BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
= = =
= = =
CHU THỊ KIM CHI
NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG TẠI MỘT SỐ TRANG TRẠI CHĂN NUÔI LỢN
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH : KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
HÀ NỘI, 2015
HÀ NỘI, 2015
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các kết quả nghiên cứu của đề tài này là hoàn toàn trung
thực; các số liệu sơ cấp được thu thập, phân tích do chính tôi trực tiếp thực hiện,
chưa được sử dụng cho một công trình nghiên cứu nào khác.
Các trích dẫn sử dụng trong luận văn được ghi rõ tên tài liệu trích dẫn, tác
giả, nguồn gốc các tài liệu đó và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết
của tôi.
Tôi xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của mình.
Hà Nội, ngày 15 tháng 04 năm 2015
Tác giả luận văn Chu Thị Kim Chi
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH ix
M
Ở
ĐẦU
1
Chương
1
T
Ổ
N
G
Q
UAN
CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
3
1.1 Tình hình phát triển chăn nuôi nước ta 3
1.1.1. Xu hướng phát triển 3
1.1.2. Hình thức chăn nuôi 5
1.1.3 Tỷ lệ phân bố 5
1.1.4. Đặc điểm chuồng trại 6
1.2. Các vấn đề Môi trường trong chăn nuôi 7
1.2.1. Nguồn thải từ chăn nuôi 7
1.2.2. Hiện trạng ô nhiễm môi trường chăn nuôi ở Việt Nam 9
1.2.3 Chất thải từ hoạt động chăn nuôi lợn và các vấn đề môi trường. 12
3.1.2. Điều kiện kinh tế 38
3.1.3. Điều kiện xã hội 39
3.1.4. Đánh giá những thuận lợi, khó khăn do điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
đến phát triển các trang trại chăn nuôi lợn huyện Tân Yên. 39
3.2. Tình hình phát triển các trang trại chăn nuôi huyện Tân Yên 40
3.3. Tình hình quản lý chất thải và hiện trạng môi trường tại các trang trại chăn
nuôi huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 43
3.3.1. Các nguồn phát sinh chất thải từ các trang trại chăn nuôi lợn 43
3.3.2. Hiện trạng quản lý chất thải từ các trang trại chăn nuôi lợn 48
3.3.3. Hiện trạng môi trường tại các trang trại chăn nuôi lợn 51
3.3.4. Đánh giá chung. 54
3.4. Đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường cho các trang trại chăn nuôi lợn
huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 55
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
3.4.1. Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về
môi trường. 55
3.4.2. Các biện pháp kỹ thuật quản lý chất thải chăn nuôi 57
3.4.3. Giải pháp tuyên truyền giáo dục 59
3.4.4. Giải pháp nghiên cứu khoa học 59
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60
Kết luận 60
Kiến nghị 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Bảng 1.11 Tình hình quản lý và xử lý chất thải tại các trang trại Lợn nái 24
Bảng 1.12 Chất lượng nước thải đầu ra của các bể Biogas tại Đồng Nai 26
Bảng 1.13 Chất lượng nước ao Cá trong trong trang trại Lợn theo kiểu hệ
thống Vườn-Ao-Chuồng tỉnh Hưng Yên 28
Bảng 1.14 Một số hình thức sử dụng phân thải tại các trang trại 29
Bảng 2.1 Hệ số phát thải khí thải bình quân trên đầu lợn 34
Bảng 2.2 Phân hạng mức độ mùi và tiếng ồn 35
Bảng 3.1 Phân bố các cơ sở chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Tân Yên,
tỉnh Bắc Giang 42
Bảng 3.2 Quy mô lợn nuôi tại các trang trại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 43
Bảng 3.3 Ước tính lượng phân và nước thải phát sinh tại các trang trại lợn
huyện Tân Yên 44
Bảng 3.4 Đặc tính nước thải chăn nuôi lợn tại các trang trại huyện Tân
Yên, tỉnh Bắc Giang 46
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii
Bảng 3.5 Ước tính khối lượng khí thải phát sinh từ các trang trại chăn nuôi
lợn trên địa bàn huyện Tân Yên 47
Bảng 3.6 Tình hình tuân thủ các quy định pháp lý về BVMT tại các trang
trại chăn nuôi lợn huyện Tân Yên. 48
Bảng 3.7 Tình hình áp dụng các biện pháp xử lý chất thải trên địa bàn
huyện Tân Yên 50
Bảng 3.8 Đặc trưng nước thải chăn nuôi Lợn trước và sau xử lý biogas 50
Bảng 3.9 Kết quả phân tích chất lượng nước mặt tiếp nhận chất thải chăn
nuôi từ các trang trại lợn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 51
Bảng 3.10 Ảnh hưởng của mùi từ các trang trại Lợn trên địa bàn huyện Tân Yên 52
Bảng 3.11 Ảnh hưởng của tiếng ồn từ các trang trại Lợn huyện Tân Yên. 53
Bảng 3.12 Đề xuất một số giải pháp BVMT cho các trang trại lợn huyện
Tân Yên 55
M
Ở
ĐẦUTính cấp thiết của đề tài
Tân Yên là một huyện có diện tích phát triển công nghiệp lớn nhất. Song
song với phát triển công nghiệp tốc độ đô thị hóa trên địa bàn huyện tăng nhanh,
mức sống và thu nhập của người dân được nâng lên rõ rệt, nhu cầu dịch vụ và tiêu
dùng ngày một tăng, các mô hình chăn nuôi kết hợp đang được chú trọng đầu tư
cùng với phát triển công nghiệp.
Tuy nhiên trên lợi thế về sự tăng trưởng của nền kinh tế, chăn nuôi lợn đã
góp một tỷ trọng không nhỏ vào sự phát triển của ngành kinh tế nông nghiệp trên
địa bàn. Hiện nay, nhu cầu tiêu thụ lợn trong nội địa cũng như xuất khẩu đang đòi
hỏi sự đầu tư với quy mô lớn, công nghệ tiên tiến nhằm tăng về số lượng và tạo đột
biến về chất lượng.
Trong các loại vật nuôi, thì lợn được chăn nuôi phổ biến nhất ở Việt Nam
với số lượng khoảng 26.493,9 nghìn con trong tổng số 34.624,4 nghìn vật nuôi
(Tổng cục Thống kê, 2013). Chăn nuôi lợn đặc biệt đóng vai trò quan trọng trong kinh
tế hộ gia đình và là một trong những nguồn thu chủ yếu của nông hộ. Việc hình thành
và phát triển mạnh các trang trại chăn nuôi lợn ở nước ta đã đem lại hiệu quả kinh tế
cao, tăng năng suất lao động và thu nhập của người nông dân. Tuy nhiên xét về khía
cạnh môi trường của ngành chăn nuôi chưa được quan tâm đúng mức. Trong quá trình
phát triển sản xuất chăn nuôi với qui mô ngày càng lớn như hiện này, một lượng chất
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
Chương
1
T
Ổ
N
G
Q
UAN
CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tình hình phát triển chăn nuôi nước ta
1.1.1. Xu hướng phát triển
Theo đánh giá của Tổ chức Lương thực và Nông Nghiệp Liên Hợp Quốc
(FAO): Châu Á sẽ trở thành khu vực sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm chăn nuôi lớn
nhất. Chăn nuôi Việt Nam, giống như các nước trong khu vực phải duy trì mức tăng
trưởng cao nhằm đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước và từng bước hướng tới xuất
khẩu. Từ năm 1986 đến nay, ngành chăn nuôi phát triển khá ổn định và có xu hướng
tăng dần, tốc độ tăng trưởng giá trị đạt bình quân 5,27%/năm, cao hơn ngành trồng trọt
và dịch vụ. Trong gần 26 năm qua, chăn nuôi gia cầm có sự phát phát triển khá nhanh,
10.00
12.00
%
14.00
%
%
16.00
1996
-
2000
2000
-
2004
2004
-
nhỏ, tính chuyên môn hoá chưa cao (Viện Chăn nuôi, 2013).
Trong xu thế chuyên môn hóa sản xuất, hình thức chăn nuôi tập trung ngày
càng phổ biến ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới. Hiện nay, số lượng trại
chăn nuôi quy mô lớn ngày càng tăng. Các trại chăn nuôi lợn tập trung có trên 400 -
500 đầu lợn có mặt thường xuyên trong chuồng nuôi. Tính đến năm 2013 cả nước
có: 21.721 trang trại, chưa kể các trang trại chăn nuôi các loại vật nuôi khác như
thỏ, lợn rừng, nhím và các loại động vật sống trong nước (cá sấu, ). Trong đó: có
11.475 trang trại chăn nuôi lợn (miền Bắc: 5.069, miền Nam: 6.406); với 3.990
trang trại nuôi lợn nái (Tổng cục Thống kê, 2014).
(Đơn vị: %)
Gia súc Lợn
Hình 1.2. Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm về số đầu gia súc và lợn
*Tình hình chăn nuôi lợn năm 2014
- Số lượng lợn nuôi:
Theo số liệu thống kê của cục chăn nuôi tính đến 1/4/2014, cả nước có 29,3
triệu con. Các vùng có số đầu lợn nhiều là Đồng Bằng Sông Hồng (ĐBSH )7,9 triệu
con chiếm 27,1% tổng đàn lợn trong cả nước,Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL)
3,98 triệu con chiếm 13,6%, Bắc Trung Bộ 3,4 triệu con…
Số đầu lợn nái: Tổng đàn lợn nái thời điểm 1/4/2014 là 4,18 triệu con (chiếm
15,3 tổng đàn) tăng 2,4% so với cùng kì năm 2013. Các vùng có số đầu lợn lái
nhiều là ĐBSH, Đông Bắc, Bắc Trung Bộ và ĐBSCL.
80
,
3
2
0
,
80
6
,
00
,
6
0
4
0
2
,
7
30
1992
1992
-
1997
1997
-
2002
2002
-
2007
2007
-
2012
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
vùng miền trong cả nước ( Bảng 1.1.). Chăn nuôi tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông
Hồng và Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
Bảng 1.1: Số lượng các trang trại chăn nuôi trên cả nước
STT Vùng
Số lượng
trang trại
Tỷ lệ
( %)
1 Đồng bằng sông Hồng 3174 39,03
2 Trung du và miền núi phía Bắc 828 10,18
3 Bắc trung bộ và duyên hải miền trung 767 9,43
4 Tây Nguyên 453 5,57
5 Đông Nam Bộ 1903 23,40
6 Đồng bằng sông Cửu Long 1008 12,39
7 Cả nước 8133 100
Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2012
1.1.4. Đặc điểm chuồng trại
Bảng 1.2: Tỷ lệ các kiểu chuồng trại theo hai hình thức chăn nuôi
trang trại và hộ gia đình
Đơn vị: %
Kiểu
chuồng trại
Trang trại Hộ gia đình
Lợn Bò Gia cầm
Lợn Bò Gia cầm
một nguồn ô nhiễm nghiêm trọng nếu không được quản lý và xử lý triệt để. Đặc
trưng ô nhiễm nước thải của một số vật nuôi được chỉ ra trong Bảng1.3.
Bảng 1.3 Đặc trưng nước thải của một số loài vật nuôi
Loại Vật
Nuôi
V nước thải
(m
3
/con
/năm)
BOD
5
(kg/con
/năm)
TSS
(kg/con
/năm)
T-N
(kg/con
/năm)
T-P
(kg/con
/năm)
Bò thịt 8,0 164,0 1.204 43,8 11,3
Bò sữa 15,6 228,5 1.533 82,1 12,0
Lợn 14,6 32,9 73 7,3 2,3
Gà 2,9 19,2 169 2,5 1,24
Nguồn: Alexander P. Economopoulos,2003
Cũng giống như nước thải, phân thải của các loại vật nuôi có chứa nhiều các
hợp chất của nitơ, phốtpho nên có khả năng gây ô nhiễm môi trường nhanh chóng
Định mức
Chất thải rắn
(Kg/con/ngày)
Tổng chất thải
(Tấn/ngày)
Trâu Bò 8.829,7 12,5 110.371,25
Lợn 27.373,1 2,0 54.746,2
Ng
ựa 93,1 4,0 372,4
Dê cừu 1.288,7 1,5 1.933,05
Gia cầm 300.500,0 0,2 60.100,00
Tổng cộng 227.522,90
Nguồn : Viện Kinh Tế Nông Nghiệp, 2013
Căn cứ vào Bảng 1.5 có thể thấy lượng chất thải phát sinh từ các loại vật
nuôi chính ở nước ta hàng ngày rất lớn vào khoảng trên 2 triệu tấn. Trong đó, lượng
chất thải phát sinh lớn nhất là từ chăn nuôi Trâu, Bò (hơn 110 nghìn tấn/ngày); tiếp
đó là chăn nuôi Gia cầm (hơn 60 nghìn tấn/ngày); Lợn (gần 55 nghìn tấn/ngày); Dê,
Cừu (gần 2 nghìn tấn/ngày) và thấp nhất là từ chăn nuôi Ngựa (hơn 372 tấn/ngày).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
Với khối lượng chất thải phát sinh lớn như trên nếu không được quản lý và xử lý
triệt để sẽ gây sức ép lớn đến môi trường tại các khu chăn nuôi và các vùng lân cận.
1.2.2. Hiện trạng ô nhiễm môi trường chăn nuôi ở Việt Nam
Tại Việt Nam, hiện trạng ô nhiễm do chăn nuôi gây ra đang ngày một gia
tăng ở mức báo động. Chỉ tính riêng năm 2013, lượng chất thải do chăn nuôi gây ra
là hơn 61 triệu tấn phân các loại vật nuôi được thải ra trong năm 2014 nhưng chỉ
khoảng 40% số chất thải này được xử lý, còn lại thường được xả thẳng trực tiếp ra
môi trường. Số phân không được xử lý và tái sử dụng lại chính là nguồn cung cấp
Page 10
Do không có sự quy hoạch ban đầu, nhiều xí nghiệp chăn nuôi, lò mổ, xí
nghiệp chế biến thực phẩm còn nằm lẫn trong khu dân cư, trong các quận nội thành,
sản xuất chăn nuôi còn nhỏ, manh mún, phân bố rải rác trong khi sản xuất nông
nghiệp có lợi nhuận thấp, giá cả bấp bênh, thị trường ít ổn định. Vì vậy, sức đầu tư
vào khâu xử lý môi trờng trong chăn nuôi còn thấp. Số lượng các lò mổ đạt yêu cầu
vệ sinh chỉ khoảng trên 30%. Hiện tượng giết mổ lậu, giết mổ gia súc, gia cầm bị
bệnh, không qua kiểm soát giết mổ, nước sử dụng chất thải từ các lò mổ không
được kiểm soát cũng là các nhân tố tác động làm tăng ô nhiễm môi trường (Cục
Chăn nuôi, 2013).
Ô nhiễm do chăn nuôi và đặc biệt là chăn nuôi lợn không chỉ làm hôi tanh
không khí mà còn ảnh hưởng nặng tới môi trường sống dân cư, nguồn nước và tài
nguyên đất và ảnh hưởng chính đến kết quả sản xuất chăn nuôi. Các hoạt động gây
ô nhiễm do chăn nuôi vẫn đang tiếp tục diễn ra ở nhiều nơi trên cả nước. Tình trạng
chăn nuôi thả rông, chăn thả trên đất dốc, đầu nguồn nước, còn khá phổ biến đã
góp phần làm tăng diện tích đất xói mòn, suy giảm chất lượng đất, nước, giảm thiểu
khả năng sản xuất nông nghiệp trên vùng rộng lớn. (Viện Chăn nuôi, 2012)
Ô nhiễm môi trường còn làm phát sinh dịch bệnh, ảnh hưởng lớn đến hiệu
quả chăn nuôi. Trong mười năm qua, từ 1997 đến nay, dịch lở mồm, long móng trên
gia súc đã hoành hành và đến nay chưa được khống chế triệt để. Từ cuối năm 2003,
dịch cúm gia cầm đã bùng phát tại Việt Nam, qua 4 năm, dịch đã tái phát 5 đợt, đã
phải tiêu huỷ trên 51 triệu gia cầm các loại, thiệt hại ước tính lên đến hàng ngàn
tỷ đồng. Bệnh đã có nhiễm sang người, đến nay đã có 100 người mắc và đã tử
vong 46 người. Từ đầu năm 2007 đến nay đã bùng phát hội chứng rối loạn hô
hấp và sinh sản (bệnh tai xanh-PRRS) trên lợn đã gây thiệt hại nặng nề cho
ngành chăn nuôi lợn tại nhiều địa phương, đến nay đã được khống chế, chỉ còn
một số ít cơ sở đang tiếp tục phải theo dõi. Tuy vậy, diễn biến của bệnh khá
phức tạp, khả năng gây dịch còn rất lớn. Dịch bệnh đã gây tổn thất lớn cho
ngành chăn nuôi, gây mất an toàn thực phẩm và còn có nguy cơ lây nhiễm sang
Một trong những nguyên nhân là do nhận thức của các cấp quản lý và người
chăn nuôi chưa cao, chưa triệt để, do quy trình xử lý môi trường đòi hỏi công nghệ
cao, chi phí đầu tư lớn, do thiếu quỹ đất chăn nuôi mật độ cao. Bên cạnh đó, chăn
thả gia súc, gia cầm tự do, thả rông còn là tập quán phổ biến và hầu như không có
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
công nghệ chế biến chất thải là các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường lớn ở
nước ta. Xử lý chất thải, tiêu hủy gia súc, gia cầm còn chưa đúng kỹ thuật, ảnh
hưởng đến nguồn nước, chất đất. Việc phân định trách nhiệm và các chế tài xử phạt
trong hoạt động chăn nuôi làm ô nhiễm môi trường chưa rõ ràng và hiệu quả Đa
số các chủ lò mổ chưa có ý thức đầy đủ về việc cần thiết xử lý chất thải và ngăn
ngừa dịch bệnh trong quá trình sản xuất. Hầu hết các cơ sở đều không có hệ thống
xử lý nước thải hoàn chỉnh (Hoàng Kim Giao, 2007).
*Nguy cơ ô nhiễm và nhiệm vụ cấp bách về bảo vệ môi trường trong chăn nuôi
Trong những năm tới, nhu cầu thực phẩm: thịt, sữa, trứng, của xã hội ngày
càng tăng, tất yếu thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển. Ước tính, Việt Nam với tốc
độ tăng trưởng kinh tế 8%/năm, tốc độ phát triển dân số 1,3%/năm thì chăn nuôi
phải tăng từ 9-10%/năm mới đáp ứng được nhu cầu xã hội. Ngành chăn nuôi phát
triển nếu không đi kèm với các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm sẽ làm môi trường
sống của con người xuống cấp nhanh chóng. Môi trường bị ô nhiễm lại quay trở lại
tác động trực tiếp vào ngành chăn nuôi làm ngành này không chỉ khó khăn về khả
năng sản xuất, khả năng cạnh tranh, khó khăn trong công tác quản lý mà còn không
thể phát triển bền vững .
Vì vậy, việc bảo vệ, xử lý môi trường trong chăn nuôi gia súc tập trung là
việc làm hết sức cần thiết và cấp bách. Việc thực hiện nghiêm túc và triệt để
công tác bảo vệ môi trờng trong chăn nuôi là điều kiện tiên quyết, là biện pháp
tất yếu giúp ngành chăn nuôi chủ động khống chế dịch bệnh, đảm bảo vệ sinh
an toàn thực phẩm, thực hiện chăn nuôi hữu cơ, tăng khả năng cạnh tranh trên
các mức độ thị trường, góp phần bảo vệ môi trường, nâng cao sức khỏe cộng
2
S và NH
3
cao hơn mức cho phép khoảng 30-40 lần. Tổng số vi sinh vật và
bào tử nấm cũng cao hơn mức cho phép rất nhiều lần. Ngoài ra nước thải chăn
nuôi còn có chứa coliform, E.coli, COD , và trứng giun sán cao hơn rất nhiều
lần so với tiêu chuẩn cho phép.
Ô nhiễm môi trường khu vực trại chăn nuôi do sự phân huỷ các chất hữu cơ
có mặt trong phân và nước thải của lợn. Sau khi chất thải, thải ra môi trường sẽ tạo
ra khí thải, khí thải chăn nuôi bao gồm hỗn hợp nhiều loại khí trong đó có trên 40
loại gây mùi, chủ yếu là H
2
S và NH
3
. Trong điều kiện ỵ khí cộng với sự có mặt của
vi khuẩn trong phân và nước thải xảy ra quá trình khử các ion sunphát (SO
4
2-
) thành
sunphua (S
2-
). Trong điều kiện bình thường thì H
2
S là một trong những nguyên
nhân gây ra các vấn đề về màu và mùi. Nồng độ S
2-
tại hố thu nước thải chăn nuôi
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
Các loại vi sinh vật trong thức ăn, ruột bị thải ra ngoài theo phân.
Lượng phân:
Lượng phân thải ra trong một ngày đêm tùy thuộc vào giống, loài, tuổi và khẩu
phần ăn. Lượng phân lợn thải ra mỗi ngày có thể ước tính 6-8% trọng lượng của vật
nuôi. Lượng phân thải trung bình của lợn trong 24 giờ được thể hiện dưới bảng sau: