phát triển sản xuất khoai tây vụ đông tại huyện quế võ, tỉnh bắc ninh - Pdf 30

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM






NGUYỄN QUANG ĐĂNG

PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT KHOAI TÂY VỤ ĐÔNG
TẠI HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
MÃ SỐ : 60620115
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Nguyễn Thị Minh Hiền HÀ NỘI, NĂM 2015

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ii

LỜI CAM ĐOAN

Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2015
Tác giả luận văn Nguyễn Quang Đăng

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iv

MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục đồ thị, hình, hộp, sơ đồ viii
Phần I: MỞ ĐẦU 1

tỉnh Bắc Ninh 34
4.1.1 Khái quát về sản xuất nông nghiệp và các loại cây trồng tại huyện
Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 34
4.1.2 Các thông tin chung về đối tượng khảo sát 41
4.1.3 Thực trạng phát triển diện tích và cơ cấu sản xuất khoai tây vụ đông 43
4.1.4 Thực trạng phát triển các hình thức tổ chức sản xuất khoai tây vụ đông 46
4.1.5 Thực trạng phát triển kỹ thuật sản xuất và sử dụng đầu vào 50
4.1.6 Thực trạng cơ cấu giống và chất lượng khoai tây vụ đông 57
4.1.7 Kết quả và hiệu quả sản xuất khoai tây vụ đông 60
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất khoai tây vụ đông 64
4.2.1 Nhóm yếu tố thuận lợi 65
4.2.2 Nhóm yếu tố khó khăn 66
4.3 Định hướng và các giải pháp phát triển sản xuất khoai tây vụ đông
tại huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 76
4.3.1 Căn cứ đề xuất các giải pháp 76
4.3.2 Định hướng phát triển sản xuất khoai tây vụ đông 78
4.3.3 Các giải pháp cụ thể 79
Phần V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83
5.1 Kết luận 83
5.2 Kiến nghị 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 89 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi


Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii

DANH MỤC BẢNG

Số bảng Tên bảng Trang

2.1 Giá trị dinh dưỡng của một số sản phẩm 7
2.2 Diện tích, năng suất và sản lượng khoai tây trên thế giới giai đoạn
2011 - 2013 16
2.3 Diện tích, năng suất và sản lượng khoai tây của một số quốc gia
Châu Á năm 2013 17
2.4 Tình hình sản xuất khoai tây tại Bắc Ninh giai đoạn 2008 - 2013 20
4.1 Hiện trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2011 - 2013 35
4.2 Thực trạng sản xuất nông nghiệp tại huyện Quế Võ giai đoạn 2011-2013 37
4.3 Thời vụ sản xuất khoai tây vụ đông 40
4.4 Một số thông tin chung các xã điều tra 41
4.5 Một số thông tin chung của hộ điều tra 42

4.1 Các công thức luân canh chủ yếu tại huyện Quế Võ 39
4.2 Kênh tiêu thụ khoai tây vụ đông tại huyện Quế Võ - 2013 70

Số Tên hộp Trang
4.1 Thực trạng công tác phòng trừ sâu bệnh hại khoai tây vụ đông tại
Quế Võ 52
4.2 Thực trạng sử dụng đất đai và lao động tại các hộ sản xuất khoai
tây vụ đông 54
4.3 Thực trạng cung ứng đầu vào (phân bón) cho sản xuất tại huyện
Quế Võ 67
4.4 Thực trạng vốn đầu tư của các hộ sản xuất khoai tây 68
4.5 Thực trạng thu gom khoai tây vụ đông tại Quế Võ 69
4.6 Thực trạng khó khăn về cơ sở hạ tầng tại Quế Võ 73
4.7 Thực trạng phát triển điểm, vùng sản xuất tập trung tại Quế Võ 74
4.8 Thực trạng chế biến khoai tây vụ đông tại Quế Võ 75
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1

PHẦN I
MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngành nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đặc
biệt với các nước đang phát triển. Đối với Việt Nam, ngành sản xuất nông nghiệp

thập kỷ đầu của thế kỷ 21 là 33 kg khoai tây.
Cây khoai tây được người Pháp mang đến Việt Nam hơn 100 năm trước
đây. Sản xuất khoai tây tại Việt Nam phát triển mạnh từ năm 1998. Đến nay, cây
khoai tây ở Việt Nam có diện tích khoảng 35.000 - 37.000 ha, sản lượng đạt từ
420.000 - 450.000 tấn, đáp ứng được khoảng 50% nhu cầu trong nước (GTZ, 2008).
Bắc Ninh là một tỉnh cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô Hà Nội. Trong phát
triển kinh tế, Bắc Ninh là một tỉnh có tốc độ tăng trưởng khá. Ngành sản xuất
nông nghiệp của tỉnh Bắc Ninh trong những năm qua, mặc dù chiếm tỷ trọng nhỏ
trong cơ cấu kinh tế của tỉnh nhưng có một vị trí rất quan trọng trong việc đảm
bảo an ninh lương thực, thực phẩm cho nhân dân, cung cấp nguyên liệu cho
ngành công nghiệp chế biến của tỉnh; tạo điều kiện cung cấp lao động và thị
trường cho công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Trên cơ sở vị trí, vai trò
quan trọng của ngành nông nghiệp, định hướng của tỉnh đến năm 2020 là tập
trung phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, phù hợp với
hệ sinh thái và tính bền vững của từng địa phương. Đối với cây khoai tây, mở
rộng diện tích, tăng năng suất, nâng cao chất lượng và tăng khả năng cạnh tranh
trên thị trường.
Quế Võ là một huyện nằm ở phía Đông tỉnh Bắc Ninh. Tổng diện tích tự
nhiên là 15.484,82 ha, diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 8.291,06 ha (năm
2013). Là địa bàn có vị thế chiến lược về an ninh chính trị, kinh tế, văn hoá - xã
hội quan trọng của tỉnh Bắc Ninh.
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và thực hiện Nghị quyết Đại hội
Đảng bộ huyện Quế Võ khoá XVII, đến nay nhiều chỉ tiêu kinh tế tăng trưởng
khá. Năm 2013, lương thực bình quân đầu người đạt 643 kg/ người/ năm. Giá trị
sản xuất trên một ha canh tác đạt 32,28 triệu đồng/năm (giá cố định 1994).
Trong đó, giá trị sản xuất cây khoai tây chiếm tỷ trọng từ 10 - 12% tổng giá trị
sản xuất nông nghiệp. Vụ đông năm 2013, tổng diện tích khoai tây là 1.215 ha,
năng suất đạt 180,1 tạ/ha, sản lượng đạt 21.882,1 tấn.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 4

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về kinh tế
quản lý trong phát triển sản xuất khoai tây vụ đông.
+ Đối tượng khảo sát: Hộ nông dân, Hợp tác xã, hộ thu gom và các bên có
liên quan trong chuỗi sản xuất khoai tây vụ đông tại huyện Quế Võ.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi về nội dung:
- Thực trạng sản xuất khoai tây vụ đông tại huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
- Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất khoai tây vụ đông.
- Giải pháp phát triển sản xuất khoai tây vụ đông tại huyện Quế Võ, tỉnh
Bắc Ninh.
+ Phạm vi về thời gian: Thời gian thu thập thông tin giai đoạn 2011 - 2013, đề
xuất một số giải pháp cho những năm tiếp theo.
+ Phạm vi về không gian: Nghiên cứu tại huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5

PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Các khái niệm có liên quan
+ Phát triển: Là khái niệm dùng để khái quát những vận động theo chiều

thích nghi với điều kiện thời tiết khí hậu lạnh, nhiệt đới và được trồng vào vụ
đông hàng năm. Ở điều kiện thời tiết khí hậu này cây trồng sinh trưởng và phát
triển tốt nhất. Một số cây trồng vụ đông chủ yếu như: cây khoai tây, ngô, đậu
tương, dưa chuột và một số loại rau màu khác. Tuy nhiên, so với các cây trồng vụ
đông, thì cây khoai tây có ưu thế hơn về thời vụ, năng suất và giá trị sử dụng. Để
xác định số lượng thời vụ có thể trồng trọt và thời gian sinh trưởng, nhiệt độ hàng
ngày lớn hơn 5
0
C, thấp hơn 30
0
C, cây sinh trưởng không bình thường khi nhiệt
độ thấp hơn 5
0
C và cao hơn 30
0
C, khi nhiệt độ xuống dưới 2
0
C cây ngừng sinh
trưởng (Lê Sỹ Lợi, 2008).
+ Phát triển sản xuất cây vụ đông: Bao gồm các hoạt động, cách thức tổ
chức phối hợp các yếu tố đầu vào như đất đai, giống cây trồng, vốn, lao động, kỹ
thuật… nhằm tạo ra (tăng lên) về mặt số lượng cũng như chất lượng sản phẩm từ
những loại cây trồng vụ đông cao nhất với chi phí sản xuất thấp nhất. Với định
hướng sản xuất hàng hoá, chú trọng giữ vững thị trường truyền thống, đưa diện
tích đất canh tác có khả năng sản xuất sử dụng vào sản xuất cây vụ đông và lựa
chọn quy hoạch phát triển diện tích những cây trồng đem lại giá trị kinh tế cao
mà địa bàn có nhiều lợi thế (Hoàng Quang Mạnh, 2013).
2.1.2 Vai trò của khoai tây vụ đông
+ Khoai tây là loại cây trồng có giá trị kinh tế cao trong sản xuất, là cây vụ
đông xuân quan trọng trong công thức luân canh lúa xuân - lúa mùa sớm – khoai

Đậu Hà Lan 44
(Nguồn: Beukema, H.P., Zaag, D.E. van der, 1979)
Kết quả phân tích cho thấy củ khoai tây chứa hầu như đầy đủ các chất
dinh dưỡng quan trọng như: Protein, đường, lipit, các loại vitamin A, B, PP, C và
D. Ngoài ra còn có các chất khoáng như: Ca, K, Mg…
Theo Burton (1974), thì “khi sử dụng 100g khoai tây có thể đảm bảo ít
nhất 8% nhu cầu năng lượng, 10% nhu cầu Fe, 10% vitamin B1, 20 - 50% nhu
cầu về vitamin C của một người/ngày”.
Theo Beukema, H.P., Zaag, D.E. van der (1979), nếu “tỷ lệ Protein sử
dụng ở trứng gà là 100 thì ở khoai tây là 71, đậu tương là 56, ngô là 55, bột mỳ là
52 và đậu Hà Lan là 44”. Nên hiện nay trên khắp thế giới, từ khoai tây người ta
đã chế biến ra hàng trăm sản phẩm, món ăn khác nhau, thơm ngon, rất bổ dưỡng,
rẻ tiền. Trong củ khoai tây có 2% protein bao gồm cả lysine (một axít amin
thường không có trong protein thực vật) nên phối hợp tốt với ngũ cốc.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 8

2.1.3 Đặc điểm trong sản xuất khoai tây vụ đông
Ở các tỉnh Đồng bằng Sông Hồng một năm thường sản xuất 3 vụ: vụ
chiêm xuân từ tháng 2 đến tháng 5; vụ mùa từ tháng 6 đến tháng 9 và vụ đông từ
tháng 9 đến tháng đến tháng 1 năm sau. Đặc điểm vụ đông với thời tiết khí hậu
ôn đới, lạnh và khô là điều kiện lý tưởng cho một số cây trồng phát triển như cây
khoai tây, cây đậu tương, ngô và một số loại cây rau quả khác, tạo ra sự khác
biệt, đa dạng và phong phú sản phẩm nông sản. Khoai tây là cây trồng lý tưởng
cho vụ đông ở Đồng bằng sông Hồng. Cây khoai tây có thời gian sinh trưởng
ngắn, dễ bố trí thời vụ trồng trong vụ đông. Chỉ sau 90 ngày trồng khoai tây có
thể cho tới 20 – 25 tấn sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, dễ sử dụng và thương
mại hoá điều mà các cây trồng khác khó có thể đạt được (Trung tâm Nông
nghiệp công nghệ cao, 2012).

sáng, thích hợp với nhiệt độ thấp khoảng từ 15
0
C - 22
0
C, nhiệt độ thích hợp nhất
từ 16
0
C - 18
0
C, trong điều kiện nhiệt độ cao, khoai tây thường kéo dài thời gian
sinh trưởng và cho năng suất thấp. Trong giai đoạn ngủ nghỉ của cây khoai tây có
thể mọc mầm ở nhiệt độ 4
0
C, nhiệt độ từ 10
0
C - 15
0
C mọc mầm tốt nhất, mầm
mập và ngắn (Đường Hồng Dật, 2004).
2.1.4 Nội dung phát triển sản xuất khoai tây vụ đông
Sản xuất khoai tây vụ đông có một vị trí rất quan trọng là vụ sản xuất
chính thứ ba trong năm, được coi là mũi nhọn đột phá phát triển sản phẩm ngành
nông nghiệp đa dạng và phong phú, phát triển toàn diện và bền vững, góp phần
thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ trong xây dựng nông thôn mới tại các
địa phương. Với vai trò và vị trí quan trọng như vậy, trong phát triển sản xuất
khoai tây vụ đông gồm một số nội dung sau:
* Nội dung thứ nhất: Mở rộng quy mô và cơ cấu sản xuất.
Theo UBND huyện Quế Võ (2014), nhằm mở rộng quy mô, cơ cấu sản
xuất nâng cao hiệu quả sản xuất khoai tây vụ đông cần tập trung tốt một số nội
dung sau:

xuất và sử dụng đầu vào cần có sự liên hệ, phối hợp chặt chẽ với các chương
trình khuyến nông, các trung tâm, vụ, viện nghiên cứu nhằm tiếp cận, ứng dụng
nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật (KHKT) vào sản xuất, kết hợp với kinh
nghiệm thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất cây trồng (UBND huyện Quế
Võ, 2014).
* Nội dung thứ tư: Chế biến và tiêu thụ sản phẩm
Theo Hoàng Thanh Tùng (2012), về hoạt động chế biến và tiêu thụ sản
phẩm các doanh nghiệp cần đa dạng hoá sản phẩm để đáp ứng nhu cầu đa dạng
của người tiêu dùng, cần có sự liên kết giữa nhà sản xuất và nhà doanh nghiệp

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 11

chế biến dưới sự giám sát của cơ quan nhà nước để đảm bảo việc thực hiện các
hợp đồng thu mua bán khoai tây ở các địa phương. Hoạt động marketing và xúc
tiến thương mại cũng cần được quan tâm của các địa phương phát triển sản xuất
khoai tây.
* Nội dung thứ năm: Giống và chất lượng sản phẩm
Theo Hoàng Thanh Tùng (2012), sử dụng giống kém chất lượng có ảnh
hưởng trực tiếp đến chất lượng khoai tây thương phẩm và gây rủi ro cho người
sản xuất. Do vậy, cần đánh giá đầy đủ và năng lực sản xuất giống và nhu cầu về
giống tại địa phương. Ngoài ra, để đáp ứng nhu cầu về giống thì việc hỗ trợ đầu
tư phát triển các kho lạnh để bảo quản khoai tây giống kết hợp với khoai tây
thương phẩm là rất cần thiết. Do vậy, nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm cần có
nguồn giống tốt, sạch bệnh, kết hợp với công tác bảo quản, chế biến, kỹ thuật sản
xuất đảm bảo quy trình và sử dụng các đầu vào hợp lý.
* Nội dung thứ sáu: Kết quả và hiệu quả sản xuất
Theo Nguyễn Quang Đăng (2006), kết quả và hiệu quả sản xuất, bao gồm
kết quả, hiệu quả kinh tế; kết quả, hiệu quả kỹ thuật và kết quả, hiệu quả môi
trường:

MI = VA - (A + T) - LĐ thuê (nếu có)
Trong đó : A : Giá trị khấu hao TSCĐ và các chi phí khác
T : Thuế đất nông nghiệp (Hiện nay Nhà nước đã miễn cho
nông dân)
LĐ : Thuê lao động (nếu có).
- Các chỉ tiêu thể hiện hiệu quả:
• Tỷ suất giá trị sản xuất theo chi phí (T
GO
) : Là tỷ số giá trị sản xuất
thu được tính bình quân trên 1 đơn vị diện tích với chi phí trung gian của một
vụ.
Công thức tính :
GO
T
GO
= (lần)
IC
• Tỷ suất giá trị tăng thêm theo chi phí (T
VA
): Là chỉ tiêu thể hiện cứ bỏ
thêm ra một đồng vốn vào sản xuất thì sẽ tăng lên bao nhiêu lần lợi nhuận.
Công thức tính :
VA

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13

T
VA
= (lần)

+ Kết quả, hiệu quả môi trường: Là sự đảm bảo các yếu tố môi trường như
không khí, nguồn nước, hệ sinh thái thực vật, ….không bị ảnh hưởng bởi các hoạt
động hiện tại của con người, đảm bảo sự phát triển bền vững trong tương lai.

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất khoai tây vụ đông
Theo đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển cây trồng trong việc
thực hiện đề án “tổ chức sản xuất, tích tụ đất nông nghiệp thông qua việc thuê,
góp ruộng” của UBND huyện Quế Võ (2014) cho thấy, phát triển sản xuất khoai
tây vụ đông cũng như phát triển một số loại cây trồng vụ đông khác trong năm,

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14

chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như chính sách, quy hoạch, nguồn lực tài chính,
đất đai, vốn, giống, thời tiết khí hậu, thị trường tiêu thụ,… Những yếu tố này đều
có ảnh hưởng tác động tích cực và tiêu cực đến phát triển sản xuất cây trồng nói
chung cây khoai tây vụ đông nói riêng.
+ Yếu tố chính sách và quy hoạch điểm, vùng sản xuất. Trước khi hình
thành một vùng, điểm sản xuất cây trồng nào đó thì yếu tố đầu tiên có ảnh hưởng
lớn đó là các chính sách có liên quan đến phát triển, ưu đãi, hỗ trợ đối với phát
triển sản xuất cây trồng của Đảng và Nhà nước, quy định của địa phương, chính
sách quy hoạch vùng, điểm sản xuất, đặc biệt đối với các vùng, điểm sản xuất tập
trung chuyên canh tạo ra sản phẩm hàng hoá.
+ Yếu tố nguồn lực và sử dụng đầu vào. Bất kỳ khi phát triển sản xuất một
loại cây trồng nào đều cần phải quan tâm đến yếu tố nguồn lực và sử dụng các
yếu tố đầu vào phù hợp, hiệu quả cao. Đặc biệt, trong quá trình phát triển, tăng
năng suất, chất lượng khoai tây vụ đông thì nhu cầu sử dụng các nguồn lực đầu
vào (nguồn lực tài chính, đất đai, lao động,…) rất lớn so với các cây trồng ở vụ
khác trong năm.
+ Yếu tố cơ sở hạ tầng. Yếu tố cơ sở hạ tầng như hệ thống kênh mương,

sản phẩm có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả kinh tế của cây trồng, việc hình
thành một thị trường buôn bán tập trung và quảng bá sản phẩm còn gặp nhiều
khó khăn, hạn chế bởi rất nhiều yếu tố như: chính sách quy hoạch vùng sản xuất
tập trung còn chưa thoả đáng; điều kiện liên kết giữa bốn nhà (nhà nước, nhà
khoa học, nhà doanh nghiệp và nhà nông) chưa có một cơ chế phối hợp hoạt
động cụ thể; trình độ nhận thức của người nông dân còn hạn chế, trong quá trình
sản xuất chưa đảm bảo các quy trình về chăm sóc, về chất lượng sản phẩm theo
quy định, về giá cả sản phẩm đối với các hợp đồng đã ký kết bao tiêu sản phẩm.
Bên cạnh đó, cơ chế, chi phí cho quảng bá sản phẩm còn mới mẻ và hạn chế.
Việc phát triển một thị trường tiêu thụ lành mạnh và công tác xúc tiến thương
mại, quảng bá sản phẩm tốt sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất
cây trồng, thúc đẩy mở rộng quy mô sản xuất.
+ Yếu tố tự nhiên. Ở nước ta hiện nay, phát triển sản xuất nông nghiệp nói
chung, phát triển sản xuất khoai tây vụ đông nói riêng còn chịu ảnh hưởng rất lớn
bởi các yếu tố thời tiết, khí hậu. Đối với vụ đông, điều kiện thời tiết khí hậu
thường diễn biến bất thường, đặc biệt trong những năm gần đây dưới tác động
của việc biến đổi khí hậu toàn cầu, nước biển dâng diễn biến khôn lường, đã gây

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 16

lên những xáo trộn trái với quy luật tự nhiên, có tác động tiêu cực đến phát triển
sản xuất khoai tây vụ đông.
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình sản xuất khoai tây ở một số nước trên thế giới
Theo FAO tính đến năm 1990 sản lượng khoai tây trên thế giới hàng năm
đạt 300 triệu tấn, chiếm 60-70% sản lượng lúa hoặc lúa mì và chiếm khoảng 50%
tổng sản lượng cây có củ.
Bảng 2.2: Diện tích, năng suất và sản lượng khoai tây trên thế giới
giai đoạn 2011 - 2013


Châu Âu
6,13

5,98

5,73

21,09

19,48

19,73

129,28

116,49

113,05

Châu Á
9,57

9,66

10,06

18,33

18,03


1,96

2,00

14,16

14,93

15,06

27,33

29,26

30,12

Châu Úc

0,04

0,05

0,04

38,36

40,31

40,39


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status