Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài:
Phát triển nông nghiệp, nông thôn là một vấn đề đã và đang được sự quan tâm
đặc biệt của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình đất nước phát triển đi lên xây dựng
chủ nghĩa xã hội. Mặc dù cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng
các ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp, thương mại và dịch vụ
nhưng vẫn không thể phủ định vai trò to lớn của nông nghiệp đối với đời sống nhân
dân đặc biệt là đối với nước ta – Cơ bản là một nước nông nghiệp. Giảm dần nhưng
không có nghĩa là sau đó xóa bỏ hẳn mà là giảm về số lượng để nâng cao chất lượng.
Đất nước tiến lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa do vậy phải đưa “công nghiệp hóa”
vào ngành nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Việc Đảng
và Nhà nước đặc biệt quan tâm đến nông nghiệp là do ngành nông nghiệp cung cấp
những sản phẩm thiết yếu cho con người, do xuất phát từ đặc điểm của nước ta với
hơn 70% dân số sống ở nông thôn và hoạt động sản xuất nông nghiệp là chủ yếu. Bên
cạnh đó nước ta trong nhiều năm liền là nước có vị trí cao trong xuất khẩu mặt hàng
nông nghiệp như gạo, cà phê, cao su… Tuy nhiên, vẫn còn nhiều tồn tại yếu kém do
các thành phần kinh tế tham gia hoạt động sản xuất vẫn chưa thể phát huy hết những
điều kiện thuận lợi và khắc phục khó khăn, hạn chế của ngành. Có rất nhiều thành
phần kinh tế tham gia hoạt động và trong một thời gian dài kinh tế tập thể giữ vai trò
chủ đạo tiêu biểu là kinh tế hợp tác xã nông nghiệp nói chung và hợp tác xã dịch vụ
nông nghiệp nói riêng.
Với địa bàn hoạt động sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, hòa chung với việc
thực hiện mục tiêu của Đảng và Nhà nước, UBND huyện Việt Yên đã trực tiếp chỉ
đạo Phòng Nông nghiệp huyện tiến hành quản lý, hướng dẫn các hợp tác xã dịch vụ
nông nghiệp trên địa bàn huyện tham gia sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao hiệu
quả trong sản xuất. Để phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã
dịch vụ nông nghiệp trên cả nước thì trước tiên phải nâng cao hiệu quả của các hợp
tác xã trong huyện. Để làm được điều đó thì việc đánh giá thực trạng để từ đó tìm ra
các giải pháp là vấn đề mang tính chất cần thiết và quan trọng. Hiểu được điều đó,
Ng« ThÞ NguyÖt
Chương II. Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với phát triển các HTX
dịch vụ nông nghiệp huyện Việt Yên.
Ng« ThÞ NguyÖt
Líp: KTNN 45
2
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Chương III. Quan điểm và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển và nâng
cao hiệu quả hoạt động của HTX dịch vụ nông nghiệp huyện Việt Yên.
Ng« ThÞ NguyÖt
Líp: KTNN 45
3
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ
TẬP THỂ VÀ HTX NÔNG NGHIỆP.
I. BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA KINH TẾ TẬP THỂ.
1. Bản chất kinh tế tập thể.
Hoạt động sản xuất là đặc trưng riêng có của con người và xã hội loài người.
Để có hoạt động sản xuất được, thì như Các Mác đã chỉ rõ: “Người ta không thể sản
xuất được nếu không kết hợp với nhau theo một cách nào đó để hoạt động chung và
để trao đổi hoạt động với nhau. Muốn sản xuất được, người ta phải có những mối liên
hệ và quan hệ chặt chẽ với nhau, và chỉ có trong phạm vi những mối liên hệ và quan
hệ đó thì mới có sự tác động của họ vào giới tự nhiên, tức là sản xuất”.
Tính xã hội, tính tập thể về hoạt động sản xuất của con người được hình thành
và phát triển dựa trên nền tảng là các quan hệ sở hữu đối với các tư liệu sản xuất,
quan hệ trong tổ chức quản lý và trao đổi hoạt động với nhau và quan hệ phân phối
lợi ích, trong đó quan hệ về sở hữu tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định các quan hệ
khác. Bởi vì, địa vị kinh tế của cá nhân và nhóm người trong sản xuất và phân phối
đều do chế độ sở hữu quy định. Đối với một tập thể với tính cách là chủ thể kinh tế,
sự tồn tại và phát triển cũng dựa trên nền tảng các mối quan hệ nêu trên, trong đó
quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất là quan trọng nhất.
vật khác. Cùng với các điều kiện thuận lợi do tự nhiên mang lại thì sản xuất nông
nghiệp gặp không ít khó khăn, trở ngại như hạn, úng, bão lụt, sâu bệnh, thú dữ phá
hoại… Vì vậy, từ xa xưa cho đến nay, các hộ nông dân đều hợp tác để hỗ trợ, giúp
nhau khắc phục, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do tự nhiên gây ra nhằm nâng
cao hiệu quả sản xuất.
Trong nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa, KTTT có vai trò quan trọng để
kinh tế hộ nông dân - những người sản xuất nhỏ gia tăng sức mạnh, nâng cao khả
năng cạnh tranh, chống lại sự chèn ép của kinh tế tư nhân, các doanh nghiệp lớn trên
thương trường. Khi nền sản xuất hàng hóa phát triển, nhu cầu dịch vụ cho quá trình
tái sản xuất ngày càng tăng cả về quy mô và chất lượng dịch vụ như dịch vụ về
giống, phòng trừ sâu bệnh, thủy lợi, chế biến và tiêu thụ nông sản… Trong điều kiện
này, từng hộ nông dân tự đảm nhiệm tất cả các khâu cho quá trình sản xuất sẽ gặp
Ng« ThÞ NguyÖt
Líp: KTNN 45
5
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
khó khăn, hoặc sẽ không đủ khả năng đáp ứng, hoặc hiệu quả kinh tế thấp kém hơn
so với hợp tác. Sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển, cạnh tranh ngày càng gay gắt
thì những người lao động riêng lẻ, các hộ cá thể, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc
biệt là trong nông nghiệp, nông thôn càng cần phải liên kết, hợp tác với nhau để phát
triển.
Phát triển KTTT, ngoài mục tiêu kinh tế còn có mục tiêu xã hội. Trong nông
nghiệp, những người lao động nhất là lao động nghèo, chỉ có hợp tác với nhau mới có
thể giúp nhau tạo ra sức mạnh liên kết trong sản xuất kinh doanh, xóa đói giảm
nghèo. Các tổ chức KTTT, nhất là trong nông thôn không chỉ gắn bó về kinh tế mà
còn được hình thành và phát triển trên cơ sở “tình làng nghĩa xóm”. Mặc dù trong cơ
chế thị trường khắc nghiệt, các tổ chức này không thôn tính lẫn nhau, trái lại luôn
quan tâm đến nhau, cùng tồn tại và hỗ trợ nhau phát triển. Điều quan trọng là các
hình thức hợp tác không dựa vào trợ cấp của Nhà nước và gây khó khăn cho việc sản
xuất kinh doanh của các thành viên, ngược lại còn cải thiện điều kiện sản xuất, nâng
chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp sức lập ra theo quy định
của Luật HTX để phát huy sức mạnh của từng hộ xã viên tham gia hợp tác xã, để
cùng nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời
sống vật chất, tinh thần của hộ xã viên góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước”.
2. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hợp tác xã.
Theo Luật năm 2003 thì nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTX là:
Tự nguyện: Mọi cá nhân, gia đình, pháp nhân có đủ điều kiện theo quy định
của Luật HTX, tán thành Điều lệ HTX đều có quyền gia nhập HTX và cùng theo đó
cá nhân hộ xã viên có quyền ra khỏi HTX theo quy định của Điều lệ HTX.
Dân chủ, bình đẳng và công khai: Xã viên có quyền tham gia quản lý, kiểm
tra giám sát HTX và có quyền ngang nhau trong biểu quyết, thực hiện công khai
phương hướng sản xuất kinh doanh, tài chính, phân phối và những vấn đề khác quy
định trong Điều lệ của HTX.
Tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi: HTX tự chủ và tự chịu trách
nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, tự quyết định về phân phối thu
nhập. Mục đích thành lập HTXNN chủ yếu là phục vụ cho sản xuất nông nghiệp của
hộ nông dân. Vì vậy, sau khi thực hiện xong nghĩa vụ nộp thuế và trang trải các
Ng« ThÞ NguyÖt
Líp: KTNN 45
7
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
khoản lỗ của HTX, lãi được trích một phần vào các quỹ của HTX, một phần chia
theo vốn góp và công sức đóng góp của xã viên, phần còn lại chia cho xã viên theo
mức sử dụng dịch vụ của HTX.
Hợp tác và phát triển cộng đồng: Xã viên phải có ý thức phát huy tinh thần
xây dựng tập thể và hợp tác với nhau trong HTX, trong cộng đồng xã hội; hợp tác
giữa các HTX trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật.
Có tư cách pháp nhân, và bình đẳng trước pháp luật: Đây là một trong những
nguyên tắc nhằm đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của mình, có tư cách pháp nhân đó
- Mục đích kinh doanh của HTX là nhằm trước hết dịch vụ cho xã viên, đáp
ứng đủ và kịp thời số lượng, chất lượng của dịch vụ, đồng thời cũng phải tuân theo
nguyên tắc bảo toàn và tái sản xuất mở rộng vốn bằng cách thực hiện mức giá và lãi
suất nội bộ thấp hơn giá thị trường.
- HTX thành lập và hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi.
- HTX là một tổ chức liên kết kinh tế chỉ liên kết những xã viên thực sự có
chung mục đích, nhu cầu không phụ thuộc vào nơi ở và cũng chỉ liên kết ở những
dịch vụ cần thiết và đủ khả năng quản lý kinh doanh. Trong mỗi thôn, xã có thể cùng
tồn tại nhiều loại hình HTX có nội dung kinh doanh khác nhau, có số lượng xã viên
không như nhau, trong đó các nông hộ, nông trại đồng thời có thể là xã viên của một
số HTX.
- Các hộ thành viên (nông hộ, nông trại gia đình) vừa là đơn vị kinh tế tự chủ
trong HTX, vừa là đơn vị kinh tế, cơ sở hoạt động kinh doanh và hạch toán độc lập.
Do vậy, quan hệ giữa HTX và xã viên vừa là quan hệ liên kết, giúp đỡ nội bộ vừa là
quan hệ giữa hai đơn vị kinh doanh. Sự hình thành và phát triển của kinh tế HTX
không phá vỡ kinh tế của các hộ thành viên. HTX lấy kinh tế của các hộ thành viên làm
cơ sở hình thành và mục tiêu phục vụ nhằm tạo điều kiện cho các đơn vị kinh tế tự chủ
ngày càng phát triển, trên cơ sở đó mà thúc đẩy sự phát triển của kinh tế HTX.
2. Vai trò của HTXNN trong hệ thống kinh tế nông nghiệp Việt Nam.
Ngay từ khi mới thành lập, HTX nông nghiệp đã có vai trò hết sức quan trọng
trong việc đáp ứng và cung cấp dịch vụ trong sản xuất nông nghiệp. Trong giai đoạn
hiện nay khi nền kinh tế ngày càng phát triển thì HTX nói chung và HTX nông
nghiệp nói riêng càng có vai trò quan trọng được thể hiện trong Luật HTX sửa đổi
năm 2003 như sau:
Ng« ThÞ NguyÖt
Líp: KTNN 45
9
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
- HTXNN góp phần quan trọng xây dựng nông thôn, xóa đói giảm nghèo, tăng
thu nhập cho nông dân, giúp nông dân làm giàu.
phẩm làm ra được tiêu thụ kịp thời, ổn định, hạn chế được sự cạnh tranh, chèn ép
trong các quan hệ trao đổi trên thương trường.
HTXNN còn có vai trò gìn giữ và phát huy những truyền thống văn hóa tốt
đẹp của dân tộc như tinh thần tương thân, tương trợ giúp đỡ nhau trong sản xuất và
đời sống, chăm lo đời sống của các hộ thành viên và góp phần giải quyết các vấn đề
xã hội ở địa phương, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của người dân
nông thôn. Hiện nước ta có khoảng 55 - 56 triệu người sống ở nông thôn, việc xây
dựng và phát triển HTX sẽ góp phần ổn định chính trị, xã hội.
3. Sự khác nhau giữa HTXNN kiểu mới theo Luật HTX và HTXNN kiểu
cũ đã tồn tại hơn 30 năm qua ở nước ta.
-Về quan hệ sở hữu:
+ HTXNN kiểu cũ dựa trên cơ sở tập thể hoá quyền sở hữu ruộng đất và các
tư liệu sản xuất khác (nói chung là vốn kinh doanh) của các nông hộ. Do đó xoá bỏ tư
cách chủ thể kinh doanh của mỗi hộ, biến người lao động trong mỗi nông hộ trở
thành người lao động bộ phận của mỗi đơn vị tổ chức lao động hợp tác duy nhất là
HTXNN, giống như một xí nghiệp công nghiệp, thậm chí còn biến mỗi xã viên thành
người lao động làm thuê cho HTX.
+ HTXNN kiểu mới, theo luật HTX, dựa trên cơ sở quyền tự chủ kinh doanh
của mỗi nông hộ trên đất nước chính quyền giao cho để sử dụng lâu dài, với 5 quyền
như luật đất đai quy định (quyền sử dụng, chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, thế
chấp và cho thuê) để tiến hành sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp với tư cách là “tế
bào” của nền kinh tế thị trường, dựa vào sự góp vốn góp sức và quyền biểu quyết
ngang nhau của mỗi xã viên, để cùng hưởng thụ kết quả hoạt động và cùng chia sẻ
rủi ro của HTX theo mức góp vốn, góp sức của mỗi xã viên nhằm vừa làm tăng sức
mạnh kinh tế của mỗi nông hộ, vừa tạo ra sức mạnh mới cho HTXNN. Chính vì vậy,
kinh tế nông hộ và kinh tế HTX có thể tồn tại và phát triển có hiệu quả trong điều
kiện kinh tế thị trường mà ở đó sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, các công ty và
tập đoàn kinh tế ngày càng quyết liệt với quy mô ngày càng lớn, vượt ra khuôn khổ
nền kinh tế của một quốc gia.
Ng« ThÞ NguyÖt
kiểu mới phân phối thu nhập và lợi nhuận làm ra hàng năm không chỉ theo lao động
mà còn theo mức độ sử dụng dịch vụ và vốn cổ phần của mỗi xã viên. Các xã viên
Ng« ThÞ NguyÖt
Líp: KTNN 45
12
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
tham gia sử dụng dịch vụ của HTX càng nhiều thì HTX càng có điều kiện phát triển.
Do đó, để khuyến khích và cũng để thực hiện mục tiêu của mình HTX dành một phần
lợi nhuận hàng năm phân phối cho xã viên theo mức độ tăng lợi nhuận của kinh tế
hộ. Điều kiện đó phản ánh trực tiếp và rõ nét nhất bản chất kinh tế – xã hội của
HTXNN kiểu mới.
4. Các hình thức HTX nông nghiệp.
Các HTX trong nông nghiệp, nông thôn có các hình thức sau:
4.1. HTX nông nghiệp làm dịch vụ.
Đây là tổ chức kinh tế trong nông nghiệp tách ra làm chức năng dịch vụ cho
nông nghiệp bao gồm:
- Dịch vụ các yếu tố đàu vào cho sản xuất nông nghiệp (các HTX cung ứng
vật tư, giống).
- Dịch vụ cho các khâu sản xuất nông nghiệp (HTX làm đất, tưới nước, bảo vệ
thực vật…).
- Dịch vụ quá trình tiếp theo của quá trình sản xuất nông nghiệp (HTX chế
biến, tiêu thụ sản phẩm…).
Thực chất các HTX trên được tổ chức với mục đích phục vụ cho khâu sản xuất
nông nghiệp các hộ nông dân là chủ yếu. Vì vậy, sự ra đời của các HTX dịch vụ hoàn
toàn xuất phát từ yêu cầu khách quan của sản xuất nông nghiệp, trong đó sản xuất của
ngành, trình độ sản xuất của hộ nông dân chi phối một cách trực tiếp nhất.
Trong nông nghiệp, do đặc điểm của ngành một mặt nảy sinh các yêu cầu
khách quan đòi hỏi hình thành và phát triển các loại hình kinh tế hợp tác và HTX.
Mặt khác, nó đặt ra các giới hạn cho việc chọn mô hình của kinh tế hợp tác trong đó
mô hình các HTX dịch vụ nông nghiệp là loại hình thích hợp và phổ biến. Hợp tác xã
phải thường xuyên cải tiến kỹ thuật canh tác, thâm canh để nâng cao năng suất lao
động và chất lượng sản phẩm. Đồng thời cũng phải đa dạng hóa sản phẩm để tránh
những rủi ro do thị trường đem lại. Sản xuất kinh tế hộ càng phát triển thì nhu cầu
đầu vào về: vật tư nông nghiệp, thủy lợi, kỹ thuật… càng lớn cả về số lượng cũng
như chất lượng. Điều này đòi hỏi HTXNN cũng phải mở rộng loại hình dịch vụ và
nâng cao chất lượng hoạt động để đáp ứng nhu cầu của hộ xã viên.
Ng« ThÞ NguyÖt
Líp: KTNN 45
14
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Chính trong quá trình phát triển sản xuất hàng hóa, nhờ sự phát triển của
HTXNN, hộ nông dân sẽ thay đổi toàn diện cả về kinh tế, văn hóa và tập quán sản
xuất. Từ sản xuất tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hóa, kinh tế hộ sẽ trút dần
những tư duy cũ, thay đổi phương thức sản xuất lạc hậu thủ công bằng phương thức
sản xuất mới. Hộ nông dân áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nâng cao năng suất
lao động, tỷ lệ sản phẩm bán ra trên thị trường tăng dần trong tổng sản phẩm làm ra.
Từ đó, thu nhập của người dân tăng lên, góp phần vào nâng cao đời sống hộ nông
dân.
Trong nền kinh tế thị trường, với sự thay đổi của thị trường và đặc biệt trong
điều kiện sản xuất nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào sự thay đổi của tự nhiên, thời
tiết khí hậu, tập quán canh tác… nên rủi ro rất lớn. Điều này đòi hỏi HTX phải mở
rộng loại hình dịch vụ vừa để phục vụ tốt nhu cầu đa dạng của hộ xã viên vừa hạn
chế rủi ro trong kinh doanh. Nhưng không phải bất kỳ HTX nào muốn mở rộng loại
hình dịch vụ là được ngay mà còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, vào khả năng của
HTX như: lao động, đất đai… và đặc biệt là vốn. Khi HTX hoạt động có hiệu quả
HTX sẽ có lãi, vốn tích lũy nội bộ sẽ lớn dần lên trong quá trình hoạt động, lúc đó
HTX mới có thể mở rộng loại hình kinh doanh dịch vụ phục vụ hộ xã viên và cứ thế
HTX sẽ ngày càng phát triển.
- HTX hoạt động kinh doanh dịch vụ có hiệu quả tức là phục vụ tốt nhất nhu
cầu của hộ xã viên, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nông thôn theo
đáp ứng nhu cầu về các dịch vụ cho các hộ xã viên của HTX đã đầy đủ, kịp thời hay
chưa.
+ Chất lượng và giá cả các dịch vụ: chất lượng và giá cả các dịch vụ cho biết hoạt
động dịch vụ của HTX có làm tiết kiệm được chi phí dịch vụ cho các hộ xã viên và chất
lượng dịch vụ có đảm bảo hay không. Trên thực tế, HTX có thể không giảm giá dịch vụ
nhưng đã nâng cao chất lượng dịch vụ phù hợp với yêu cầu của xã viên.
+ Thời gian cung cấp các dịch vụ: một trong những đặc điểm của hoạt động
sản xuất nông nghiệp là tính thời vụ cao, đặc biệt là sản xuất trồng trọt. Do vậy, việc
đáp ứng kịp thời các dịch vụ đầu vào và đầu ra cho sản xuất của các hộ xã viên, nông
dân có ý nghĩa quan trọng, có tác dụng nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị của các
sản phẩm nông sản, đồng thời giúp cho các hộ nông dân tiết kiệm được chi phí sản
Ng« ThÞ NguyÖt
Líp: KTNN 45
16
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
xuất và tiêu thụ kịp thời năng suất với giá cả đảm bảo, qua đó góp phần nâng cao thu
nhập của hộ xã viên. Hoạt động dịch vụ của các HTX dịch vụ nông nghiệp với
nguyên tắc trước hết là vì lợi ích của sản xuất nông nghiệp và các hộ nông dân cần
đáp ứng tốt yêu cầu này, nhất là ở những dịch vụ thiết yếu như dịch vụ tưới tiêu, dịch
vụ cung ứng vật tư, dịch vụ bảo vệ thực vật…
- Doanh thu dịch vụ: Đây là chỉ tiêu biểu hiện quy mô hoạt động dịch vụ của
HTXNN. Quy mô của HTX đủ lớn sẽ giúp HTX tiết kiệm được chi phí và thuận lợi
hơn trong hoạt động, từ đó có điều kiện nâng cao hiệu quả cho kinh tế tập thể cũng
như lợi ích của các hộ thành viên.
- Lãi, lỗ của các hoạt động dịch vụ: Đây là chỉ tiêu kết quả kinh tế cuối cùng
của HTX, phản ánh khả năng tích lũy và mở rộng các hoạt động dịch vụ của HTX.
2.2. Chỉ tiêu hiệu quả hoạt động của HTX.
- Mức lãi từng dịch vụ: biểu hiện hiệu quả từng hoạt động dịch vụ cụ thể của
HTX, qua đó cũng đánh giá công tác quản lý và năng lực điều hành của HTX đối với
từng dịch vụ là tốt hay không tốt.
Có rất nhiều HTX nông nghiệp giỏi ở đồng bằng sông Cửu Long nhưng nổi
trội là HTX Bình Tây (Tiền Giang). HTX này có quy mô liên thôn, và làm tốt 8 loại
dịch vụ, trong đó có 3 dịch vụ “đầu vào” là: dịch vụ giống lúa, cây ăn quả, lợn, gia
cầm và cá, dịch vụ vật tư phân bón các loại, thuốc bảo vệ thực vật và thức ăn gia súc,
dịch vụ khuyến nông và tưới tiêu nước; và 3 dịch vụ “đầu ra” là: sấy lúa, xay xát lúa
gạo và tiêu thụ thóc gạo, trứng và rau quả cho dân; và hai dịch vụ đời sống là: Nước
sinh hoạt và chợ nông thôn. Hàng năm, HTX có doanh thu 3,5 - 4 tỷ đồng.
2. HTX dịch vụ nông nghiệp ở miền Trung.
HTX điển hình nổi bật là HTX Duy Sơn 2 (Quảng Nam). Đây là HTX miền
núi, quy mô thôn, ngoài việc làm tốt các dịch vụ tưới tiêu, dịch vụ điện (tự làm lấy
nhà máy thủy điện công suất 1200 KW để cung cấp điện cho xã viên), dịch vụ bảo vệ
thực vật, dịch vụ giống, dịch vụ vật tư… HTX còn mở rộng quan hệ liên kết, hợp tác
với các ngành, các cấp, phát triển ngành nghề như liên kết với nhà máy làm đế giày
xuất khẩu, doanh thu trên 8 tỷ đồng/năm; liên kết may với nhà máy may xuất khẩu,
doanh thu trên 2 tỷ đồng; dệt xuất khẩu, xưởng mây tre đan xuất khẩu, doanh thu trên
2 tỷ đồng. Sản phẩm của HTX được xuất đi nhiều nước trên thế giới. Hàng năm tạo
Ng« ThÞ NguyÖt
Líp: KTNN 45
18
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
thêm việc làm cho gần 1000 lao động, với thu nhập ổn định từ 300 – 500 nghìn đồng/
lao động/tháng, doanh thu năm 2000 của HTX đạt trên 21,5 tỷ đồng.
Cũng ở vùng miền Trung nhưng ở đồng bằng có HTX thị trấn Bình Định (Quy
Nhơn) rất chú trọng khâu dịch vụ. Để làm tốt các dịch vụ “đầu vào”, HTX đã tổ chức
đầu tư ứng trước các dịch vụ cho hộ xã viên như bán chịu giống và phân bón… từ
đầu vụ (có tính thêm phần trượt giá), cuối năm, cuối vụ HTX thu lại giá trị đầu tư
bằng thóc. Doanh số dịch vụ vật tư của HTX này đạt tới 12 tỷ đồng/năm. HTX cũng
đã liên doanh với các doanh nghiệp ở địa phương chế biến thức ăn gia súc. Mua thóc
xuất khẩu qua công ty lương thực miền Trung. Doanh thu của HTX đạt 15,8 tỷ đồng/
năm.
4. HTX dịch vụ nông nghiệp ở Hà Nội
HTX thống nhất, xã Trung Văn, huyện Từ Liêm đã khai thác thế mạnh vùng
ngoại ô làm ăn giỏi. Là một HTX quy mô thôn, đa số là nông dân theo đạo thiên
chúa, ngoài các dịch vụ nông nghiệp, HTX còn tiến hành tích tụ, tập trung hóa ao hồ
để tổ chức kinh doanh thủy sản. Đặc biệt, HTX đã tiến hành cổ phần hóa, thu hút vốn
xã viên mở được các ngành dịch vụ kinh doanh có lãi và chia lãi theo cổ phần như:
Dịch vụ tín dụng nội bộ, xây dựng đường điện sinh hoạt, tổ chức làm nhà tạm cho
sinh viên thuê, xây chợ và quản lý chợ nông thôn, cung cấp nước sạch và thu gom rác
thải. Doanh thu hàng năm của HTX đạt 3 tỷ đồng.
* Tóm lại, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho phát triển HTX dịch
vụ nông nghiệp như sau:
- Mỗi nơi mỗi vẻ, tuy nhiên họ có những nét chung, bài học chung rất đáng
quan tâm và điểm chung nổi bật nhất đó là có chủ nhiệm giỏi có tâm, có tài, năng
động và có trách nhiệm với cộng đồng, với hợp tác. Họ là “động lực” của cỗ máy,
thiếu họ cỗ máy sẽ khó hoạt động hoặc hoạt động thiếu hiệu quả. Cho đến nay, có
nhiều nguyên nhân làm cho số đông HTX chuyển đổi chưa thành công, trong đó có
một nguyên nhân quan trọng, có tính chất quyết định là do không có người “cầm cờ”,
“cầm lái” giỏi. Ở những HTX làm ăn có hiệu quả, các chủ nhiệm HTX đều giỏi, có
đức, có năng lực; họ được xã viên tín nhiệm bầu qua nhiều khóa như: ông Lò Văn Minh,
chủ nhiệm HTX Phù Nham, 22 năm; ông Nguyễn Văn Mười chủ nhiệm HTX Bình Tây,
ông La Văn Tám chủ nhiệm HTX thị trấn Bình Định 20 năm…
Ng« ThÞ NguyÖt
Líp: KTNN 45
20
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Để có người “cầm cờ” giỏi cần có chiến lược lựa chọn người năng động và
tâm huyết với sự nghiệp HTX ở quê hương, từ đó tiến hành mở lớp đào tạo bồi
dưỡng, nâng cao trình độ cho họ, đồng thời cần có chế độ thù lao thỏa đáng và chế độ
bảo hiểm xã hội cho đội ngũ cán bộ này. Hiện nay, thù lao đối với chủ nhiệm HTX
rất thấp, nhiều HTX chỉ 100.000đ – 200.000đ/tháng, lại không có chế độ bảo hiểm xã
quả kinh doanh, khi ra HTX thì được rút cổ phần) và dù họ muốn hay không đều phải
quan tâm đến hoạt động sản xuất kinh doanh, giám sát lẫn nhau và cùng nỗ lực cho
sự sinh lợi của cổ phần mình. Để thu hút được vốn cổ phần, các HTX đã phải xây
dựng dự án làm rõ đầu vào đầu ra, thực hiện chi lãi và mức lãi phân phối theo cổ
phần, chứng minh tính khả thi và hiệu quả thiết thực của từng dịch vụ kinh doanh
mới. Có như vậy xã viên mới tin và góp cổ phần mới.
- Ngoài 4 bài học trên, việc có sự chỉ đạo đúng mức của Đảng và chính quyền
Nhà nước các cấp, đặc biệt cấp chính quyền cơ sở cũng là yếu tố cực kỳ quan trọng.
Xây dựng được HTX vững mạnh, kinh tế phát triển làm chỗ dựa cho chế độ,
cho người dân là công việc vô cùng khó khăn, đòi hỏi nhiều thời gian, công sức, song
đã và đang có rất nhiều điển hình HTX làm ăn giỏi, nên toàn xã hội, toàn ngành cùng
đồng tâm xây dựng làm cho kinh tế hợp tác sẽ phát triển đưa nền nông nghiệp nước
nhà tiến lên một tầm cao mới.
Ng« ThÞ NguyÖt
Líp: KTNN 45
22
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI
PHÁT TRIỂN CÁC HTX DỊCH VỤ NÔNG NGHIỆP HUYỆN VIỆT YÊN .
I. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI CHỦ YẾU
CỦA HUYỆN VIỆT YÊN ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN HTX DỊCH VỤ
NÔNG NGHIỆP.
1. Đặc điểm tự nhiên.
1.1. Vị trí địa lý.
Việt Yên là huyện trung du nằm ở phía Tây Nam tỉnh lỵ Bắc Giang, có tổng
diện tích tự nhiên là: 17.135,42 ha, có phạm vi ranh giới như sau:
- Phía Bắc giáp huyện Tân Yên.
- Phía Nam giáp huyện Quế Võ và thị xã Bắc Ninh.
- Phía Đông giáp huyện Yên Dũng và thị xã Bắc Giang.
- Phía Tây giáp huyện Yên Phong và huyện Hiệp Hòa.
Việt Yên có tổng diện tích tự nhiên là 17.135,42 ha, ngoài diện tích ao hồ, núi
đá, sông suối, thùng đào, thùng đấu, quy mô và cơ cấu các loại đất huyện Việt Yên
gồm: đất xói mòn trơ sỏi đá, đất vàng nhạt trên đá cát, đất phù sa được bồi hàng năm,
đất phù sa không được bồi, đất xám bạc màu, đất nâu vàng trên phù sa cổ, đất đỏ biến
đổi do trồng lúa, đất phù sa úng nước.
1.4. Đặc điểm khí hậu thời tiết.
Việt Yên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với đặc điểm có mùa
mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) và mùa khô lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
Chế độ nhiệt của vùng phân hóa theo mùa rõ rệt, trong năm có 3 tháng nhiệt độ bình
quân nhỏ hơn 20
o
C. Đây là điều kiện rất thích hợp cho việc phát triển cây nhiệt đới
và á nhiệt đới, đặc biệt là các loại rau màu thực phẩm ưa nhiệt độ thấp. Với nhiệt độ
bình quân cả năm cao cho phép huyện Việt Yên phát triển nhiều vụ cây trồng ngắn
ngày trong năm ở các công thức luân canh.
- Chế độ mưa, bình quân năm là 1451,5mm nhưng phân bố không đều, tập
trung vào tháng 5 đến tháng 10 (chiếm 85,8% tổng lượng mưa cả năm). Tháng có
lượng mưa lớn nhất là tháng 6, 7 và tháng 8. Trong 3 tháng này thường có nhiều cơn
mưa với cường độ lớn gây xói mòn, rửa trôi đất và ảnh hưởng lớn đến cây trồng nông
Ng« ThÞ NguyÖt
Líp: KTNN 45
24
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
nghiệp. Mùa khô có lượng mưa bình quân 26 mm/tháng gây khô hạn, đặc biệt là
tháng 1 trong năm.
- Gió bão: Hướng gió chủ đạo của vùng là Đông Bắc, tốc độ gió trung bình
trong năm là 1,9 m/s, tháng có tốc độ gió cao nhất là tháng 8 (2,7 m/s). Mỗi năm
thường có từ 2 – 3 cơn bão đổ vào kéo theo mưa lớn từ 200 – 300 mm gây ngập úng,
thiệt hại cho vụ mùa.
* Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên của huyện ảnh hưởng đến phát