BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LÊ THỊ THU HƯƠNG
GIÁO DỤC ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
QUA HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA Ở TIỂU HỌC
THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, 2014
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Biến đổi khí hậu đang là vấn đề được toàn nhân loại đặc biệt quan tâm. Các
nhà khoa học coi đây là một vấn đề môi trường lớn của thời đại. Biến đổi khí hậu
ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp. Việt Nam được đánh giá là một trong
năm quốc gia bị ảnh hưởng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu. Trong những năm
qua, nhiều nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã phải chịu nhiều thiên tai như
bão lớn, nắng nóng dữ dội, lũ lụt, hạn hán, sóng thần, bão từ, băng giá, nước biển
dâng, Những vấn đề đó đã để lại những hậu quả nghiêm trọng ở mọi lĩnh vực như
kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục, đặc biệt là sinh mạng con người
Hiện nay, nhiều nước trên thế giới đã và đang có những kế hoạch hành động
để ứng phó với biến đổi khí hậu. Nhận thức rõ tác động của biến đổi khí hậu, Chính
phủ Việt Nam đã xây dựng và triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia
ứng phó với biến đổi khí hậu. Các Bộ, Ngành và địa phương đã và đang xây dựng
kế hoạch hành động để ứng phó với những tác động cấp bách trước mắt và những
tác động tiềm tàng lâu dài của biến đổi khí hậu; nhiều nghiên cứu đã được thực hiện
ở các mức độ khác nhau: Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì Chương trình mục
tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2012 – 2015 (Theo Quyết định
số 1183/QĐ-TTg, ngày 30 tháng 8 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ); Viện
Khoa học Khí tượng thủy văn và Môi trường (cơ quan trực thuộc Bộ Tài nguyên và
trình dạy học các môn học này bởi giáo viên. Đây cũng có thể là một hướng để áp
dụng đưa giáo dục biến đổi khí hậu vào trong chương trình tiểu học. Tuy nhiên, cho
đến nay hướng này còn gặp nhiều bất cập. Việc tích hợp thêm các nội dung giáo dục
mới vào các môn học trong quá trình dạy học trên thực tế đang gây quá tải cho các
bài học của các môn học. Ngoài ra, cách làm này cũng không mang lại hiệu quả
giáo dục môi trường cao, do tính thống nhất của lĩnh vực giáo dục này không được
đảm bảo qua việc tích hợp vào nhiều môn học.
Hơn nữa, việc tích hợp giáo dục môi trường nói chung, giáo dục ứng phó với
biến đổi khí hậu nói riêng qua các môn học chỉ có ưu thế hơn trong việc cung cấp
cho người học các kiến thức, kĩ năng cơ sở về môi trường, về biến đổi khí hậu, cách
ứng phó với biến đổi khí hậu, Còn các hành vi, thái độ ứng phó với những vấn đề
cụ thể thì rất khó được thực hiện.
Vậy, làm thế nào để việc giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu có thể được
tiến hành tốt trong nhà trường tiểu học mà không gây quá tải cho các giờ học các
môn học? Cần tích hợp giáo dục biến đổi khí hậu trong chương trình giáo dục tiểu
học như thế nào để vừa có thể thực hiện tốt lĩnh vực giáo dục này cũng như thực
hiện tốt chương trình giáo dục các môn học? Đây là những vấn đề còn được ít đề
cập đến trong các công trình nghiên cứu.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Giáo dục
ứng phó với biến đổi khí hậu qua hoạt động ngoại khóa ở tiểu học theo quan
điểm tích hợp”.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu việc giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu qua hoạt
động ngoại khóa nhằm góp phần nâng cao kết quả giáo dục ứng phó với biến đổi
khí hậu và kết quả học tập các môn học ở trường tiểu học.
3. Giả thuyết khoa học
Nếu tổ chức giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua hoạt động
ngoại khóa theo quan điểm tích hợp, đảm bảo nguyên tắc khoa học, nguyên tắc sư
phạm hợp lí thì sẽ góp phần nâng cao kết quả giáo dục ở lĩnh vực này, đồng thời
cũng góp phần củng cố kiến thức, kĩ năng của một số môn học khác.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp điều tra: Điều tra nhận thức của giáo viên về giáo dục ứng
phó với biến đổi khí hậu và về các hình thức đã sử dụng để giáo dục cho học sinh.
- Phương pháp quan sát: Tiến hành quan sát các hoạt động giáo dục nói
chung và giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu nói riêng cho học sinh ở một số
trường tiểu học.
- Phương pháp đàm thoại: Trực tiếp gặp gỡ, trao đổi, trò chuyện với cán bộ,
giáo viên, học sinh nhằm tìm hiểu quan điểm, sự hiểu biết, thái độ, cách thức tiến
hành cũng như những thuận lợi và khó khăn khi giáo dục ứng phó với biến đổi khí
hậu trong các hoạt động ngoại khóa.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tiến hành thực nghiệm sư phạm tại
một số trường tiểu học ở các khu vực khác nhau nhằm đánh giá tính khả thi của việc
giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu qua hoạt động ngoại khóa theo quan điểm
tích hợp.
7.3. Nhóm các phương pháp thống kê toán học:
Một số phương pháp thống kê toán học, lập bảng thống kê, lập biểu đồ,
được sử dụng để phân tích về định lượng và định tính kết quả nghiên cứu. Qua đó
nhằm nâng cao tính thuyết phục và tính thực tế của đề tài.
4
8. Những điểm mới và ý nghĩa thực tế của luận văn
- Đề tài góp phần tổng hợp vấn đề lí luận về giáo dục ứng phó với biến đổi
khí hậu qua các hoạt động ngoại khóa theo quan điểm tích hợp.
- Khái quát được thực trạng giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu cho học
sinh ở trường tiểu học hiện nay.
- Xây dựng nội dung giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua hoạt
động ngoại khóa theo quan điểm tích hợp cho học sinh tiểu học.
- Tổ chức một số hoạt động giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu qua hoạt
động ngoại khóa theo quan điểm tích hợp cho học sinh tiểu học.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận
Nói một cách đơn giản, biến đổi khí hậu là sự thay đổi của khí hậu diễn ra
trong một khoảng thời gian dài, có thể là ấm hơn hoặc lạnh hơn, lượng mưa hoặc
lượng tuyết trung bình hàng năm có thể tăng hoặc giảm,… [5, tr.7].
Trong quá khứ, khí hậu Trái Đất đã có rất nhiều thay đổi một cách tự nhiên.
Tuy nhiên thuật ngữ “Biến đổi khí hậu” được dùng hiện nay chủ yếu muốn nói tới
sự nóng lên toàn cầu gây ra bởi các hoạt động của con người [5, tr.7].
Như vậy, Biến đổi khí hậu có thể được hiểu đầy đủ là sự thay đổi của khí hậu
đã được diễn ra trong một khoảng thời gian dài làm ảnh hưởng đến đa dạng sinh
học trên Trái Đất và cuộc sống của con người mà nguyên nhân chủ yếu là do hoạt
động của con người gây ra.
1.2. Nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu
Có nhiều nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu, có thể tóm tắt một số nguyên
nhân chính sau [6, tr.34]:
*) Nguyên nhân tự nhiên:
- Do sự trôi dạt của các lục địa: Thuyết kiến tạo mảng cho rằng lớp vỏ ngoài
cùng của Trái Đất được cấu tạo từ các mảng rời, có khả năng di chuyển tương đối
so với nhau trên lớp quyển mềm bên dưới. Sự di chuyển các mảng này dẫn tới sự di
chuyển vị trí của các lục địa. Chính sự di chuyển của các lục địa đã dẫn đến sự thay
đổi khí hậu của các vùng và các Châu lục.
- Do hoạt động của núi lửa và sự va chạm của Trái Đất với các thiên thạch trong
vũ trụ: Các nhà khoa học cho rằng sự va chạm của các thiên thạch với Trái Đất và sự
phun trào của núi lửa sẽ gây nên những đám mây bụi khổng lồ bao quanh Trái Đất,
ngăn cản các dòng bức xạ Mặt Trời khiến cho Trái Đất trở nên tối tăm và lạnh lẽo,
- Do sự dao động quỹ đạo của Trái Đất: Theo thuyết thiên văn học, khi quay
quanh Mặt Trời trong thời gian dài hàng chục nghìn năm, quỹ đạo của Trái Đất sẽ
có những thay đổi. Chính sự thay đổi này dẫn tới sự thay đổi lượng ánh sáng Mặt
Trời xuống bề mặt Trái Đất, ảnh hưởng đến khí hậu và làm thay đổi các mùa, sự
phân bố bức xạ Mặt Trời theo vĩ độ,
6
- Do chu kì hoạt động của Mặt Trời: Chu kì hoạt động của Mặt Trời thể hiện
và CH
4
) quá nhiều là nguyên nhân chính gây nên biến đổi khí
hậu. Đặc biệt, từ khi cách mạng công nghiệp bùng nổ (1950), các hoạt động tạo ra
khí nhà kính ngày càng gia tăng như: tăng cường khai thác và sử dụng các nhiên
liệu hóa thạch như than đá, dầu mỏ, ; sản xuất xi măng; chặt phá rừng; chăn nuôi
đại gia súc; sử dụng các hợp chất halocacbon trong công nghệ làm lạnh; sử dụng
quá mức các loại phân bón hóa học và thuốc trừ sâu; [10, tr.39].
Như vậy, sự gia tăng nồng độ các khí nhà kính làm cho Trái Đất nóng lên là
nguyên nhân chính dẫn đến biến đổi khí hậu toàn cầu. Điều này là do ý thức và
hành động của con người như: chặt phá rừng bừa bãi, lãng phí năng lượng, khai
thác và sử dụng nhiên liệu không đúng cách, sử dụng quá nhiều các chất hóa học
trong trồng trọt và chăn nuôi, dân số gia tăng,
1.3. Hậu quả của biến đổi khí hậu
7
Biến đổi khí hậu toàn cầu diễn ra ngày càng nghiêm trọng. Biểu hiện rõ
nhất là sự nóng lên của Trái Đất, là băng tan, nước biển dâng cao; là các hiện
tượng thời tiết bất thường như bão, lũ, sóng thần, động đất, hạn hán, giá rét kéo
dài,… dẫn đến thiếu lương thực, thực phẩm, kinh tế suy thoái, xung đột và chiến
tranh, mất đi sự đa dạng sinh học, phá hủy hệ sinh thái và xuất hiện hàng loạt
dịch bệnh trên người, gia súc, gia cầm…
Sự nóng lên của Trái Đất dẫn đến mực nước biển dâng cao. Nếu khoảng
thời gian 1962 - 2003, lượng nước biển trung bình toàn cầu tăng 1,8mm/năm, thì
từ 1993 - 2003 mức tăng là 3,1mm/năm. Dự báo đến cuối thế kỷ XXI, nhiệt độ
trung bình sẽ tăng lên khoảng từ 2,0
0
C - 4,5
0
C và mực nước biển toàn cầu sẽ tăng
từ 0,18m - 0,59m.
600 triệu người bị suy dinh dưỡng vì thiếu lương thực do ảnh hưởng của biến đổi
khí hậu toàn cầu trong những năm tới [23].
1.4. Ứng phó với biến đổi khí hậu
Trong báo cáo “Biến đổi khí hậu năm 2001”, Ủy Ban Liên Chính phủ về biến
đổi khí hậu (IPCC) đã nêu ra 2 nhóm chiến lược trong ứng phó với biến đổi khí hậu:
- Chiến lược giảm nhẹ biến đổi khí hậu với nội dung chủ yếu là giảm phát thải
khí nhà kính, đồng thời với việc tăng hấp thụ khí nhà kính trên phạm vi toàn cầu.
- Chiến lược thích ứng có mục tiêu là ngăn chặn và hạn chế thiệt hại do các
tác động của biến đổi khí hậu, kể cả biến đổi tự nhiên và biến đổi nhân tạo [6, tr.83].
Theo Tài liệu dạy và học về ứng phó với biến đổi khí hậu (Bộ Giáo dục và
Đào tạo, Live&Learn, Plan, AusAID) thì:
- “Giảm nhẹ biến đổi khí hậu là ngăn chặn sự nóng lên toàn cầu thông qua
việc giảm cường độ hoặc mức độ phát thải khí nhà kính” [9, tr.68].
- “Thích ứng với biến đổi khí hậu là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con
người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị
tổn thương do biến đổi khí hậu và tận dụng các cơ hội do nó mang lại” [9, tr.8].
Hạn chế, giảm thiểu sự phát thải các khí nhà kính nhằm góp phần giảm nhẹ
biến đổi khí hậu là trách nhiệm của mỗi người, mỗi gia đình và cộng đồng. Bản thân
mỗi người cần nhận thức được trách nhiệm của mình và thực hiện trách nhiệm đó
bằng những hành động, việc làm cụ thể trong cuộc sống hàng ngày. Một số biện
pháp và hành động cụ thể giúp giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu như:
- Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả (tắt điện khi không sử dụng, );
- Sử dụng các nguồn năng lượng sạch, các thiết bị tiết kiệm điện (tận dụng
năng lượng mặt trời, sử dụng đèn compact, );
9
- Thay đổi khẩu phần ăn hàng ngày (hạn chế ăn thịt, ăn nhiều rau xanh, );
- Tiết kiệm năng lượng giao thông giảm thiểu phát thải khí nhà kính (đi bộ,
đi xe đạp hoặc các phương tiện công cộng như xe bus, );
- Tiết kiệm nước;
- Tiết kiệm giấy;
tập thể đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu trước
mắt cũng như lâu dài [21, tr.22].
Như vậy, có thể hiểu một cách chung nhất, “giáo dục ứng phó với biến đổi
khí hậu” là một hoạt động giáo dục giúp người học có được những kiến thức cơ
bản nhất về biến đổi khí hậu cũng như những tác động của hiện tượng nóng lên
toàn cầu và những hiện tượng thời tiết cực đoan có thể bất ngờ xảy ra, để từ đó
10
có những kĩ năng, thái độ phù hợp giúp giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí
hậu trong thực tế cuộc sống.
2.2. Sự cần thiết phải giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu cho học sinh
tiểu học
Như chúng ta đã biết, biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra ngày càng phức
tạp và trầm trọng. Những hiện tượng thời tiết bất thường đã và đang làm đảo lộn
cuộc sống của con người. Và Việt Nam được đánh giá là một trong những nước
chịu ảnh hưởng nhiều nhất của biến đổi khí hậu, do có đường bờ biển dài trên 3260
km. Đối tượng bị ảnh hưởng nhiều nhất của biến đổi khí hậu chính là trẻ em, người
cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo, người dân tộc thiểu số, phụ nữ. Trong
những đối tượng chịu ảnh hưởng nhiều nhất đó thì trẻ em là người chịu ảnh hưởng
lớn nhất do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan như: chưa đủ sức khỏe, hạn chế về
kiến thức, thiếu kinh nghiệm và khả năng kiểm soát cảm xúc,
Mặt khác, học sinh tiểu học nói riêng với đặc điểm tâm sinh lí đặc trưng là
tò mò, ưa khám phá, thích tiếp xúc với thiên nhiên, mong muốn tìm hiểu cuộc
sống xung quanh mình, Hơn nữa, học sinh tiểu học là lứa tuổi dễ tiếp thu, hình
thành những thói quen, nền nết, những giá trị tốt đẹp, tạo cơ sở ban đầu cho việc
hình thành nhân cách sau này. Do đó việc giáo dục hình thành ý thức, thái độ, đặc
biệt là hành vi đúng đắn bảo vệ môi trường sống cũng như cách ứng phó và giảm
nhẹ hậu quả của biến đổi khí hậu là một việc làm hết sức có ý nghĩa và cần phải
được thực hiện từ sớm.
Ngoài ra, trẻ em nói chung và học sinh tiểu học nói riêng là những thế hệ
nòng cốt, là động lực và nhân tố cơ bản của xã hội trong tương lai. Những hành
Như vậy, mục tiêu và định hướng cơ bản của giáo dục biến đổi khí hậu cho
học sinh tiểu học là giúp các em quan tâm đến vấn đề biến đổi khí hậu, hiểu rõ
nguyên nhân và hậu quả của biến đổi khí hậu; tiếp cận được với những giải pháp
bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu và tại các địa phương;
phát triển năng lực hành động ứng phó với biến đổi khí hậu;
2.4. Các con đường giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu cho học sinh
tiểu học
Trong trường tiểu học, việc giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu cho học
sinh có thể được thực hiện thông qua nhiều con đường khác nhau. Sau đây xin chỉ
ra một số con đường chủ yếu thường được giáo viên sử dụng:
a) Giáo dục thông qua việc dạy học các môn học:
Việc giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu cho học sinh tiểu học có thể
được thực hiện thông qua việc lồng ghép, tích hợp vào các môn học tiềm năng
như: Tự nhiên và xã hội, Khoa học, Lịch sử, Địa lí, Đạo đức, Tiếng Việt, Âm
nhạc, Mỹ thuật, Thủ công; Kỹ thuật; Thể dục; với những mức độ khác nhau như:
tích hợp toàn phần (mức độ cao nhất), tích hợp bộ phận (mức độ trung bình), liên
hệ (mức độ thấp).
Việc lồng ghép, tích hợp giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu cho học sinh
qua các môn học cần được thực hiện theo các nguyên tắc sau:
- Đảm bảo tính hợp lí; tính khoa học; tính sư phạm; tính vừa sức;
- Nội dung phải phù hợp với tính chất từng môn học/chương/bài.
Bằng con đường này, việc giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu cho học
sinh tiểu học có những ưu điểm và hạn chế sau:
*) Ưu điểm:
- Học sinh được giáo dục trong các giờ học chính khóa qua nhiều môn học
khác nhau, từ nhiều góc độ khác nhau, với nhiều mức độ khác nhau,
12
- Góp phần làm tăng tính thực tiễn của môn học, làm cho môn học trở nên
gần gũi, thiết thực với cuộc sống thực của học sinh.
*) Hạn chế:
kiến thức, rèn luyện kĩ năng đã được học ở các môn học sẽ hạn chế. Mặt khác, nội
dung chương trình hoạt động ngoài giờ lên lớp không được quy định cụ thể mà do
các trường tự xây dựng. Điều này sẽ làm cho việc tổ chức các hoạt động ngoài giờ
lên lớp gặp nhiều khó khăn và hiệu quả giáo dục chưa cao do phụ thuộc vào nhiều
yếu tố như điều kiện cơ sở vật chất, sự quan tâm, đầu tư của từng trường, cũng như
trình độ, kĩ năng tổ chức các hoạt động của từng giáo viên
Trong khi đó, hoạt động ngoại khóa cũng là hoạt động giáo dục được nhà
trường tổ chức vào thời gian ngoài giờ lên lớp nhưng gắn liền với bài học và môn
học cụ thể. Thông qua việc tổ chức cho các em được tiếp xúc với thực tiễn cuộc
sống xã hội phong phú, tham gia các hoạt động đa dạng, giúp các em củng cố khắc
sâu, mở rộng những tri thức được hình thành qua những bài học trên lớp.
Vậy để khắc phục nhược điểm, đồng thời phát huy được những ưu điểm của
cả 2 con đường trên, trong luận văn này, tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu việc giáo dục
ứng phó với biến đổi khí hậu cho học sinh tiểu học bằng cách tích hợp trong hoạt
động ngoại khóa của các môn học tiềm năng, cụ thể là môn Khoa học, môn Lịch sử -
Địa lí và môn Tiếng Việt lớp 4, 5.
3. Hoạt động ngoại khóa và việc giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu
cho học sinh tiểu học
3.1. Hoạt động ngoại khóa là gì?
Như chúng ta đã biết, ở tiểu học, quá trình dạy học được tổ chức theo hình thức
nội khóa (bài lên lớp) và ngoại khóa [14, tr.170]. Vậy hoạt động ngoại khóa là gì?
Hoạt động ngoại khóa là một hình thức tổ chức học tập ngoài lớp, có tổ chức,
có kế hoạch, có phương hướng xác định; không bắt buộc trong chương trình, được
tiến hành theo nguyên tắc tự nguyện dưới sự điều khiển, hướng dẫn của giáo viên
nhằm bổ sung, củng cố, nâng cao những kiến thức, kĩ năng mà học sinh đã được
học trong chương trình chính khóa [15, tr.23].
Vậy có thể hiểu, hoạt động ngoại khóa là sự tiếp nối hoạt động dạy - học các
môn học được tổ chức vào thời gian ngoài giờ lên lớp, là con đường gắn lí thuyết với
thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức với hành động của học sinh, là việc tổ
chức giáo dục thông qua hoạt động thực tiễn của học sinh về khoa học - kĩ thuật, lao
- Nội dung hoạt động ngoại khoá thường liên quan với nội dung được học
tập trên lớp và phù hợp với hoàn cảnh của địa phương và đặc điểm của các em tham
gia hoạt động.
- Khi tổ chức hoạt động ngoại khoá, giáo viên không tổ chức kiểm tra, đánh
giá kết quả hoạt động ngoại khoá với các hình thức tương tự như một giờ học chính
khoá (bằng điểm số hoặc bằng nhận xét), mà đánh giá dựa trên các yếu tố như sản
phẩm của buổi hoạt động ngoại khóa hay tính tích cực, chủ động tham gia vào các
hoạt động và tự lực sáng tạo của học sinh
3.3. Một số hình thức hoạt động ngoại khóa giáo dục ứng phó với biến đổi
khí hậu cho học sinh tiểu học
Các hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa cho học sinh tiểu học rất phong
phú và đa dạng, với nhiều mối quan hệ khác nhau (thầy cô, bạn bè, các tầng lớp xã
hội, ). Những hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa thường gặp ở tiểu học như:
câu lạc bộ môn học, nhóm năng khiếu, tham quan, lao động, văn nghệ, báo tường,
hái hoa dân chủ, vui chơi, công tác xã hội, thưởng thức các loại hình nghệ thuật,
giao lưu với các nhân vật điển hình, Những hình thức cụ thể này, trong thực tiễn
giáo dục có thể được tổ chức độc lập hoặc kết hợp với nhau. Và những hoạt động
này có thể được tổ chức theo tổ, nhóm, theo tập thể lớp, khối lớp hay toàn trường
Việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa có tiềm năng to lớn trong việc giáo
dục toàn diện cho học sinh tiểu học. Với những hoạt động và những hình thức tổ
15
chức cụ thể như kể trên sẽ rất phù hợp cho việc giáo dục ứng phó với biến đổi khí
hậu nói riêng và giáo dục môi trường nói chung. Ví dụ như:
*) Vui chơi:
Vui chơi là hoạt động giải trí có ý nghĩa giáo dục to lớn. Vui chơi được thực
hiện qua các trò chơi phù hợp với lứa tuổi học sinh như: văn nghệ, thể dục thể thao,
trò chơi trí tuệ, Giáo viên có thể vận dụng nhiều hình thức vui chơi để giáo dục
ứng phó với biến đổi khí hậu như: hái hoa dân chủ để tìm hiểu về biến đổi khí hậu;
thi văn nghệ về chủ đề biến đổi khí hậu; giải ô chữ về chủ đề biến đổi khí hậu; tổ
chức các cuôc thi như “Rung chuông vàng”, “Ai thông minh hơn học sinh tiểu
dụng kiến thức các môn đã học vào trong các tình huống cụ thể gần gũi với cuộc
sống, mà còn được rèn luyện, bồi đắp thêm kiến thức cũng như kĩ năng giúp học tập
tốt các môn học đó.
Như vậy, hoạt động ngoại khóa là một hình thức tổ chức giáo dục mang tính
tích hợp cao, có khả năng hình thành cho học sinh không chỉ kiến thức mà còn rèn
luyện kĩ năng, phát triển thái độ và hành vi tích cực đối với môi trường nói chung
và ứng phó với biến đổi khí hậu nói riêng.
4. Quan điểm dạy học tích hợp và việc giáo dục ứng phó với biến đổi khí
hậu cho học sinh tiểu học
4.1. Khái niệm về tích hợp và dạy học theo quan điểm tích hợp
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về thuật ngữ “tích hợp”. Có ý kiến cho
rằng: Tích hợp là tổ hợp (combination) hay phối hợp (coordination) các môn học.
Có ý kiến khác lại cho rằng tích hợp chẳng qua là sự lắp ghép cơ giới, phép cộng
đơn thuần giữa các môn học [24].
Theo từ điển Tiếng Việt: “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chương
trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng. Tích hợp có nghĩa
là sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp”
Theo từ điển Giáo dục học: “Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng
nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau
trong cùng một kế hoạch dạy học”.
Hiểu một cách khái quát, tích hợp (integration): là sự liên kết các đối tượng
nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một hay vài lĩnh vực khác nhau trong cùng
một kế hoạch dạy học [24].
Tích hợp chương trình (program integration): là sự liên kết, hợp nhất nội
dung các môn học có nguồn tri thức khoa học và có những quy luật chung, gần gũi
với nhau. Tích hợp nhằm giảm bớt được những phần kiến thức trùng nhau, tạo điều
kiện nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo. Tích hợp không phải là phương pháp
dùng để rút bớt môn học, nhằm giảm tải kiến thức. Tích hợp cần được hiểu là một
phương hướng nhằm phối hợp một cách tối ưu các quá trình học tập riêng rẽ, các
môn học, các phân môn khác nhau theo những mô hình, hình thức, cấp độ khác
Việt Nam trong những năm gần đây. Chương trình tích hợp là đề tài được bàn bạc từ
những năm đầu thế kỷ XX. Hơn một trăm năm qua, các tác giả đã đưa ra ba loại hoạt
động tích hợp cơ bản là: tích hợp đa môn, tích hợp liên môn và tích hợp xuyên môn.
*) Tích hợp đa môn (The Multidisciplinary Integration)
Cách tiếp cận tích hợp đa môn tập trung trước hết vào các môn học. Các
môn liên quan với nhau có chung một định hướng về nội dung và phương pháp
dạy học nhưng mỗi môn lại có một chương trình riêng. Tích hợp đa môn được
thực hiện theo cách tổ chức các Chuẩn từ các môn học xoay quanh một chủ đề, đề
tài, dự án, tạo điều kiện cho người học vận dụng tổng hợp kiến thức của các môn
học có liên quan [24].
*) Tích hợp liên môn (Interdisciplinary Integration)
Theo cách tiếp cận tích hợp liên môn, giáo viên tổ chức chương trình học tập
xoay quanh các nội dung học tập chung: các chủ đề, các khái niệm và kĩ năng liên
ngành/môn. Họ kết nối các nội dung học tập chung nằm trong các môn học để nhấn
mạnh các khái niệm và kỹ năng liên môn. Các môn học có thể nhận diện được,
nhưng họ cho rằng ít quan trọng hơn so với cách tiếp cận tích hợp đa môn. Tích hợp
liên môn còn được hiểu như là phương án trong đó nhiều môn học liên quan được
kết lại thành một môn học mới với một hệ thống những chủ đề nhất định xuyên suốt
qua nhiều cấp lớp [24].
*) Tích hợp xuyên môn (Transdisciplinary Integration)
18
Trong cách tiếp cận tích hợp xuyên môn, giáo viên tổ chức chương trình học
tập xoay quanh các vấn đề và quan tâm của người học. Học sinh phát triển các kĩ
năng sống khi họ áp dụng các kĩ năng môn học và liên môn vào ngữ cảnh thực tế
của cuộc sống. Hai con đường dẫn đến tích hợp xuyên môn: học tập theo dự án
(project-based learning) và thương lượng chương trình học (negotiating the
curriculum) [24].
Như vậy, có thể hiểu một cách đơn giản và khái quát nhất về 3 cách tiếp cận
tích hợp đa môn, tích hợp liên môn, tích hợp xuyên môn như sau:
Tích hợp đa môn là cách tiếp cận tích hợp các môn học có liên quan với nhau
Và chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 đã nêu rõ: chương trình hướng tới
mục tiêu phát triển năng lực không chỉ dựa vào tính hệ thống, logic của khoa học
tương ứng khi xác định nội dung học tập mà còn gắn với các tình huống thực tiễn,
chú ý đến khả năng học tập và nhu cầu, phong cách học của mỗi cá nhân học sinh.
19
Các yêu cầu này đòi hỏi chương trình cần được phát triển theo định hướng tích
hợp nhằm tạo điều kiện cho người học liên tục huy động kiến thức, kĩ năng thuộc
nhiều lĩnh vực môn học và hoạt động giáo dục khác nhau để thực hiện các nhiệm
vụ học tập. Qua đó, các năng lực chung cơ bản cũng như năng lực chuyên biệt của
người học được phát triển.
Không nằm ngoài xu hướng đó, giáo dục nội dung ứng phó với biến đổi khí
hậu cho học sinh tiểu học cũng cần phải được xây dựng trên quan điểm định hướng
tích hợp. Có thể giáo dục nội dung này theo hướng tích hợp đa môn bằng cách lồng
ghép vào các môn học có liên quan với nhiều mức độ tích hợp khác nhau. Tuy
nhiên, do phạm vi nghiên cứu của đề tài cũng như xu hướng dạy học tích hợp
hướng đến hình thành những kĩ năng sống cần thiết cho học sinh, đáp ứng nhu cầu
xã hội hiện nay nên chúng tôi đi sâu tìm hiểu về cách tích hợp là: thông qua các
kiến thức, kĩ năng, thái độ về môi trường cũng như về ứng phó với biến đổi khí hậu
được lồng ghép vào các môn học tiềm năng như Khoa học, Lịch sử - Địa lí, Tiếng
Việt, sẽ được củng cố, rèn luyện, thực nghiệm ở các hoạt động ngoại khóa với
nhiều hình thức tổ chức phong phú, đa dạng. Đồng thời, qua hoạt động ngoại khóa,
các kiến thức, kĩ năng, năng lực, thái độ, hành vi, mà học sinh được tích lũy từ
nhiều môn học khác nhau sẽ được huy động để tìm hiểu chủ đề giáo dục ứng phó
với biến đổi khí hậu gắn với thực tiễn đời sống. Đó cũng chính là quan điểm của
cách tiếp cận theo hướng tích hợp xuyên môn như đã nói ở trên.
Như vậy, việc dạy học chủ đề giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu nói
riêng và dạy học các nội dung khác nói chung cho học sinh tiểu học thông qua hoạt
động ngoại khóa theo quan điểm tích hợp xuyên môn sẽ giúp học sinh củng cố
những kiến thức, kĩ năng đã được học ở các môn học và hình thành những kiến
thức, kĩ năng mới có tính ứng dụng thực tiễn cao (kĩ năng sống). Đồng thời, giúp
động ngoại khóa là hoàn toàn phù hợp. Các em được lĩnh hội kiến thức một cách tự
nhiên, nhẹ nhàng, không gượng ép và hiệu quả. Giáo dục thông qua hoạt động ngoại
khóa, các em sẽ được vận động thông qua các hình thức tổ chức phong phú như lao
động, tham quan, trò chơi, các em được tự mình trải nghiệm để tìm ra kiến thức, kĩ
năng cần lĩnh hội. Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức các hoạt động ngoại khóa giáo
dục ứng phó với biến đổi khí hậu nên lựa chọn các hình tổ chức với mức độ vận động
nhẹ nhàng, an toàn và hấp dẫn, không làm học sinh mệt mỏi, chán nản hay quá sức,
Về đặc điểm nhận thức, các quá trình và thuộc tính tâm lí cũng đang trong
quá trình phát triển và hoàn thiện. Cụ thể:
- Tri giác: Tri giác của học sinh tiểu học mang tính không chủ định. Các em
không tập trung sức lực xem xét đối tượng mà chỉ dừng lại ở một chi tiết đại thể nào
đó, xem nó là đối tượng. Khi tri giác, sự phân tích có mục đích, có tổ chức và sâu
sắc của các em còn yếu, do đó các em phân biệt các đối tượng còn chưa chính xác,
dễ mắc sai lầm. Đặc biệt, tri giác của các em còn mang tính xúc cảm. Trẻ tri giác
những gì trước mắt rực rỡ, sinh động, những sự vật hay những thuộc tính của sự
vật, những đặc điểm nào trực tiếp gây cho trẻ phản ứng xúc cảm [20]. Như vậy, nét
đặc trưng nhất trong tri giác của trẻ tiểu học là tính chất ít phân hóa và tính trực
quan, cụ thể. Các em thường thâu tóm sự vật một cách chung chung. Chính vì khả
năng tri giác chưa ổn định và đang trong quá trình hoàn thiện nên việc học mà chơi,
chơi mà học thông qua các hoạt động ngoại khóa sẽ giúp các em tiếp thu kiến thức
một cách nhẹ nhàng, tự nhiên. Không những thế, tri giác của các em được gắn liền
với hành động, với hoạt động thực tiễn nên việc cho các em tiếp xúc với môi trường
tự nhiên, cho các em trực tiếp tham gia vào các hoạt động ứng phó với biến đổi khí
hậu trong thực tiễn cuộc sống sẽ là cách học hiệu quả và tốt nhất.
- Trí nhớ: Các em có khả năng ghi nhớ tốt, đặc biệt là ghi nhớ máy móc. Các
em nhớ và giữ gìn chính xác trong trí nhớ những hiểu biết, những biến cố, những
gương mặt, những sự việc và sự kiện cụ thể nhanh hơn và tốt hơn nhớ những định
nghĩa, những lời giải thích. Trẻ dễ nhớ những gì tác động trực tiếp đến tri giác của trẻ
và nhớ lâu những gì chúng đã tiến hành hành động trên nó. Do đó, trẻ thích tham gia
các hoạt động mang tính thực tiễn, có tính chất vận động [20]. Điều này càng chứng
năng tưởng tượng sáng tạo hơn và đã biết dựa vào ngôn ngữ để xây dựng các hình
ảnh tưởng tượng mang tính trừu tượng, khái quát hơn [20]. Chính vì vậy, tùy vào
nội dung giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu và mục tiêu cần đạt được mà lựa
chọn những hình thức tố chức các hoạt động ngoại khóa khác nhau gắn với thực
tiễn đời sống để từ đó góp phần phát triển trí tưởng tượng cho các em.
- Ngôn ngữ: Hầu hết học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo. Đến lớp
5, ngôn ngữ viết bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm. Nhờ có
ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung
quanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau. Ngôn ngữ
có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của trẻ.
Trong quá trình giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu qua hoạt động ngoại khóa
theo quan điểm tích hợp ta có thể tổ chức cho các em thi kể truyện, đọc thơ, viết
22
báo, viết nhật kí, thi hùng biện, Điều này sẽ góp phần không nhỏ vào sự phát triển
ngôn ngữ cho các em.
Qua việc phân tích, tìm hiểu các đặc điểm về cơ thể, về quá trình nhận thức,
cũng như đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học cho thấy, việc tổ chức các hoạt động
ngoại khóa giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu theo quan điểm tích hợp cho các
em là hoàn toàn phù hợp, cần thiết và có tính khả thi cao.
II. THỰC TRẠNG GIÁO DỤC ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở
TRƯỜNG TIỂU HỌC
1. Khái quát về quá trình điều tra
1.1. Mục đích điều tra
Nhằm tìm hiểu nhận thức của giáo viên và học sinh tiểu học về biến đổi khí
hậu, giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu, các con đường giáo dục ứng phó với
biến đổi khí hậu cho học sinh hiện nay, chúng tôi tiến hành điều tra và trên cơ sở đó
xác lập cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng nội dung giáo dục ứng phó với biến đổi
khí hậu qua hoạt động ngoại khóa ở tiểu học theo quan điểm tích hợp.
1.2. Đối tượng và địa bàn điều tra
Để tìm hiểu nhận thức, thái độ của giáo viên về biến đổi khí hậu, giáo dục
sau quá trình điều tra đối với giáo viên và học sinh.
- Phương pháp thống kê toán học: Chúng tôi đã thu thập, xử lí và phân tích
các số liệu điều tra.
2. Kết quả điều tra
2.1. Nhận thức của giáo viên, học sinh tiểu học về biến đổi khí hậu và ứng
phó với biến đổi khí hậu
a) Đối với giáo viên:
Dựa trên kết quả thu được từ 279 phiếu trưng cầu ý kiến hợp lệ, chúng tôi đã
tiến hành tổng hợp, đánh giá và kết quả thu được như sau:
- Về mức độ quan tâm đến vấn đề biến đổi khí hậu và ứng phó với biến đổi
khí hậu, đa số (60,2%) giáo viên được điều tra chọn ý kiến “thường xuyên” và
37,05% giáo viên chọn ý kiến “thỉnh thoảng” nghe và quan tâm đến vấn đề này.
Như vậy, có thể nói hầu hết giáo viên được điều tra đều chú ý, quan tâm đến vấn đề
đã nêu. Tuy nhiên, con đường mà các giáo viên tiếp cận vấn đề này lại không phải
là qua tài liệu, giáo trình, sách giáo khoa, sách tham khảo, đọc thêm, (5,02%) mà
là qua các phương tiện truyền thông (đài, ti vi, loa phát thanh, ) và do tự tìm hiểu
qua mạng internet (86,23%).
- Về nhận thức, hiểu biết về biến đổi khí hậu và ứng phó với biến đổi khí
hậu, chúng tôi đã đưa ra 3 câu hỏi 3, 4, 5 (Phiếu trưng cầu ý kiến – Phụ lục 1). Kết
quả như sau:
+ Ở câu hỏi “Biến đổi khí hậu là gì?” thì có đến 31,2% chọn là “sự nóng lên
của khí hậu toàn cầu”; 27,04% chọn là “thiên tai và những hiện tượng thời tiết cực
đoan như bão, lũ, sóng thần, hạn hán, ”. Chỉ có 39,8% giáo viên được điều tra
đánh dấu vào đáp án là “những thay đổi của khí hậu vượt ra khỏi trạng thái trung
bình đã được duy trì trong một khoảng thời gian dài”.
+ Ở câu hỏi về biểu hiện và nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu thì đại đa số
các thầy cô đều trả lời đúng. Cụ thể kết quả ở bảng 1 và bảng 2:
Biểu hiện của BĐKH Kết quả
SL %
1. Núi lửa phun trào
2 0.71
5. Do các hoạt động khai thác và sử dụng tài nguyên
không hợp lí của con người làm gia tăng nồng độ các khí
nhà kính trong bầu khí quyển
269 95.05
Bảng 2
Như vậy, qua tìm hiểu thực trạng nhận thức của giáo viên về biến đổi khí hậu
và ứng phó với biến đổi khí hậu, chúng tôi nhận thấy hầu hết các thầy cô đã có sự
quan tâm và những hiểu biết nhất định về vấn đề này. Tuy nhiên, những kiến thức
mà các giáo viên có được về vấn đề này chưa thật chuẩn xác, thường là những suy
luận, những kinh nghiệm sống, hiểu biết mà các thầy, cô tự tìm hiểu qua các nguồn
thông tin khác nhau.
b) Đối với học sinh:
Dựa trên kết quả của 283 phiếu điều tra hợp lệ chúng tôi tiến hành tổng hợp
và đánh giá như sau:
- Chỉ có 9,5 % học sinh chọn ý kiến “thường xuyên” được nghe và 35% học
sinh chọn ý kiến “thỉnh thoảng” được nghe về vấn đề biến đổi khí hậu. Như vậy,
vẫn còn 55,5% học sinh chọn ý kiến “chưa bao giờ” được nghe và “ít khi” được
nghe về vấn đề này. Điều này chứng tỏ việc giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu
cho học sinh ở trường tiểu học còn chưa được quan tâm và tiến hành đúng mức.
- Về những nguồn thông tin về bảo vệ môi trường, biến đổi khí hậu và ứng
phó với biến đổi khí hậu thì có đến 85,67% học sinh chọn nghe từ “các thầy/cô
giáo”, 14,33% còn lại chọn “những nguồn khác” như phim ảnh, đài, báo, mạng
iternet và những người xung quanh. Như vậy có thể nói, nhà trường, thầy/cô giáo
là nguồn thông tin tác động thường xuyên nhất tới học sinh về vấn đề biến đổi khí
hậu và ứng phó với biến đổi khí hậu. Đây là thuận lợi lớn làm cơ sở cho chúng ta
xây dựng chương trình giáo dục vấn đề này qua hoạt động ngoài giờ lên lớp ở nhà
trường tiểu học.
- Về mức độ quan tâm, theo dõi những vấn đề về thời tiết, khí hậu: có
118/283 em chọn ý kiến “thường xuyên” (chiếm 41,69%), 96/283 em chọn ý kiến