đánh giá ảnh hưởng của nước thải sản xuất vàng mã đến môi trường và đề xuất giải pháp quản lý tại xã song hồ, huyện thuận thành tỉnh bắc ninh - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM


ĐỖ ĐÌNH HẢO ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA NƯỚC THẢI SẢN XUẤT
VÀNG MÃ ĐẾN MÔI TRƯỜNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
QUẢN LÝ TẠI XÃ SONG HỒ, HUYỆN THUẬN THÀNH
TỈNH BẮC NINH
CHUYÊN NGÀNH: MÔI TRƯỜNG
MÃ SỐ: 60.44.03.01

.
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. CAO VIỆT HÀ HÀ NỘI, 2015
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i

LỜI CAM ĐOAN

xã Song Hồ đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình nghiên
cứu thực hiện đề tài.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã cổ vũ, động
viên nhiệt tình và tạo điều kiện giúp đỡ mọi mặt để tôi hoàn thành tốt chương trình
học tập và nghiên cứu đề tài khoa học này.
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn tất cả!

Hà Nội, ngày tháng 04 năm 2015
Tác giả luận văn
Đỗ Đình Hảo

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii

MỤC LỤC

Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục từ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục hình vii
MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2.3.3 Phương pháp lấy mẫu nước và phân tích nước trong phòng thí
nghiệm 32
2.3.4 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu. 34
2.3.5 Phương pháp so sánh 34
2.3.6 Các phương pháp khác 34
2.4 Vị trí lấy mẫu 35
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của xã Song hồ huyện Thuận
thành tỉnh Bắc ninh 36
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 36
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội. 39
3.1.3 Thực trạng quản lý môi trường làng nghề ở xã Song Hồ 43
3.2 Tình hình sản xuất vàng mã ở xã Song hồ 45
3.2.1 Tình hình phát triển nghề làm vàng mã ở xã Song Hồ 45
3.2.2 Quy mô sản xuất hộ gia đình 48
3.3 Đánh giá sản xuất làng nghề đến chất lượng nước mặt khu vực làng nghề 49
3.3.1 Quy trình sản xuất vàng mã và tác động của nó tới chất lượng
nước mặt của làng nghề 49
3.3.2 Kết quả quan trắc chất lượng chất lượng nước ở Làng nghề Song
hồ trong giai đoạn 3/2013 – 11/2014 51
3.3.3 Đánh giá ảnh hưởng của nước thải sản xuất vàng mã đến môi
trường xã Song Hồ. 58
3.4 Đề xuất một số giải pháp xử lý và công tác quản lý môi trường. 60
3.4.1 Các giải pháp về công tác quản lý môi trường. 60
3.4.2 Giải pháp về công nghệ và kỹ thuật xử lý nước thải. 61
KẾT LUẬN 65
1 Kết luận 65
2 Kiến nghị 66
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v

TTCN
QCVN
TT
TSS
Cu
Mn
Zn
Tiểu thủ công nghiệp
Quy chuẩn Việt Nam
Thông Tư
Tổng chất rắn lơ lửng trong nước
Đồng
Mangan
Kẽm
TP HCM Thành phố Hồ Chí Minh
UBND Ủy ban nhân dân
XHCN Xã hội chủ nghĩa
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi

XN Xí nghiệp

DANH MỤC BẢNG STT
Tên bảng Trang

1.1 Kết quả phân tích chất lượng nước tại làng nghề Phong Khê 24
1.2 Kết quả phân tích chất lượng nước mặt và nước thải tại Phú Lâm 27

3.5 Quy trình sản xuất vàng mã 50
3.6 Quá trình bồi giấy màu 50
3.7 Quá trình tô màu mũ 51
3.8 Nước thải từ các hộ sản xuất vàng mã có quy trình bồi giấy 53
3.9 Sơ đồ xử lý nước thải làm vàng mã quy mô hộ gia đình 61
3.10 Sơ đồ xử lý nước thải làm vàng mã quy mô từ 10 – 15 hộ 63
3.11 Sơ đồ quy trình xử lý nước thải có chứa phẩm màu 64 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1

MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Làng nghề - một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam – đóng vai trò
quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Tuy được hình thành và
phát triển hàng trăm năm nhưng đến nay hầu hết chúng được hình thành tự phát,
nhỏ lẻ. Bên cạnh đó, sản xuất tại làng nghề còn sử dụng các thiết bị thủ công, đơn
giản công nghệ lạc hậu, hiệu quả sử dụng nguyên, nhiên liệu thấp, mặt bằng sản
xuất hạn chế, ý thức người dân trong bảo vệ môi trường còn chưa cao. Do đó, nhiều
hoạt động sản xuất của làng nghề đã và đang tạo sức ép không nhỏ đến chất lượng
môi trường sống của chính làng nghề và cộng đồng xung quanh.
Nước là yếu tố không thể thiếu của sự sống, chất lượng nước có ảnh hưởng
quyết định tới chất lượng cuộc sống của cư dân địa phương. Tuy nhiên sự phát triển
các làng nghề hiện nay đã gây nhiều ảnh hưởng xấu tới môi trường trong đó có
nguồn nước. Hoạt động sản xuất làng nghề thường gắn với từng gia đình, có quy
mô sản xuất nhỏ lẻ, đồng thời phụ thuộc vào nhu cầu, đòi hỏi tức thời của thị
trường. Nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường còn nhiều hạn chế do vậy

1.3. Yêu cầu của đề tài
- Đề tài nghiên cứu trên cơ sở các thông tin, số liệu, tài liệu điều tra phải
trung thực, chính xác, đảm bảo độ tin cậy và phản ánh đúng thực trạng môi trường
tại làng nghề sản xuất vàng mã xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
- Việc phân tích, xử lý số liệu phải trên cơ sở khoa học, có định tính và định
lượng bằng các phương pháp nghiên cứu phù hợp.
- Các giải pháp được đề xuất phải có tính thực tế và mang lại hiệu quả cao
khi áp dụng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3

Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1.1. Khái niệm làng nghề, phân loại và lịch sử phát triển làng nghề.
1.1.1. Khái niệm làng nghề.
Từ xa xưa do đặc thù nền sản xuất nông nghiệp đòi hỏi phải có nhiều lao
động tham gia sản xuất đã khiến cư dân Việt cổ sống tập trung, quây quần , quần tụ
lại với nhau thành từng cụm dân cư đông đúc, dần hình thành nên làng, xã. Trong
từng làng, xã đã có cư dân sản xuất các mặt hàng thủ công, lâu dần lan truyền ra cả
làng, xã tạo nên những làng nghề và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Theo Phạm Công Sơn (2004) trong cuốn “ Làng nghề truyền thống Việt
Nam” thì Làng nghề được định nghĩa như sau: Làng nghề là một đơn vị hành chính
cổ xưa mà cũng có nghĩa là nơi cư đông người, sinh hoạt có tổ chức, kỉ cương tập
quán riêng theo nghĩa rộng. Làng nghề không những là làng sống chuyên nghề mà
cũng hàm ý là những người cùng nghề sống hợp quần để phát triển công ăn việc
làm. Cơ sở vững chắc của lằng nghề là sự vừa làm ăn tập thể, vừa phát triển kinh tế,
vừa giữ gìn bản sắc dân tộc và các cá biệt của địa phương.

những công đoạn này trong khu dân cư.
Nhóm C: là các cơ sở thuộc loại hình sản xuất có tiềm năng gây ô nhiễm môi
trường cao, không được phép thành lập mới trong khu dân cư.
1.1.3. Lịch sử phát triển làng nghề.
Sự phát triển của các làng nghề Việt Nam đã trải qua những giai đoạn khác
nhau, gắn với những cung bậc thăng trầm của lịch sử. Đặc biệt, từ giai đoạn đổi mới
nền kinh tế đến nay, dưới tác động to lớn của sự biến đổi nền kinh tế trong nước cũng
như trên toàn thế giới, sự phát triển của các làng nghề cũng có những thay đổi lớn, có
những thành công mới nhưng cũng có không ít những vấn đề nan giải.
Xuất hiện từ rất lâu đời (điển hình như các làng nghề ở Hà Tây (cũ), Hà
Nam, Hưng Yên, Hà Bắc). Các làng nghề nông thôn đã có những bước đánh dấu
khá rõ nét trong lịch sử kinh tế xã hội Việt Nam. Vượt lên các nhu cầu về nông
nghiệp, các sản phẩm như: đồ sành sứ, đồ gốm, vải vóc, đồ ăn, đồ thờ cúng, hàng
mỹ nghệ, giấy vàng mã, giấy gió… đã được chế biến phục vụ cho nhu cầu đời sống
hàng ngày, phục vụ cho đời sống tâm linh, cho việc học tập, cho đời sống văn hóa
và cho cả xuất khẩu.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5

Giai đoạn 1954 – 1978: Do chính sách Công nghiệp hóa, ưu tiên phát triển
công nghiệp nặng, khuyến khích các thợ thủ công tham gia vào các hợp tác xã
(HTX). Tại một số làng nghề đã xuất hiện những HTX tiểu thủ công nghiệp, chủ
yếu sản xuất các mặt hàng xuất khẩu sang các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN), với
các hàng hóa chính là hàng thủ công mỹ nghệ. Do đó, chủng loại, số lượng và giá
trị hàng hóa được quyết định bởi đường lối, chính sách của Nhà nước. Cũng chính
trong giai đoạn này, nhiều làng nghề đã bị mai một.
Giai đoạn 1978 – 1985: Kinh tế chính trị thế giới có nhiều biến động, cùng
với sức ép về dân số và sự cấm vận của Mỹ kinh tế Việt Nam đã lâm vào giai đoạn
khủng hoảng, đời sống của nhân dân gặp rất nhiều khó khăn. Sự suy sụp của hệ
thống bao cấp đã khiến các hộ nông dân và tiểu thủ công nghiệp buộc phải tìm

Hiện nay, Nhà nước có nhiều chính sách nhằm khuyến khích làng nghề phát
triển, đặc biệt từ khi Hiệp hội làng nghề Việt Nam được thành lập (2005), đã có
nhiều chương trình, chính sách nhằm bảo tồn, thúc đẩy sự phát triển làng nghề. Tuy
nhiên, nhiều làng nghề có nguy cơ lâm vào tình trạng suy thoái do nhiều nguyên
nhân khác nhau (do bế tắc về thị trường, do bị cạnh tranh, do thiếu vốn để cải tiến
sản xuất, gây ô nhiễm môi trường…). Để giải quyết những khó khăn này, cần có cái
nhìn tổng quan về làng nghề và gắn với thực trạng kinh tế xã hội trong nước và thế
giới nói chung.
Theo Đặng Kim Chi (2005), sự phát triển của làng nghề góp phần thúc đẩy
quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn. Sản xuất công nghiệp tại làng
nghề trực tiếp từ các hộ gia đình. Tính trung bình, hoạt động sản xuất công nghiệp
tại các tỉnh tăng từ 60 đến 80%, và tỷ lệ này sẽ ngày càng tăng trong tương lai. Có
thể liệt kê một số làng nghề tiêu biểu sau đây:
- Làng nghề gốm Bát Tràng
Nhắc đến những làng nghề truyền thống, ắt hẳn "Bát Tràng" là cái tên đầu
tiên hiện lên trong tâm trí mọi người. Gốm Bát Tràng là tên gọi chung cho các loại
đồ gốm được sản xuất tại làng gốm Bát Tràng thuộc xã Bát Tràng (gồm hai thôn
Bát Tràng và Giang Cao thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội). Theo nghĩa Hán Việt, chữ
Bát nghĩa là chén bát, đồ gốm và chữ Tràng (hay Trường) là chỗ đất dành riêng cho
chuyên môn. Nhờ kỹ thuật tạo lớp men và kỹ thuật lò nung chuẩn xác, các nghệ
nhân ở đây đã tạo nên một loại sản phẩm gốm đặc biệt, hài hòa về bố cục, màu sắc
thanh nhã cùng với sự tinh tế của con người - gốm Bát Tràng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7 Hình 1.1: Sản phẩm gốm gia dụng của Bát Tràng

- Làng nghề Trống Đọi Tam
Nhắc tới nghề làm trống, có lẽ không ai là không biết đến làng nghề trống

ra cái tên rất đẹp của làng này. Hình thành từ năm 1870, đến nay đồng muối Tuyết
Diêm, xã Xuân Bình, Sông Cầu, Phú Yên đã 138 tuổi. Nghề muối cực hơn rất nhiều
so với nghề nông. Mỗi năm, diêm dân chỉ trông chờ vài ba tháng nắng. Nắng càng
gắt, muối càng thơm, tinh khiết, và mồ hôi càng mặn chát trên những đôi vai gầy.
- Làng nghề thuyền thúng
Từ lâu ven biển Nam Trung Bộ đã hình thành nhiều làng nghề chứa đựng
nhiều nét văn hóa truyền thống. Làng nghề được xem là "thủ đô" thúng chai chính
là ở huyện Tuy An - Phú Yên. Trong xu thế hội nhập, không ít làng nghề truyền
thống không chỉ đứng vững mà còn phát triển mạnh. Thúng chai (thuyền thúng) từ
lâu đã được mệnh danh là "trí khôn sông nước Việt". Các làng nghề sản xuất thúng
chai huyện tập trung chủ yếu ở vài tỉnh Nam Trung Bộ và chưa bao giờ dừng sản
xuất. Gần đây mọi người phấn khởi khi thúng chai bất ngờ chu du xuất ngoại từ Á
sang Âu. Thúng chai của Phú Yên có điểm đặc biệt là chỉ sử dụng nguyên liệu của
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9

địa phương. Theo người dân làng nghề, cây tre trồng trên đất phú yên có đặc điểm
chịu nước tốt, dẻo dai và có nguồn dầu rái rất chất lượng khi trét thúng nên thúng
giữ được độ bền rất lâu.

Hình 1.3: Thuyền thúng của Phú Yên
1.2. Đặc điểm chung của làng nghề Việt Nam.
Việt Nam là một đất nước có nhiều nghề thủ công truyền thống, đặc biệt là
vùng châu thổ sông Hồng. Với đặc trưng của nền sản xuất nông nghiệp mùa vụ và
chế độ làng xã, nghề thủ công xuất hiện khá sớm và gắn liền với lịch sử thăng trầm
của dân tộc. Các làng nghề đã hình thành, tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển
của xã hội, của đời sống cộng đồng và dần dần được qui về các khái niệm như nghề
truyền thống, nghề cổ truyền, nghề gia truyền, nghề phụ, nghề thủ công
Hiện nay, Việt Nam có khoảng 2.790 làng nghề, thuộc 11 nhóm ngành nghề
khác nhau, trong đó gồm 1,4 triệu hộ tham gia sản xuất, thu hút hơn 11 triệu lao động

nguồn gốc và đặc trưng xã hội nông nghiệp sản xuất mùa vụ, cơ cấu qui mô thông
qua chế độ làng xã Việt Nam.
- Làng nghề truyền thống Việt Nam còn tồn tại đến ngày nay hầu hết là
những nghề lâu đời ở những làng cổ dựa trên hai yếu tố rất cơ bản là vùng nguyên
liệu và điều kiện giao thông, mà đường thuỷ là chính. Làng Gốm Bát Tràng có lịch
sử hình thành đã hơn 6 thế kỷ, Làng Giấy Yên Thái (Bưởi) đã có cách đây 800 năm,
Làng Kim hoàn Định Công có cách đây 1.400 năm và Làng Dệt lụa Vạn Phúc thì đã
có hơn 1700 năm có lẻ Theo chúng tôi, điều này phản ánh đúng logic lịch sử vì nó
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11

đáp ứng yêu cầu của sản xuất và nhu cầu của con người.Do ở thời nào con người
cũng cần công cụ lao động, cần ăn, ở, mặc, đi lại và các hoạt động văn hoá khác.
Khẳng định tính truyền thống của nghề thủ công Việt Nam và làng nghề để khẳng
định sự tồn tại của nó qua các hình thái kinh tế xã hội hay các phương thức sản xuất
khác nhau, là rất cần thiết, để góp phần khẳng định được các giá trị văn hoá đích
thực và ngôi vị lịch sử cuả nó trong quá trình tồn tại và phát triển của lịch sử dân
tộc. Một khía cạnh khác của đặc điểm này là làng nghề hoặc các cụm làng nghề ở
nước ta được hình thành hầu hết đều gắn liền với vùng nguyên liệu tại chỗ và thuận
lợi với giao thông đường thuỷ. Ví dụ như gốm Bát Tràng, Hải Dương, Quảng
Ninh nguyên liệu đất sét trắng ở vùng đó quyết định đặc trưng sản phẩm, tính ổn
định và phát triển của làng nghề truyền thống đó. Nguồn nguyên liệu của làng giấy
Yên Thái là giấy "dó" được lấy từ vùng núi và trung du phía Bắc theo sông Hồng về
đến Bưởi. Làng nghề chạm khắc gỗ ở Bắc Ninh, Nam Định cũng ở cận kề bến sông
thuận lợi cho việc khai thác chuyên chở vật liệu và sản phẩm nặng. Thiếu hai yếu tố
nguyên liệu và bến sông có thể nghề thủ công khó tồn tại và làng đó khó có thể trở
thành làng truyền thống. Như vậy những dòng sông như sông Hồng, sông Lô, sông
Cầu, sông Thương, sông Chu, sông Đuống, sông Đáy, sông Thái Bình, đã tạo ra
sự kết nối giữa các làng nghề ở hai chiều tồn tại là cung cấp nguyên vật liệu và tiêu
thụ sản phẩm, mở rộng thị trường cả nước.

giả, làm ăn gian dối, bị trừng trị từ phạt đến khai trừ khỏi phường nghề hoặc đuổi ra
khỏi làng. Gắn với nghi thức thờ tổ nghề là phần hội mang màu sắc văn hóa dân
gian. Như vậy, ở làng nghề ngoài yếu tố sản xuất còn mang rất đậm yếu tố văn hoá
và phần nào còn có những yếu tố tâm linh phù hợp. Bởi làng nghề ngoài phạm vi
đơn vị sản xuất và khái niệm đơn vị hành chính còn có đặc trưng riêng biệt là tính
cộng đồng cư trú, cộng đồng lợi ích và cộng cảm rất cao. ( Tạp chí di sản văn hóa
số 4, 2003).
1.3. Tình hình phát triển làng nghề vàng mã ở Việt Nam.
1.3.1. Vàng mã và các nhu cầu của người dân với sản phẩm vàng mã.
Trong văn bản pháp luật có hai khái niệm đồ mã và vàng mã, đó là hai khái
niệm có nội dung khác nhau. Vàng mã là những đồng tiền, giấy vàng đỏ , đốt vàng
mã là tín ngưỡng truyền thống có từ lâu đời. Nhưng trong cơ chế thị trường, người
ta sinh ra quan niệm trần sao âm vậy, từ đó mới bắt đầu sản xuất các loại hàng mã
như: nhà tầng, biệt thự, xe máy, ôtô, thậm chí cả osin giúp việc.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13

Giáo sư Ngô Đức Thịnh, Ủy viên Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia, Giám
đốc Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn Văn hóa Tín ngưỡng Việt Nam cho rằng, hiện
nay đang tồn tại 2 quan niệm, đồ mã và đồ vàng mã. Đồ mã là khái niệm chỉ chung
những đồ làm bằng giấy và có thể đốt đi được. Nó liên quan đến quan niệm, muốn
người âm nhận được thì đồ lễ phải được đốt (hóa) sau khi dâng cúng, vì thế, đồ mã
không thể làm bằng gỗ hay vật liệu khác. Đồ mã chính là những thứ vật dụng như
nhà, xe, voi, ngựa, đồ đạc, hình nhân bằng giấy. Còn vàng mã là những thỏi vàng,
bạc hay tiền địa phủ (sau này người ta in giống như tiền thật)
Tục đốt vàng mã ở Việt nam chịu ảnh hưởng của nền văn hoá Trung Hoa.
Đốt vàng mã được du nhập, dần trở thành tập tục, thói quen và đạt tới đỉnh cao tín
ngưỡng dân gian của người Việt. Nhiều nhà nghiên cứu đều đưa ra ý kiến rằng “
Quan niệm của người dân Việt thì việc bài trí, làm đẹp bàn thờ được đồng nhất với
sự tôn sùng các vị thần linh. Trong kết cấu kiến trúc đền thờ và ngôi nhà cổ truyền

mua, người mua không mặc cả, nếu mặc cả thì thiếu lòng thành và sẽ bị người
thuộc thế giới bên kia oán trách. Việc đốt hàng mã còn tạo nên nhiều điều ảo
tưởng, sự mơ hồ về những niềm tin không giới hạn… Điều này đã khiến cho
những người không hiểu rõ ý nghĩa của tục đốt hàng mã thì thi đua nhau, gia đình
nào eo hẹp kinh tế không đốt được nhiều vàng bạc, tài sản cho thần thánh, cha mẹ,
người thân thì buồn tủi, do đó cố gắng sắm cho đủ các bộ hàng mã để đốt ngang
bằng với bà con lối xóm. Cũng không ít người đốt vàng mã tại các đền, chùa là
những đồ mã đắt tiền nhưng chưa hẳn là thể hiện hết tấm lòng thành mà chỉ để cầu
xin các vị thần linh phù hộ sắm được xe hơi đắt tiền, những ngôi nhà cao to và
phúc, lộc sẽ về đầy…
Hiện nay, trong đời sống tín ngưỡng văn hoá của người dân tục đốt vàng mã
đang có xu hướng phát triển và ngày càng chiếm ưu thế, cũng không ít người cho
rằng đồ mã đã đến thời thịnh vượng, tục đốt vàng mã đang trở thành một nhu cầu
không thể thiếu trong đời sống tâm linh. Chính vì vậy nhu cầu sử dụng vàng mã trên
cả nước ngày càng tăng, nhu cầu đốt vàng mã ngày càng nhiều đặc biệt là vào các
ngày lễ tết, ngãy giỗ….
Không biết từ bao giờ, vàng mã đã trở thành một phần không thể thiếu trong
đời sống cúng kỵ của mọi gia đình mà không ít các phật tử khi tới chùa vẫn có thói
quen rải và đốt vàng mã thật nhiều để gặp may mắn, cầu an. Chính vì vậy việc hóa
vàng mã càng trở nên linh thiêng và cần thiết Bởi vậy, cứ đến những dịp đặc biệt
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15

như Tết Nguyên đán, Rằm tháng Giêng,
Trước đây, người ta chỉ đốt vàng mã vào ngày rằm, ngày giỗ. Bây giờ,
người ta đốt hầu như quanh năm, đặc biệt là hai đợt tháng bảy Âm lịch - mùa Vu
Lan và dịp Tết Nguyên đán. Nhiều người không chỉ đốt vàng mã ở nhà, mà còn đốt
cả ở những nơi vốn là di tích như chùa, đền, miếu, phủ
Ngay tại thắng cảnh chùa Hương, người ta đã xây hai lò đốt vàng mã cực
lớn, đặt tại chùa Thiên Trù, Động Hương Tích. Mặc dù hoạt động liên tục, đốt suốt

Tại thành phố Hà Nội, trung tâm thủ đô của cả nước nhưng vấn đề tâm linh,
linh thiêng vẫn được coi trọng và gìn giữ từ bao đời nay, có nguyên cả phố Hàng
Mã chuyên bày bán các mặt hàng dành cho người cõi âm . Hoặc, ghé thăm hai làng
làm vàng mã nổi tiếng Phúc Am, Duyên Trường (xã Duyên Thái, huyện Thường
Tín, TP Hà Nội), chúng ta dễ dàng bắt gặp hình ảnh những bộ khung hình voi, hình
ngựa được xếp dàn hàng trên đường lớn từ đầu làng tới cuối làng, trong các ngõ
nhỏ, trong sân nhà, trong xưởng để chờ được gia công, hoàn thiện. Theo lời một
người dân nơi đây, trước kia, người dân Phúc Am chủ yếu làm sơn mài, cuốn thuốc
lá, đan rổ rá, chỉ có vài cụ già làm vàng mã như nghề tay trái và chủ yếu là cuốn các
thỏi vàng thoi. Song, khoảng 20 năm trở lại đây, do nhu cầu của người dân chuyển
sang dùng rổ nhựa khiến nghề đan rổ không còn đất phát triển, kết hợp với tình
trạng đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, người dân mất ruộng nên đổ dồn sang làm vàng
mã. Vài nhà làm thấy có lợi nên mọi người truyền tai nhau, dần dần, nghề vàng mã
lan rộng ra cả làng, và thực sự phát triển mạnh mẽ khoảng 6, 7 năm trở lại đây.
Hiện cả làng có 250 hộ dân với hơn 1.000 nhân khẩu, trong đó chỉ có khoảng
20 chủ cơ sở. Còn lại, đa phần người dân trong làng mỗi người nhận thực hiện một
công đoạn khác nhau như người nhậ làm khung, người dán hoa văn. Đồng thời,
hàng còn được chuyển đi nhiều tỉnh như Bắc Ninh, Nam Định, Quảng Ninh…
Quả thực, nghề làm vàng mã đã giúp người dân nơi đây có nguồn thu ổn định,
khắp làng, san sát những ngôi nhà xây khá khang trang, có cả những ngôi nhà cao
tầng, to đẹp mà chủ nhân của nó đã có thâm niên hơn chục năm theo nghề vàng mã.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 17 Hình 1.4. Sản phẩm ngựa giấy

Hình 1.5. Sản xuất các loại mũ quan
- Tỉnh Quảng Ninh.
Trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh có Công ty TNHH một thành viên sản xuất gia


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status