BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ KIM THANH
TĂNG CƯỜNG KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH QUA KHO
BẠC NHÀ NƯỚC HUYỆN YÊN PHONG, BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ HÀ NỘI, NĂM 2015
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ii
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học
vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn đều được chỉ rõ nguồn gốc. Bản luận văn
này là nỗ lực, kết quả làm việc của cá nhân tôi (ngoài phần đã trích dẫn)./.
Hà Nội, ngày 04 tháng 06 năm 2015
TÁC GIẢ LUẬN VĂN Nguyễn Thị Kim Thanh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế của mình, ngoài sự nỗ lực cố
gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân và tập thể.
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ, chỉ bảo tận
tình của các thầy, cô giáo bộ môn Kế hoạch đầu tư - khoa Kinh tế và phát triển nông
thôn – Học viện Nông nghiệpViệt Nam. Đặc biệt là sự quan tâm, chỉ dẫn tận tình
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
PHẦN II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Khái niệm về NSNN 4
2.1.2 Phân cấp NSNN 4
2.1.3 Chu trình NSNN 4
2.1.4 Khái niệm, đặc điểm và phân loại về chi NSNN 5
2.1.5 Kiểm soát chi NSNN 9
2.1.6 Kiểm soát chi ngân sách qua Kho bạc nhà nước 12
2.1.7 Hệ thống thông tin quản lý NS và Kho bạc (Tabmis), công cụ đắc lực
phục vụ đổi mới quản lý NS và kiểm soát chi NS qua KBNN 21
2.1.8 Nhân tố ảnh hưởng đến kiếm soát chi NS qua hệ thống KBNN 23
2.2 Cơ sở thực tiễn 26
2.2.1 Thực tiễn kiểm soát chi NS qua KBNN ở Việt Nam hiện nay 26
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page v
2.2.2 Kinh nghiệm kiểm soát chi NS của KBNN Thành phố Bắc Ninh, tỉnh
Bắc Ninh. 27
2.2.3 Bài học kinh nghiệm cho KBNN Yên Phong, Bắc Ninh 29
PHẦN III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1 Vị trí địa lý, điều kiện kinh tế xã hội của huyện Yên Phong, Bắc
Ninh 30
3.2 Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức KBNN Yên Phong, tỉnh
Bắc Ninh. 32
5.1 Kết luận 100
5.2 Kiến nghị 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
PHỤ LỤC 106
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
KBNN : Kho bạc Nhà nước.
NSNN : Ngân sách nhà nước.
XDCB : Xây dựng cơ bản.
XHCN : Xã hội chủ nghĩa.
KTXH : Kinh tế xã hội.
NS : Ngân sách
NSTW : Ngân sách Trung ương .
NSĐP : Ngân sách địa phương.
NST : Ngân sách tỉnh.
NSH : Ngân sách huyện.
NSX : Ngân sách xã.
UBND : Uỷ ban nhân dân.
HĐND : Hội đồng nhân dân.
QLDA : Quản lý dự án.
CNH : Công nghiệp hoá.
HĐH : Hiện đại hoá.
MLNSNN : Mục lục ngân sách nhà nước
.
Phong, giai đoạn 2011-2014 58
4.8 Tình hình chi ngân sách theo hình thức lệnh chi tiền qua Kho bạc nhà
nước Yên Phong, giai đoạn 2011-2014 59
4.9 Kết quả giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản qua KBNN Yên
Phong, giai đoạn 2011-2014 69
4.10 Đánh giá những hạn chế của văn bản pháp qui hiện hành 73
4.11 Đánh giá năng lực bộ máy Kế toán 75
4.12 Đánh giá mức độ chấp hành pháp luật tài chính của đơn vị sử dụng
ngân sách nhà nước 76
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ix
DANH MỤC SƠ ĐỒ
STT Tên sơ đồ Trang
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức KBNN Yên Phong 33
Sơ đồ 3.2 Khung phân tích 36
Sơ đồ 4.1 Sơ đồ qui trình kiểm soát chi thường xuyên qua KBNN 44
Sơ đồ 4.2 Quy trình luân chuyển hồ sơ, chứng từ chi đầu tư xây dựng cơ bản từ
nguồn vốn ngân sách qua Kho bạc nhà nước Yên Phong, Bắc Ninh 61
Sơ đồ 4.3 Qui trình giao dịch một cửa trong kiểm soát chi Ngân sách qua Kho bạc
nhà nước Yên Phong 92
trách nhiệm sử dụng biên chế và kinh phí hoạt động; việc phân công nhiệm vụ kiểm
soát chi trong hệ thống KBNN còn bất cập, chưa tạo điều kiện tốt nhất cho khách
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 2
hàng, qui trình chi còn rườm rà, gây phiền phức. Đồng thời công tác kiểm soát chi
NS qua KBNN chưa đáp ứng yêu cầu quản lý và cải cách tài chính công trong xu
thế mở cửa và hội nhập quốc tế.
Xuất phát từ tình hình thực tế đó vấn đề đặt ra:
*Hệ thống văn bản pháp lý và cơ chế kiểm soát chi NS qua KBNN hiện nay đã phù
hợp với tiến trình cải cách hành chính công và hội nhập quốc tế chưa?
*Công tác kiểm soát chi NS qua KBNN trong thời gian qua đã đạt được kết
quả như thế nào? Còn tồn tại hạn chế ở điểm nào? Nguyên nhân của những tồn tại
hạn chế đó?
*Tại sao cần phải tăng cường công tác kiểm soát chi NS qua KBNN? để
tăng cường kiểm soát chi soát chi NS qua KBNN cần có những giải pháp nào?
Giải đáp cho những vấn đề nêu trên, Tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tăng
cường kiểm soát chi Ngân sách qua Kho bạc Nhà nước Huyện Yên Phong, Bắc Ninh”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác kiểm soát chi NS qua KBNN Yên
Phong trong thời gian qua, từ đó đề xuất giải pháp nhằm tăng cường kiểm soát chi
NS qua KBNN Yên Phong trong thời gian tới.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá những lý luận chung về chi ngân sách nhà nước và
kiểm soát chi ngân sách qua Kho bạc nhà nước.
- Phân tích thực trạng kiểm soát chi NS qua Kho bạc nhà nước Yên Phong để từ đó
tìm ra những nhân tố ảnh hưởng đến kết quả kiểm soát chi ngân sách.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường kiểm soát chi ngân sách
qua Kho bạc Nhà nước Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
Ngoài ra đề tài nghiên cứu hoạt động kiểm soát chi NS trong mối quan hệ với
các nhân tố bên trong và bên ngoài tác động đến kiểm soát chi NS qua KBNN trên
địa bàn huyệnYên Phong, Bắc Ninh.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 4
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm về NSNN
- NSNN là một phạm trù kinh tế khách quan, ra đời, tồn tại và phát triển trên
cơ sở sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước. Theo điều 1 chương I Luật
NSNN được Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 2
thông qua ngày 16/12/2002 đã xác định: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của
Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện
trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà
nước”(Quốc hội, 2002).
Về bản chất NSNN là hệ thống các mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã
hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài chính
nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức năng quản lý và điều hành nền kinh tế -
xã hội.
2.1.2 Phân cấp NSNN
Hệ thống NSNN ở nước ta được tổ chức gắn liền với cơ cấu tổ chức bộ máy
nhà nước. Theo quy định của pháp luật, mỗi cấp chính quyền có ngân sách riêng.
Do đó, gắn với bốn cấp chính quyền, ngân sách cũng được tổ chức thành bốn cấp
tương ứng, bao gồm: Ngân sách trung ương; ngân sách tỉnh, Thành phố trực thuộc
trung ương; Ngân sách huyện, quận, thị xã; Ngân sách xã (phường, thị trấn).
Là khâu cuối cùng trong chu trình quản lý NSNN. Nó bao gồm các công việc
lập, tổng hợp báo cáo quyết toán NSNN, phân tích, đánh giá các khoản thu, chi
NSNN đã thực hiện trong năm (Quốc hội, 2002).
Quyết toán thu, chi NSNN được thực hiện theo phương pháp từ cơ sở, tổng
hợp từ dưới lên trên và phải được Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp phê chuẩn
(Quốc hội, 2002).
2.1.4 Khái niệm, đặc điểm và phân loại về chi NSNN
2.1.4.1 Khái niệm
Theo Ngô Chí Cường: “Chi NSNN là quá trình Nhà nước sử dụng các nguồn
lực tài chính tập trung được vào việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ kinh tế, chính
trị và xã hội của nhà nước trong từng công việc cụ thể” (Ngô Chí Cường, 2009).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 6
2.1.4.2 Đặc điểm chi NSNN
Chi NSNN thể hiện các quan hệ Tài chính – Tiền tệ được hình thành trong
quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm bảo đảm các nhu cầu chi tiêu của
bộ máy nhà nước và thực hiện các chức năng chính trị, kinh tế, xã hội của Nhà nước
(Quốc hội, 2002).
Chi NSNN là sự kết hợp hài hoà giữa quá trình phân phối quỹ NSNN để hình
thành các quỹ tài chính của các cơ quan, đơn vị và quá trình sử dụng các quỹ tài
chính này (Quốc hội, 2002).
Chi NSNN là các khoản cấp phát, thanh toán từ quỹ NSNN cho các cơ quan,
đơn vị và cá nhân có tính không hoàn lại. Quy mô của chi NSNN phụ thuộc vào quy
mô các khoản thu của NSNN và những nhiệm vụ chi mà nhà nước cần phải thực
hiện (Quốc hội, 2002).
Chi NSNN gắn chặt với bộ máy quản lý nhà nước và việc triển khai thực hiện
những nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội mà nhà nước phải đảm nhận (Quốc hội, 2002).
Chi NSNN là một quá trình liên tục, gắn bó mật thiết với sự tồn tại và phát
triển của nền kinh tế và đời sống xã hội, việc xây dựng dự toán và quyết toán chi
chi NSNN. Qua việc phân loại chi NSNN sẽ có biện pháp quản lý hiệu quả, phù hợp
với đặc điểm, tính chất của từng khoản chi.
Theo mục đích kinh tế- xã hội của các khoản chi, thì chi NSNN được chia
thành chi cho đầu tư phát triển và chi cho tiêu dùng.
Chi cho đầu tư phát triển là quá trình Nhà nước sử dụng một phần vốn tiền tệ
đã được tạo lập thông qua hoạt động thu NSNN để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
kinh tế- xã hội, đầu tư phát triển sản xuất nhằm đảm bảo mục tiêu ổn định và thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế. Các khoản chi này phần lớn sẽ tạo ra sản phẩm tiêu dùng
trong tương lai, làm cho nền kinh tế tăng trưởng. Do vậy, người ta còn gọi các
khoản chi này là chi tích luỹ (Chính phủ, 2003).
Chi cho tiêu dùng là những khoản chi dùng để mua sắm hàng hoá, dịch vụ
tiêu dùng ngay trong hiện tại để đảm bảo hoạt động của các cơ quan Nhà nước, các
cá nhân và tổ chức (Chính phủ, 2003).
Theo tính chất của các khoản chi, thì chi NSNN được chia thành: Chi cho y
tế; chi cho giáo dục; chi quản lý Nhà nước; chi phúc lợi xã hội; chi đầu tư phát triển
kinh tế- xã hội (Chính phủ, 2003).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 8
Cách phân loại này cho ta biết cụ thể chi của NSNN cho từng lĩnh vực và các
hoạt động của Chính phủ hướng về lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội.
Theo yếu tố, thì chi NSNN được chia thành: Chi đầu tư; chi thường xuyên;
chi khác (Chính phủ, 2003).
Theo đối tượng trực tiếp của mỗi khoản chi, thì chi NSNN có thể chia thành:
Chi cho con người (bao gồm chi trả lương, các khoản có tính chất lương ); chi mua
sắm vật liệu, dụng cụ (mua sắm vật liệu, dụng cụ cho các cơ quan Nhà nước); chi xây
dựng, sửa chữa; chi trợ cấp, tài trợ, hoàn trả nợ vay (Bộ tài chính, 2003).
Theo tiêu thức thống kê Tài chính của Chính phủ, thì người ta chia các khoản
chi NSNN theo mục lục NSNN. Đây là cách phân loại thông dụng, theo chuẩn mực
2.1.5.2 Phân loại kiểm soát chi NSNN
Có rất nhiều cách phân loại kiểm soát chi NSNN.
Phân loại theo thời gian thì có các hình thức kiểm soát chi sau:
Kiểm soát trước khi chi là kiểm soát hồ sơ của đơn vị sử dụng ngân sách
(ĐVSDNS) trước khi thủ trưởng chuẩn chi gửi đến cơ quan Tài chính, KBNN để
cấp phát, thanh toán (Bộ Tài chính, 2003).
Kiểm soát trong khi chi là hoạt động kiểm soát được tiến hành ngay trong
quá trình thanh toán, chi trả nhằm ngăn ngừa, phát hiện sai lầm, kiểm tra việc thi
hành các định mức tiêu chuẩn của nhà nước qui định chủ yếu thông qua công tác
kiểm soát chi qua KBNN (Bộ Tài chính, 2003).
Kiểm soát sau khi chi là hoạt động hậu kiểm thực hiện theo từng năm NS hay
theo vụ việc thuộc về cơ quan Tài chính (quyết toán và thanh tra tài chính tại các
đơn vị thụ hưởng NSNN), các cơ quan Thanh tra (Chính phủ, sở, ngành…) và cơ
quan kiểm toán nhà nước nhằm kiểm tra việc chấp hành các chế độ chính sách, định
mức chi tiêu cảu đơn vị sử dụng NSNN (Bộ tài chính, 2003).
2.1.5.3 Vai trò và sự cần thiết phải thực hiện kiểm soát chi NSNN
Kiểm soát chi NSNN là việc các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện
thẩm định, kiểm tra, kiểm soát các khoản chi NSNN diễn ra tại các khâu của quá
trình chi NSNN, từ lập dự toán, chấp hành dự toán, đến duyệt quyết toán NSNN,
nhằm đảm bảo mỗi khoản chi NSNN đều nằm trong kế hoạch, được thực hiện đúng
dự toán được duyệt, đúng chế độ, định mức, tiêu chuẩn qui định và có hiệu quả kinh
tế- xã hội (Bộ tài chính, 2003). Vì vậy, kiểm soát chi NSNN là hết sức cần thiết và
có các vai trò quan trọng sau:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10
Một là: Kiểm soát chặt chẽ các khoản chi NSNN có ý nghĩa quan trọng trong
việc tập trung nguồn lực Tài chính để phát triển kinh tế- xã hội; thực hành tiết kiệm,
chống các hiện tượng tiêu cực, chi tiêu lãng phí; góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định
tiền tệ và làm lành mạnh hoá nền Tài chính Quốc gia. Bên cạnh đó còn góp phần nâng
Công tác kiểm soát chi NSNN đối với cơ quan quản lý tài chính nhà nước
nói chung và trực tiếp là cơ quan Tài chính và KBNN nói riêng cần phải đáp ứng
được một số nhu cầu sau đây:
- Chính sách và cơ chế kiểm soát chi NSNN phải làm cho hoạt động của
NSNN đạt hiệu quả cao, có tác động tích cực đến sự phát triển của nền kinh tế,
tránh tình trạng làm cho quỹ NSNN bị cắt đoạn, phân tán, gây căng thẳng trong quá
trình điều hành NSNN. Vì vậy, cơ chế và chính sách kiểm soát chi NSNN phải quy
định rõ ràng các điều kiện, trình tự cấp phát theo hướng: cơ quan tài chính thực hiện
cấp phát kinh phí phải căn cứ vào dự toán năm đã được giao; về phương thức thanh
toán phải đảm bảo mọi khoản chi của NSNN được thanh toán, chi trả trực tiếp qua
KBNN cho các đối tượng thụ hưởng trên cơ sở dự toán được duyệt, được thủ trưởng
cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách chuẩn chi và phù hợp với chính sách, chế độ,
tiêu chuẩn và định mức chi tiêu hiện hành của Nhà nước (Bộ tài chính, 2012).
- Công tác kiểm soát chi NSNN là một quy trình phức tạp. Vì vậy phải được
tiến hành hết sức thận trọng, được thực hiện dần từng bước; sau mỗi bước có tiến
hành đánh giá, rút kinh nghiệm để cải tiến quy trình kiểm soát chi cho phù hợp với
tình hình thực tế. Có như vậy mới đảm bảo tăng cường kỷ cương, kỷ luật tài chính.
Mặt khác phải tạo được sự chủ động trong chi tiêu của đơn vị sử dụng NS đồng thời
cũng không khắt khe, máy móc, gây ách tắc, phiền hà cho các đơn vị sử dụng kinh
phí NSNN cấp (Bộ tài chính, 2012).
- Tổ chức bộ máy kiểm soát chi NSNN phải gọn nhẹ theo hướng thu gọn các
đầu mối các cơ quan quản lý và đơn giản hóa thủ tục hành chính. Đồng thời, cũng
cần phân định rõ vai trò, trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan quản lý ngân
sách, các cơ quan Nhà nước, các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN, trong quá trình
thực hiện chi NSNN từ khâu lập dự toán, cấp phát ngân sách, thực hiện chi đến
khâu thông tin, báo cáo, quyết toán chi NSNN để tránh những trùng lắp, chồng chéo
trong quá trình thực hiện. Mặt khác, đảm bảo sự công khai, minh bạch và kiểm tra,
giám sát lẫn nhau giữa những cơ quan, đơn vị đó trong quá trình kiểm soát chi
NSNN (Bộ tài chính, 2012).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
cầu chi của bộ máy nhà nước, phục vụ công cuộc kháng chiến, xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước (Bộ tài chính, 2008).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13
Từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX, yêu cầu đối với cơ chế quản lý diễn ra
mạnh mẽ. Tách bạch hoạt động kinh doanh tiền tệ với nhiệm vụ quản lý nhà nước
về tài chính – ngân sách là đòi hỏi tất yếu khách quan. Để nắm chắc tình hình thu,
chi và sử dụng có hiệu quả nguồn NSNN, việc chuyển chức năng quản lý quỹ
NSNN về BTC đã được Chính phủ nhận thấy là rất cần thiết. Ngày 04/01/1990,
Chính phủ ban hành Quyết định số 07/HĐBT thành lập KBNN trực thuộc BTC. Hệ
thống KBNN được thành lập, đi vào hoạt động từ ngày 01/04/1990.
Sau 5 năm hoạt động, KBNN đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được Chính phủ và
Bộ tài chính giao. Hoạt động quản lý và điều hành quỹ NSNN thực hiện có kết quả
đã góp phần làm lành mạnh nền tài chính quốc gia đồng thời tạo nhiều điều kiện ổn
định và tăng trưởng kinh tế. Năm 1995, Chính phủ ban hành Nghị định số 25/CP
ngày 05/04/1995 của Chính phủ, Nghị định khẳng định chức năng quản lý nhà nước
về quỹ NSNN của KBNN; quỹ dự trữ tài chính Nhà nước; tiền, tài sản tạm thu, tạm
giữ; huy động vốn chi NSNN và cho đầu tư phát triển.
Trước khi có luật NSNN ra đời (1997), KBNN chỉ thực hiện xuất quĩ NSNN
mà chưa thực hiện chức năng kiểm soát chi nên chưa góp phần khắc phục tình trạng
nguồn lực tài chính bị phân tán, NSNN chưa thanh toán trực tiếp đến các đơn vị
cung cấp hàng hóa dịch vụ mà thường được cấp tạm ứng về các đơn vị chi tiêu, tạo
nên bức tranh tài chính thiếu lành mạnh và dễ phát sinh tiêu cực trong quá trình
quản lý (Bộ tài chính, 2008).
Luật NSNN ra đời năm 1997 vai trò của KBNN trong công tác kiểm soát chi
đã được xác lập rõ và từng bước đưa nhiệm vụ quản lý chi NSNN đi vào nề nếp.
Luật NSNN được sửa đổi năm 2002 với việc chuyển đổi hình thức cấp phát
theo hạn mức kinh phí thanh toán sang thanh toán theo dự toán đã cải cách công tác
quản lý và kiểm soát chi NSNN qua KBNN theo hướng giảm bớt thủ tục hành
2.1.6.3 Nguyên tắc kiểm soát, thanh toán các khoản chi NS qua KBNN
Nguyên tắc kiểm soát đối với các khoản chi thường xuyên
Tại điều 2 chương I thông tư số 161/2012/TT-BTC ngày 02/10/2012 của Bộ
Tài chính qui định chế độ, kiểm soát, thanh toán các khoản chi NS qua KBNN có
qui định: “(i)Tất cả các khoản chi ngân sách nhà nước phải được kiểm tra, kiểm
soát trong quá trình chi trả, thanh toán. Các khoản chi phải có trong dự toán ngân
sách nhà nước được giao, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cấp có thẩm quyền
quy định và đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được uỷ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 15
quyền quyết định chi.(ii) Mọi khoản chi ngân sách nhà nước được hạch toán bằng
đồng Việt Nam theo niên độ ngân sách, cấp ngân sách và mục lục ngân sách nhà
nước. Các khoản chi ngân sách nhà nước bằng ngoại tệ, hiện vật, ngày công lao
động được quy đổi và hạch toán bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá ngoại tệ, giá hiện
vật, ngày công lao động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.(iii) Việc
thanh toán các khoản chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước thực hiện
theo nguyên tắc trực tiếp từ Kho bạc Nhà nước cho người hưởng lương, trợ cấp xã
hội và người cung cấp hàng hóa dịch vụ; trường hợp chưa thực hiện được việc
thanh toán trực tiếp, Kho bạc Nhà nước thực hiện thanh toán qua đơn vị sử dụng
ngân sách nhà nước. (iv) Trong quá trình kiểm soát, thanh toán, quyết toán chi
ngân sách nhà nước các khoản chi sai phải thu hồi giảm chi hoặc nộp ngân sách.
Căn cứ vào quyết định của cơ quan tài chính hoặc quyết định của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền, Kho bạc Nhà nước thực hiện việc thu hồi cho ngân sách nhà
nước theo đúng trình tự quy định”(Bộ tài chính, 2012).
Nguyên tắc kiểm soát chi đối với các khoản chi đầu tư xây dựng cơ bản
Tại điều 12 phần II thông tư số 86/2011/TT-BTC ngày 17/06/2011 của Bộ tài
chính qui định về quản lý, thanh toán vốn đầu tư và vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư
thuộc nguồn NSNN có qui định: “(i)Trên cơ sở hồ sơ đề nghị thanh toán của chủ đầu
tư, Kho bạc nhà nước căn cứ vào các điều khoản thanh toán được quy định trong