BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOBỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
ĐỖ THỊ HỒNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG
CỦA HỢP TÁC XÃ DỊCH VỤ NÔNG NGHIỆP TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả
nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa được
dùng bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào.
Mọi thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc.
Hưng Yên, ngày 24 tháng 4 năm 2015
Tác giả
Đỗ Thị Hồng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập tại trường, nghiên cứu viết luận văn bản thân tôi đã
nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của các cơ quan, tổ chức và các cá nhân.
Trước hết tôi xin trân trọng cảm ơn các Thầy Cô giáo trong khoa Kinh tế
& phát triển nông thôn, Bộ môn Kế hoạch & ĐT của Học Viện Nông nghiệp Việt
Nam đã trang bị kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và
hoàn thành đề tài của mình.
Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin trân trọng cảm ơn sự
hướng dẫn tận tình của PGS.TS Nguyễn Hữu Ngoan đã giúp tôi hoàn thành đề tài
của mình.
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của các anh, chị, bạn thuộc
Liên minh hợp tác xã tỉnh Hưng Yên, Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn,
các Phòng, Ban thuộc huyện Văn Lâm, các Hợp tác xã nông nghiệp, người dân
thuộc huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên đã giúp tôi thu thập thông tin, số liệu trong
2.2. Cơ sở thực tiễn 22
2.2.1. Quá trình hình thành và phát triển của HTX DVNN 22
2.2.2. Kinh nghiệm phát triển HTX ở một số nước trên thế giới 31
2.2.3. Kinh nghiệm của một số HTX DVNN ở các địa phương trong nước 35
2.2.4. Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về HTX DVNN 39
2.3. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài đã công bố 40
Phần III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43
3.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Văn Lâm 43
3.1.1. Đặc điểm tự nhiên 43
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 48
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page v
3.2. Phương pháp nghiên cứu 53
3.2.1. Phương pháp thu thập số liệu 53
3.2.2. Phương pháp tổng hợp số liệu 54
3.2.3. Phương pháp phân tích 54
3.2.4. Hệ thống các chỉ tiêu phân tích 54
Phần IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 59
4.1. Khái quát tình hình các HTX DVNN huyện Văn Lâm 59
4.1.1. Khái quát chung 59
4.1.2. Tình hình chuyển đổi HTX nông nghiệp sau khi có luật HTX 60
4.1.3. Tình hình thực hiện quản lý vốn quỹ ở HTX nông nghiệp 61
4.1.4. Năng lực hoạt động của các HTX DV NN huyện Văn Lâm 63
4.1.5. Thực trạng tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ 68
4.1.6. Thực trạng chất lượng dịch vụ tại các HTX điều tra 83
4.2. Đánh giá chung về chất lượng hoạt động của HTX DV NN trên địa bàn
huyện Văn Lâm 90
4.2.1. Ưu điểm 90
4.2.2. Những mặt hạn chế, tồn tại 92
HTX : Hợp tác xã
LN : Lợi nhuận
NN : Nông nghiệp
TS : Tài sản
TSCĐ : Tài sản cố định
TSLĐ : Tài sản lưu động
TTSP : Tiêu thụ sản phẩm
UBND : Uỷ ban nhân dân
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
XV : Xã viên
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii
DANH MỤC BẢNG
Số bảng Tên bảng Trang
3.1 Hiện trạng sử dụng đất đai huyện Văn Lâm 2012-2014 46
3.2 Tình hình dân số và các chỉ số liên quan huyện Văn Lâm 2012 - 2014 47
3.3 Cơ cấu kinh tế của huyện Văn Lâm 2012 – 2014 50
4.1 Tình hình chuyển đổi HTX nông nghiệp theo luật 60
4.2 Tình hình tài sản vốn quỹ các HTX DVNN huyện Văn Lâm 2012-
2014 62
4.3 Trình độ lý luận chính trị của cán bộ quản lý HTX DVNN của
huyện Văn Lâm 64
4.4 Trình độ chuyên môn đào tạo của cán bộ quản lý HTX DVNN 65
4.5 Các chức danh trong Ban quản lý HTX DVNN 66
4.6 Tình hình xã viên tham gia các HTX DVNN 68
4.7 Tình hình vốn kinh doanh của các HTX DVNN của huyện Văn Lâm 69
4.8 Số khâu dịch vụ của HTX đảm nhiệm 71
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế tập thể là một thành phần kinh tế được Đảng và Nhà nước ta xác
định cùng với kinh tế nhà nước trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân, có
vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa (XHCN) ở nước ta hiện nay. Kinh tế tập thể phát triển với nhiều hình thức
đa dạng, từ thấp đến cao, trong đó Hợp tác xã (HTX) là nòng cốt. Việc mở rộng
và nâng cao chất lượng hoạt động của kinh tế Hợp tác xã trong các ngành kinh tế
là một đòi hỏi bức thiết đối với cả nước cũng như các tỉnh, thành phố.
Hợp tác xã (HTX) là một đơn vị kinh tế độc lập, tự chủ, hướng theo lợi
nhuận khi tham gia thị trường, là tổ chức phi lợi nhuận khi hỗ trợ phát triển kinh
tế hộ xã viên vì lợi ích của xã viên, do vậy HTX hội tụ đủ giá trị kinh tế - xã hội
và nhân văn phù hợp với tiến trình phát triển của nhân loại. Kinh tế HTX không
đối lập với kinh tế tư nhân mà là sự liên kết các hình thức sở hữu, các quyền sử
dụng đất đai, tài sản, vốn, sức lao động với hình thức tổ chức thích hợp, sản xuất
tập trung; làm dịch vụ đầu vào, đầu ra, gia công, chế biến và dịch vụ tập trung
một số công đoạn trong quy trình sản xuất và canh tác, trợ giúp hộ xã viên giảm
chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, tạo việc làm…
HTX có vai trò bà đỡ đối với người lao động, giúp họ trong quá trình tổ
chức sản xuất sao cho có lợi nhất; cung cấp dịch vụ đầu vào cho những hộ chưa
sản xuất hàng hóa và giúp đỡ thêm về các dịch vụ đầu ra cho các hộ sản xuất
hàng hóa; làm điểm tựa để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, xây dựng nông
thôn mới xã hội chủ nghĩa, đồng thời mở mang ngành nghề, phân công lại lao
động, góp phần đảm bảo công bằng xã hội, thực hiện dân chủ ở nông thôn và tiến
tới từng bước xóa đói giảm nghèo (Chu Thị Hảo, 2003).
Trong điều kiện nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) từ một nền kinh
tế yếu kém, chủ yếu là nông nghiệp, mang nặng tính tự cung, tự cấp, đặc biệt
trong nông nghiệp phần lớn là các hộ nông dân cá thể thì mô hình hợp tác giữa
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 2
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3
lợi ích kinh tế xã hội của xã viên và người lao động còn thấp. Các HTX chưa thật
sự đổi mới về nội dung hoạt động, khả năng xây dựng và tổ chức thực hiện
phương án sản xuất kinh doanh của ban quản trị HTX còn yếu và thiếu tính tham
gia lập kế hoạch của các thành viên nhóm mục tiêu và xã viên. Những hạn chế,
yếu kém trên đã kìm hãm quá trình phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động
của các HTX NN.
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn đó, tôi triển khai nghiên cứu đề tài “Giải
pháp nâng cao chất lượng hoạt động của Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp
trên địa bàn huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.” Để thấy rõ thực trạng, những
mâu thuẫn, những tồn tại và khám phá ra những thuộc tính bản chất, phát hiện ra
quy luật vận động của HTX NN, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp để thúc
đẩy các HTX trên địa bàn huyện Văn Lâm nói riêng và của tỉnh Hưng Yên nói
chung được tốt và đồng bộ hơn.
1.2.Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1.Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, khó khăn, thuận lợi, các yếu tố ảnh hưởng
đến hoạt động của Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp (HTX DVNN), đề xuất những
giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp tại
huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng hoạt động
của HTX;
Đánh giá thực trạng hoạt động của HTX DVNN tại huyện Văn Lâm tỉnh
Hưng Yên trong những năm qua;
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của HTX
DVNN trên địa bàn huyện Văn Lâm;
Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng hoạt động các
2.1.1. Các khái niệm và phân loại HTX trong nông nghiệp
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, con người trải qua các hình thái
kinh tế xã hội khác nhau và ở mỗi hình thái kinh tế xã hội đó sự phát triển của lực lượng
sản xuất luôn đi cùng là mối quan hệ sản xuất phù hợp. Chính vì vậy, sự hợp tác giữa
con người với con người trong quá trình sản xuất là một tất yếu khách quan xuất phát từ
nhu cầu của sản xuất, nhu cầu của cuộc sống để nương tượng lẫn nhau, hỗ trợ nhau
trong cuộc sống cũng như trong sản xuất.
Bởi lẽ, thông qua hợp tác sức lực của các cá nhân sẽ được kết hợp lại lớn mạnh
hơn để nhằm thực hiện các công việc mà mỗi cá nhân, đơn vị hoạt động riêng rẽ rất khó
khăn mà thậm trí còn không thể thực hiện được. Chính vì vậy, cùng tiến trình phát triển
của xã hội loài người, quá trình phân công lao động và chuyên môn hóa trong sản xuất
cả về chiều sâu lẫn bề rộng đã thúc đẩy quá trình hợp tác ngày càng tăng. Sự hợp tác
không chỉ được giới hạn ở phạm vị vùng, quốc gia mà còn được mở rộng ra phạm vi
toàn cầu. Quá trình hợp tác tất yếu đã diễn ra trên phạm vi thế giới như quá trình hội
nhập ngày càng sâu rộng của các quốc gia trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn
hóa - xã hội,… đã làm cho sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt khiến cho các doanh
nghiệp đều phải thay đổi chiến lược sản xuất kinh doanh của mình cho phù hợp với xu
thế mới.
Kinh tế hợp tác là một hình thức quan hệ kinh tế hợp tác tự nguyện, phối hợp, hỗ
trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các chủ thể kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và lợi
ích của mỗi thành viên (Bộ nông nghiệp và PTNT, 2000).
Trong nền kinh tế nước ta hiện đang tồn tại nhiều loại hình kinh tế hợp
tác. Mỗi loại hình lại phản ánh đặc điểm, trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất và phân công lao động tương ứng. Cụ thể:
Kinh tế hợp tác giản đơn là các tổ, hội, nhóm hợp tác được hình thành trên
cơ sở tự nguyện của các chủ thể kinh tế độc lập và có mục đích, hoạt động kinh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 6
doanh giống nhau, nhằm cộng tác, trao đổi những kinh nghiệm, giúp đỡ lẫn nhau
Page 7
để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp
nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời
sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”.
Để các tổ chức Hợp tác xã tổ chức và quản lý tốt hoạt động của hợp tác
xã, liên hiệp hợp tác xã trong các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế. Ngày
19/11/2012, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vừa ban hành
Luật Hợp tác xã số 23/2012/QH12 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2013). Tại
khoản 1, Điều 3, Chương 1, Luật này HTX được định nghĩa: “Hợp tác xã là tổ
chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên
tự nguyện góp vốn thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản
xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của các thành viên,
trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp
tác xã”. Luật Hợp tác xã 2012 hướng đến tiếp cận dần với bản chất đích thực của
hợp tác xã, làm rõ hơn tính ưu việt của hợp tác xã nhằm khuyến khích và phát
triển mạnh mẽ mô hình hợp tác xã kiểu mới. Đây là khuôn khổ pháp lý thuận lợi
góp phần phát triển hợp tác xã lành mạnh, bền vững góp phần nâng cao năng lực
cạnh tranh của kinh tế hộ thành viên trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế,
thực hiện công bằng xã hội, ổn định kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước.
Như vậy, HTX là sự phát triển ở trình độ cao hơn của kinh tế hợp tác mà
được hình thành và nuôi dưỡng chính từ quá trình hợp tác trong sản xuất, kinh
doanh, ở đó mức độ gắn kết giữa các thành viên trong tổ chức có mối liên hệ chặt chẽ
hơn, các quan hệ sở hữu, quan hệ phân phối được thiết lập hiệu quả hơn. Tuy nhiên,
để các hộ xã viên tham gia một cách hoàn toàn tự nguyện vào HTX thì trên thực tế
phải thể hiện trên kết quả sản xuất kinh doanh của HTX đó, phải thực sự thuyết phục
được các hộ xã viên khi HTX đó làm ăn có hiệu quả, có lãi trong hoạt động sản xuất
kinh doanh và đặc biệt là thiết lập các mối quan hệ cung- cầu, phân phối- lưu thông…
thực sự có hiệu quả.
2.1.2. Vai trò và hình thức hoạt động của Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp
HTX nông nghiệp mà cán bộ lãnh đạo, quản lý phải quan tâm để có biện pháp
giúp đỡ, hỗ trợ HTX nông nghiệp phát triển.
HTX nông nghiệp thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp. HTX nông
nghiệp làm được những việc mà từng người, từng hộ không làm được hoặc làm
không có hiệu quả. HTX nông nghiệp thúc đẩy phát triển kinh tế hộ phát triển,
tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ trang trại liên kết, hợp tác, thành lập HTX.
HTX nông nghiệp góp phần nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm được nhiều
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9
khoản chi phí trong đầu tư cho sản xuất, kinh doanh; huy động được nhiều vốn,
nhiều nhân lực, chế ngự được thiên tai dịch hoạ, đáp ứng kịp thời yêu cầu sản
xuất, kinh doanh; cung cấp sản phẩm cho xã hội, góp phần tăng trưởng kinh tế,
góp phần vào ngân sách nhà nước. HTX nông nghiệp khai thác được tiềm năng
trong dân cư để mở mang ngành nghề, phát triển sản xuất, tăng nguồn hàng xuất
khẩu, đóng góp vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế- xã hội.
HTX nông nghiệp hỗ trợ người nghèo, giúp đỡ họ cùng phát triển. Bởi lẽ
HTX nông nghiệp không chỉ gắn bó các thành viên về kinh tế mà còn được hình
thành và phát triển trên cơ sở tình làng nghiã xóm, góp phần thực hiện các chính
sách xã hội trên địa bàn như cung ứng các mặt hàng chính sách cho vùng miền
núi, dân tộc, vùng thiên tai bão lụt, tham gia xoá đói, giảm nghèo, khắc phục bần
cùng hoá; phòng chống các tệ nạn xã hội. Kinh tế hợp tác và HTX nông nghiệp
còn tạo điều kiện cho những người lao động, những người sản xuất nhỏ phát triển
marketing, nhờ đó những khả năng mở rộng được thị trường trong và ngoài nước
đảm bảo sự cân bằng và chẳng những có thể trụ vững trong thị trường cạnh tranh,
mà còn không ngừng phát triển, không bị phá sản trở thành gánh nặng lao động
thất nghiệp cho xã hội.
HTX nông nghiệp là mô hình tổ chức sản xuất có tính xã hội chủ nghĩa.
Trước hết, đó là các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ, vệ tinh của các doanh
nghiệp nhà nước; là đơn vị liên doanh, liên kết với các thành phần kinh tế khác
thị trường gây ra.
Mặt khác, kinh tế nông hộ không thể tự thân trở thành một đơn vị kinh tế
hàng hóa phát triển trong nền kinh tế thị trường trước sự cạnh tranh ngày càng
khốc liệt của các doanh nghiệp lớn, trước hết trong dịch vụ “đầu vào”, “đầu ra”
của kinh tế nông hộ. Do vậy, tất yếu các nông hộ phải liên kết lại với nhau trong
các tổ chức kinh tế hợp tác của mình, tạo ra sức mạnh mới cạnh tranh trong thị
trường, tự bảo đảm hoạt động dịch vụ “đầu vào”,” đầu ra” cho kinh tế hộ đạt kết
quả cao hơn. Vì thế HTX nông nghiệp trở thành chỗ dựa vững chắc để kinh tế hộ
trở thành đơn vị sản xuất hàng hóa tự chủ có khả năng cạnh tranh đạt hiệu quả
cao trong nền kinh tế thị trường.
Hình thức hoạt động của HTX DVNN
Từ những nội dung được quy định trong luật HTX năm 2003 và các quan
điểm có tính nguyên tắc trong xây dựng kinh tế tập thể đã nêu trong nghị quyết số
13-NQ/TW Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương khoá IX về “tiếp tục đổi
mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể”, đã cho thấy dù các HTX hoạt
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 11
động trong lĩnh vực nào đi chăng nữa thì đều có chung những đặc trưng cơ bản
và ưu thế của mô hình HTX.
Thứ nhất, về thành viên tham gia HTX
Khác với trước khi có Luật HTX 2003, thành viên HTX chỉ gồm các cá
nhân; từ khi có Luật HTX 2003 HTX là một tổ chức kinh tế do các thành viên
bao gồm cả cá nhân, hộ gia đình và pháp nhân (người lao động, cán bộ, công
chức, các hộ sản xuất kinh doanh, trang trại, doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc các
thành phần kinh tế…), cả người có ít vốn lẫn người có nhiều vốn có nhu cầu tự
nguyện cùng nhau góp vốn hoặc có thể góp sức lập ra và tự chịu trách nhiệm về các
hoạt động của mình theo quy định của pháp luật về HTX. HTX không thủ tiêu tính tự
chủ sản xuất, kinh doanh của các thành viên mà chỉ làm những gì mỗi thành viên
riêng lẻ không làm được hoặc làm không có hiệu quả để hỗ trợ cho các thành viên
theo ý chí và nguyện vọng của xã viên; hoàn toàn tự chủ trong hoạt động sản
xuất- kinh doanh và tự chịu trách nhiệm trong cơ chế thị trường; liên doanh, liên
kết với các đơn vị thuộc mọi thành phần kinh tế. Trong phân phối lợi ích và giải
quyết những vấn đề có liên quan đến nghĩa vụ và quyền lợi, phải tuân thủ nguyên
tắc cùng có lợi, hài hoà giữa xã viên với xã viên, giữa xã viên với HTX, HTX với
lợi ích cộng đồng. Nguyên tắc này đã xác định rõ điều kiện tồn tại và phát triển
của HTX chính là ở vai trò, trách nhiệm làm chủ của các xã viên đối với HTX;
chủ động phát huy các nguồn lực, nhất là nguồn lực sẵn có của xã viên; HTX
năng động tìm kiếm cơ hội kinh doanh và cạnh tranh để tồn tại và phát triển.
- Hợp tác và phát triển cộng đồng:
Là nguyên tắc và tiêu chí mang tính đặc trưng của HTX hoạt động theo
Luật HTX, gắn kết lợi ích kinh tế của các thành viên hợp tác xã với lợi ích xã hội
và phát triển cộng đồng. HTX là tổ chức kinh tế tập thể, mọi hoạt động kinh tế
của các thành viên tham gia với phương châm hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau để vượt
qua khó khăn, tăng thu nhập, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của các
thành viên tham gia. Trên cơ sở đó không ngừng nâng cao vai trò, tính chất xã
hội của HTX để giải quyết các vấn đề xã hội, góp phần tích cực thực hiện chủ
trương giải quyết công ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo, xây dựng kết cấu hạ
tầng xã hội, tăng cường tình làng nghĩa xóm, đoàn kết cộng đồng. Đó là nhân tố
quan trọng để HTX phát triển bền vững.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13
Thứ ba, về quan hệ sở hữu, quản lý và phân phối trong HTX
- Về quan hệ sở hữu:
Trong mô hình HTX trước khi có Luật HTX, sở hữu cá nhân không được
thừa nhận, sở hữu của các hộ gia đình bị xoá bỏ, chỉ thừa nhận chế độ sở hữu tập
thể về tư liệu sản xuất. Người lao động vào HTX phải đóng góp ruộng đất, trâu
bò, công cụ sản xuất chủ yếu. Từ khi có Luật HTX, sở hữu tập thể và sở hữu cá
doanh của thành viên như HTX trước đó, mà chỉ diễn ra ở từng khâu công việc,
từng công đoạn, nhằm hỗ trợ phát huy thế mạnh của từng thành viên và do đó
cũng tạo điều kiện phát huy quyền làm chủ của thành viên. Thành viên tham gia
quyết định những công việc quan trọng của HTX như sửa đổi điều lệ HTX, tổ
chức lại HTX, quyết định cơ cấu tổ chức quản lý HTX, xác định phương án sản
xuất, kinh doanh, phương án phân phối thu nhập trong HTX Nguyên tắc bầu cử
và biểu quyết được thực hiện bình đẳng, mỗi thành viên một phiếu bầu, không
phân biệt vốn góp ít hay nhiều. Bộ máy quản lý HTX tổ chức gọn, nhẹ, hiệu quả.
Chức năng, nhiệm vụ của ban quản trị, ban kiểm soát, trưởng ban quản trị, chủ
nhiệm được xác định rõ ràng, cụ thể. Chủ nhiệm được giao quyền chủ động điều
hành công việc và tự chịu trách nhiệm về những quyết định của mình.
- Về quan hệ phân phối
Trước khi có Luật HTX, chế độ phân phối mang nặng tính bình quân, bao
cấp, chủ yếu phân phối theo công lao động, việc phân phối theo vốn góp gần như
không được thực hiện (vì việc góp vốn chỉ mang tính hình thức). Vì vậy, không
khuyến khích người lao động hăng hái, tích cực làm việc, xã viên thiếu gắn bó
với HTX, dành công sức làm kinh tế gia đình. Khi có Luật HTX, hình thức phân
phối được thực hiện trên nguyên tắc công bằng, cùng có lợi, vừa theo lao động,
vừa theo vốn góp và theo mức độ tham gia dịch vụ. Người lao động là xã viên,
ngoài tiền công được nhận theo số lượng và chất lượng lao động, còn được nhận
lãi chia theo vốn góp và theo mức độ sử dụng dịch vụ của HTX; lợi nhuận và vốn
góp càng lớn, mức độ sử dụng dịch vụ càng nhiều thì thu nhập càng cao. Đây là
động lực khuyến khích người lao động hăng say làm việc, gắn bó với HTX.
Trong quá trình phân phối, các HTX còn tạo ra được các quỹ không chia, một
mặt để mở rộng sản xuất, kinh doanh, mặt khác tạo nên phúc lợi công cộng cho
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 15
mọi thành viên trong HTX được hưởng chung, kết hợp chặt chẽ giữa lợi ích cá
nhân và lợi ích tập thể, giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài.
minh, giáo dục ý thức phát triển cộng đồng… Do đó, mọi hoạt động của HTX phải
được đánh giá bằng hiệu quả tổng hợp, cả về kinh tế, chính trị, xã hội, cả hiệu quả tập
thể và của các thành viên.
HTX có vai trò là Con đường đi lên của người dân để vượt qua khó khăn,
nghèo đói, xây dựng cộng đồng văn minh, tương thân, tương ái, chống lại mọi sự
bất công, áp bức về kinh tế- xã hội. HTX cũng là một tổ chức dân chủ và cách
mạng, nơi tập hợp, giáo dục, nâng cao trình độ sản xuất cho người dân, hướng
người dân vào những mục đích xã hội tích cực, tiến bộ và cách mạng.
Như vậy, với những đặc trưng trên, HTX hoạt động khi có Luật HTX
được xây dựng trong thời kỳ cơ chế kế hoạch hóa tập trung; bao cấp trước đây có
các đặc trưng là tập thể hóa toàn bộ tư liệu sản xuất, không thừa nhận vai trò của
kinh tế hộ, tổ chức và hoạt động theo địa giới hành chính, tổ chức sản xuất tập
thể, tập trung, phân phối theo ngày công lao động, thực hiện quá nhiều trách
nhiệm xã hội; mô hình hợp tác xã được áp dụng nhất loạt trong cả nước, ít chú ý
đến đặc điểm của từng vùng.
Các HTX NN hoạt động các hình thức dịch vụ sau:
+ Dịch vụ các yếu tố đầu vào cho sản xuất nông nghiệp (các HTX cung ứng
vật tư, giống )
+ Dịch vụ các khâu cho sản xuất nông nghiệp (HTX làm đất, tưới nước, bảo
vệ thực vật )
+ Dịch vụ quá trình tiếp theo của quá trình sản xuất nông nghiệp (HTX chế
biến, HTX tiêu thụ sản phẩm )
Trong nông nghiệp, do đặc điểm của ngành, một mặt nảy sinh các yêu cầu
khách quan đòi hỏi hình thành và phát triển các hình thức kinh tế hợp tác và
HTX. Mặt khác, nó đặt ra các giới hạn cho việc lựa chọn mô hình của kinh tế hợp
tác trong đó mô hình các HTX dịch vụ nông nghiệp là hình thức thích hợp và phổ
biến. HTX dịch vụ gồm:
- Các HTX dịch vụ chuyên khâu: là HTX chỉ thực hiện một chức năng dịch
vụ một khâu cho sản xuất nông nghiệp (HTX dịch vụ thuỷ nông, HTX dịch vụ