (1980),
mổ khám 1043 trâu, bò ở Thái Nguyên, số trâu nhiễm sán lá gan là 57%, trong
đó có nhiều gan phải hủy bỏ do số lượng sán quá nhiều. Kết quả điều tra ở huyện
Bình Lục, Nam Hà tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu là 51,2 – 57,5%.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 13
miền núi. Về nguyên nhân dẫn đến quy luật này, các tác giả Trịnh Văn Thịnh
(1963); Phạm Văn Khuê và cs (1996); Soulsby (1982); Kaufman (1996) đều
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 14
giải thích: vùng đồng bằng có nhiều ao hồ, kênh rạch, có điều kiện cho ốc –
vật chủ trung gian sống và sinh sản. Các kiều địa hình khác thì vấn đề này hạn
chế hơn so với vùng đồng bằng.
- Phan Địch lân và cs (1985), đã khảo sát đặc điểm sinh học của ốc –
vật chủ trung gian của sán lá gan lớn sống ở miền Bắc Việt Nam cho thấy, đó
là hai loài ốc nước ngọt thuộ
c giống Lymnaea với tên là ốc vành tai
(L.swinhoei) và ốc chanh (L.viridis). Loài L.swinhoei có vỏ mỏng, không có
nắp miệng, kích thước 20mm, vòng xoắn cuối cùng rất lớn, chiếm gần hết
phần thân, vỏ loe ra như vành tai. Loài L.viridis cũng có vỏ mỏng, không có
nắp miệng, kích thước 10mm, vỏ dễ vỡ, có 4 – 5 vòng xoắn, vòng xoắn cuối
cùng cũng lớn.
- Bệnh sán lá gan lớn rất phổ biến ở động vật ăn c
ỏ Việt Nam. Số lượng đàn
trâu, bò lớn hơn đàn dê, cừu. Động vật ăn cỏ chủ yếu ở Việt Nam là trâu bò, chúng
là nguồn bệnh chủ yếu trong việc phát tán mầm bệnh ra môi trường.
Thành phần loài sán lá gan lớn cần phải tiếp tục nghiên cứu tiếp, theo
một số tác giả điều tra bước đầu cho thấy, loài sán lá gan lớn ở Việt Nam chủ
yếu là F.gigantica.
Trâu, bò ở
nước ta có đặc điểm chăn thả rông, đó là điều kiện để trâu
bò nhiễm bệnh SLGL cao hơn các nơi khác trên thế giới, kể cả tỷ lệ
nhiễm,cường độ nhiễm. Khả năng phát tán mầm bệnh SLGL từ trâu, bò ra
môi trường rất lớn.
Việt Nam mới chỉ có những nghiên cứu lẻ tẻ, chưa có nghiên cứu đầy
xiêu vẹo,…). Độc tố của sán lá gan tác động vào thành mạch máu, làm tăng
tính tẩm thấu của thành mạch, gây hiện tượng thủy thũng, làm cho máu đặc
lại. Cũng do tác động của độc tố nên giữa những tiểu thùy gan có hiện tượng
thấm nhiễm huyết thanh vào tế bào, hình thành nên các mô liên kết mới dọc
theo các vách ngăn của tiểu thùy gan và quanh ống mật, vì vậy những ống
mật này cũng dày lên. Quá trình viêm kéo dài làm cho các tế bào yêu cầu tăng
sinh, thay thế những tế bào nhu mô gan, gây hiện tượng xơ gan và teo gan.
Khi trâu bò nhiễm sán lá gan nặng, hiện tượng xơ gan chiếm diện tích lớn của
gan, làm cho chức năng gan bị phá hủy. Từ đó dẫn đến hàng loạt rối loạn khác