skkn tích hợp giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu trong môn sinh học 10 - Pdf 25

1
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vò : Trường THPT Long Thành
 
Mã số :………………….
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÍCH HỢP GIÁO DỤC ỨNG PHĨ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ
HẬU TRONG MƠN SINH HỌC 10
Người thực hiện : VŨ THỊ HỒNG
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục 
- Phương pháp dạy học bộ mơn: 
- Lĩnh vực khác: Dạy học tích hợp trong mơn Sinh học 
Có đính kèm:
 Mơ hình  Đĩa CD (DVD)  Phim ảnh  Hiện vật khác
Năm học : 2013 – 2014
SƠ LƯC LÝ LỊCH KHOA HỌC

I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên : VŨ THỊ HỒNG
2. Ngày tháng năm sinh : 12 – 08 – 1971
3. Nam, nữ : nữ.
4. Đòa chỉ : K5/186 tổ 4 khu Văn Hải – Thò trấn Long Thành – Huyện
Long Thành – Tỉnh Đồng Nai.
5. Điện thoại : 0613844281 (CQ)/ 0613545969 (NR)
6. Email : Laroselongthanhyahoo.com.vn
7. Chức vụ : Giáo viên.
8. Nhiệm vụ được giao : Tổ trưởng chun mơn (tổ Sinh học – Nữ cơng);
Giảng dạy mơn Sinh học lớp 12A
1
, 12A

• Tích hợp giáo dục giới tính – sức khỏe sinh sản vị thành niên qua
bộ mơn Sinh học ở trường THPT.
• Nâng cao hiệu quả hoạt động tổ chun mơn bộ mơn Sinh học cấp
THPT.
• Sử dụng phiếu học tập trong ơn thi tốt nghiêp mơn Sinh học cấp
trung học phổ thơng.
2
TÍCH HỢP GIÁO DỤC ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRONG
MÔN SINH HỌC 10
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hiện nay nhân loại đang phải đối mặt với một trong những thách thức lớn là sự
biến đổi khí hậu (BĐKH) toàn cầu. BĐKH đã có những tác động sâu sắc, mạnh mẽ
đến môi trường tự nhiên, đời sống của sinh vật (SV) và con người; các hoạt động sản
xuất, kinh tế - xã hội của cả mọi châu lục, mọi quốc gia trên Trái Đất. Những biểu
hiện, đặc điểm, nguyên nhân và tác động của BĐKH đã được nghiên cứu, tìm hiểu.
Các giải pháp mang tính chiến lược toàn cầu và của mỗi quốc gia trên Thế giới về
ứng phó có hiệu quả với BĐKH cũng đã được đề ra và thực hiện.
Ở nước ta, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia
ứng phó với BĐKH (Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 2/12/2008). Để thực
hiện chương trình mục tiêu quốc gia này, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phê
duyệt Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH của ngành Giáo dục giai đoạn 2011 -
2015 và phê duyệt Dự án "Đưa các nội dung ứng phó với BĐKH vào chương trình
Giáo dục và Đào tạo giai đoạn 2011 - 2015" đặc biệt đối với một số môn cấp trung
học phổ thông (THPT) như: Vật lí, Hóa học, Sinh học, Địa lí, Công nghệ.
Trong chương trình giáo dục THPT bên cạnh việc hoàn thiện nội dung giáo
dục phổ thông qui định cho từng khối lớp, thì trước những thách thức của BĐKH
giáo viên (GV) còn có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh (HS) những hiểu biết cơ bản
về BĐKH, tác động của BĐKH đến môi trường tự nhiên, đến đời sống và sản xuất
của con người; những giải pháp nhằm hạn chế tác động của BĐKH và ứng phó với
BĐKH để HS trở thành một tuyên truyền viên tích cực trong gia đình, nhà trường và

Năm 2013, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức các đợt tập huấn dành cho GV
về giáo dục ứng phó với BĐKH cấp trung học phổ thông ở các môn Vật lí, Hóa học,
Sinh học, Địa lí, Công nghệ qua các nội dung cơ bản sau đây:
- Kiến thức cơ bản về BĐKH:
+ Biểu hiện, đặc điểm và nguyên nhân chính của sự BĐKH toàn cầu.
+ Tác động của sự BĐKH đối với tự nhiên và các hoạt động của con người.
+ Ứng phó với BĐKH.
+ Hành động ứng phó với BĐKH.
+ Giáo dục, tuyên truyền, các giải pháp giảm nhẹ với BĐKH tại các địa
phương.
- Giáo dục ứng phó với BĐKH trong trường THPT:
+ Vai trò, nhiệm vụ của giáo dục phổ thông trước những thách thức của
BĐKH.
+ Mục tiêu của giáo dục ứng phó với BĐKH trong trường THPT.
+ Định hướng, yêu cầu của giáo dục ứng phó với BĐKH trong trường THPT.
+ Tích hợp giáo dục ứng phó với BĐKH trong trường THPT.
Riêng đối với môn Sinh học, tích hợp giáo dục ứng phó với sự BĐKH gồm các
nội dung:
- Mục tiêu chung về giáo dục ứng phó với BĐKH trong môn Sinh học.
- Khả năng tích hợp giáo dục ứng phó với BĐKH của môn Sinh học.
- Gợi ý về tổ chức dạy học tích hợp (DHTH) nội dung giáo dục ứng phó với
BĐKH vào môn Sinh học cấp THPT.
4
- Giới thiệu một số địa chỉ tích hợp giáo dục ứng phó với BĐKH trong môn
Sinh học
Tuy nhiên, trong các nội dung của tài liệu và của các đợt tập huấn nói trên chỉ
mang tính khái quát và chỉ nhằm mục đích định hướng, chưa có chỉ đạo cụ thể, do đó
trong năm học 2013 – 2014 tôi mạnh dạn tích hợp nội dung về Giáo dục ứng phó với
biến đổi khí hậu trong giảng dạy Sinh học ở các khối lớp được phân công (khối 10 và
khối 12), nhưng do khối 10 có nhiều bài có nội dung liên quan đến BĐKH và ít bị áp lực

cũng có thể được xem như một biện pháp giảm tải tâm lí học tập có hiệu
5
quả và rất có ý nghĩa. Làm cho HS thấu hiểu ý nghĩa của các kiến thức cần
tiếp thu, bằng cách tích hợp một cách hợp lí và có ý nghĩa các nội dung gần
với cuộc sống hàng ngày vào môn học, từ đó tạo sự xúc cảm nhận thức,
cũng sẽ làm cho HS nhẹ nhàng vượt qua các khó khăn về nhận thức và việc
học tập khi đó mới trở thành niềm vui và hứng thú của HS.
Ứng phó với BĐKH là một vấn đề cấp thiết hiện nay nhưng chưa thể
đưa thành một bộ môn riêng biệt trong giáo dục phổ thông. Do đó việc tích
hợp ngay vấn đề này vào giảng dạy là hợp lí.
III.2. Phương thức, hình thức DHTH nội dung giáo dục ứng phó với
BĐKH trong môn Sinh học cấp THPT
III.2.1. Các phương thức tích hợp
- Nội dung giáo dục phổ thông đảm bảo tính phổ thông, cơ bản, toàn diện,
hướng nghiệp và có hệ thống; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm
sinh lí lứa tuổi của HS, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở cấp học, nên việc đưa
các nội dung giáo dục ứng phó với BĐKH, cũng như các nội dung giáo dục
khác vào nội dung các môn học trong trường phổ thông cần phải tìm các
phương thức dạy học phù hợp. Thực tế cho thấy thực hiện phương thức tích
hợp các nội dung nêu trên trong dạy học các môn học là khả thi nhất trong
bối cảnh hiện nay.
- Các nội dung giáo dục ứng phó với BĐKH, nội dung giáo dục sử dụng
năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, cũng như nội dung giáo dục bảo vệ môi
trường, có thể được tích hợp vào các môn học ở các mức độ khác nhau.
Trong trường hợp cần tích hợp nhiều nội dung có liên quan với nhau vào
cùng một môn học, trước hết cần làm rõ mối quan hệ giữa các nội dung này
và nên lựa chọn các nội dung thể hiện rõ nhất, có cơ sở khoa học và có ý
nghĩa nhất để tích hợp vào nội dung môn học. Điều này giúp tránh được sự
dàn trải, đưa quá nhiều nội dung vào môn học làm quá tải hoạt động học tập
của HS.

của HS (như sử dụng các mô hình, tranh ảnh, video clip ).
Hoạt động 4: Xây dựng tiến trình dạy học cụ thể. Ở đây GV cần nêu cụ thể
các hoạt động của HS, các hoạt động trợ giúp của GV.
- Hình thức thứ hai: Giáo dục ứng phó với BĐKH cũng có thể được triển
khai như một hoạt động độc lập song vẫn gắn liền với việc vận dụng kiến
thức môn học. Các hoạt động có thể như: tham quan, ngoại khóa, tổ chức
các nhóm ngoại khóa chuyên đề, tổ chức thực hiện dự án, nghiên cứu một
đề tài (phù hợp với HS). Với các hoạt động này, mức độ tích hợp kiến thức,
kĩ năng các môn học với các nội dung giáo dục ứng phó với BĐKH, giáo
dục môi trường sẽ đạt cao nhất. Trong các hoạt động này, HS học cách vận
dụng kiến thức môn học trong các tình huống gần gũi với cuộc sống hơn,
huy động được kiến thức từ nhiều môn học hơn.
Đối với môn Sinh học có thể tích hợp kiến thức giáo dục BĐKH vào
môn học theo 2 dạng:
a) Dạng lồng ghép : Ở dạng này các kiến thức giáo dục BĐKH đã có trong
chương trình và sách giáo khoa Sinh học THPT và trở thành một bộ phận
kiến thức của môn học. Kiến thức giáo dục BĐKH được lồng ghép có thể :
- Chiếm một vài chương;
- Chiếm một hoặc một số bài trọn vẹn (lồng ghép toàn phần);
7
- Chiếm một mục, một đoạn hay một câu trong bài học (lồng ghép một
phần).
b) Dạng liên hệ : Ở dạng này, các kiến thức giáo dục BĐKH không được
đưa vào chương trình và SGK, nhưng dựa vào nội dung bài học, người GV
có thể bổ sung kiến thức giáo dục môi trường có liên quan với bài học qua
giờ giảng lên lớp.
Có thể tích hợp kiến thức giáo dục BĐKH qua một số cách sau :
• Ví dụ hoặc thông tin minh họa
Ví dụ: Sau khi dạy xong bài 1 Các cấp tổ chức của thế giới sống, Sinh học
10, GV yêu cầu HS hãy nêu một số ví dụ về khả năng tự điều chỉnh của cơ

quan hệ giữa giáo duc BĐKH và Sinh học cũng được làm rõ và HS được
hình thành những khái niệm mới, chung hơn cho cả giáo dục BĐKH và
Sinh học.
III.3. Giới thiệu địa chỉ tích hợp giáo dục ứng phó với BĐKH trong môn
Sinh học 10
Tên bài Địa chỉ
tích hợp
Nội dung giáo dục
ứng phó với BĐKH
Kiểu tích hợp
Bài 1.
Các cấp
tổ chức
của thế
giới
sống
I.1. Các cấp độ
tổ chức của thế
giới sống
II. Đặc điểm
chung của các
cấp tổ chức
sống
Đa dạng các cấp tổ chức sống tạo
nên sự đa dạng của thế giới SV và
đa dạng sinh học.
Bảo vệ các loài SV và môi trường
sống của chúng là bảo vệ đa dạng
sinh học. Môi trường và SV có mối
quan hệ thống nhất, giúp cho các tổ

5. Giới Động
vật
Các sinh vật trong giới Khởi sinh,
Nguyên sinh và giới Nấm góp phần
hoàn thành chu trình tuần hoàn vật
chất.
Thực vật (TV) có vai trò quan trọng
trong việc điều hòa khí hậu đồng
thời là mắt xích đầu tiên trong chuỗi
và lưới thức ăn.
Động vật (ĐV) là mắt xích trong
chuỗi và lưới thức ăn, đảm bảo sự
tuần hoàn năng lượng và vật chất,
góp phần cân bằng hệ sinh thái.
Hạn chế BĐKH tức là bảo vệ môi
trường sống an toàn, đảm bảo cho
sự phát triển thuận lợi của các giới
SV → đảm bảo đa dạng sinh học.
Có ý thức bảo vệ và thái độ đúng
đắn trong việc bảo vệ rừng và khai
thác rừng hợp lí. Duy trì hệ sinh thái
đất, nước để giới Khởi sinh, Nguyên
sinh, Nấm phát triển cân bằng góp
phần vào việc hình thành chu trình
tuần hoàn vật chất.
Trồng nhiều cây xanh giúp điều hòa
khí hậu.
10
Bài 3.
Các

Liên hệ
Bài 4.
Cacbohi
drat và
lipit
I. Cacbohidrat Nguồn cacbohidrat đầu tiên trong
hệ sinh thái là sản phẩm quang hợp
của TV, là nguồn thức ăn cho ĐV
ăn TV và con người.
Việc trồng và bảo vệ cây xanh là
vấn đề cấp thiết.
Liên hệ
Bài 5.
Prôtêin
I. Cấu trúc của
prôtein
Sự đa dạng trong cấu trúc của
prôtêin dẫn đến sự đa dạng trong
giới SV.
Nhiệt độ, độ pH ảnh hưởng đến
chức năng của protein → có những
hành động thiết thực nhằm hạn chế
Liên hệ
11
II. Chức năng
của prôtêin
tác hại của BĐKH.
Đa dạng sinh học đảm bảo cho cuộc
sống con người : cung cấp nguồn
thực phẩm đa dạng từ TV và ĐV,

BĐKH : sự thay đổi nhiệt độ gây
sốc nhiệt, sự tăng nồng độ của các
chất hóa học độc hại trong môi
trường sống
Liên hệ
12
Bài 9. Tế
bào
nhân
thực
(tiếp
theo)
VI. Lục lạp Lục lạp là bào quan chỉ có ở TV, là
nơi diễn ra các hoạt động quang
hợp. Là cơ sở để thấy được vai trò
của TV đối với vai trò điều hòa khí
hậu và vai trò chuyển đổi năng
lượng.
Trồng và bảo vệ cây xanh.
Liên hệ
Bài 11.
Vận
chuyển
các chất
qua
màng
sinh chất
Cả bài Bón phân cho cây trồng đúng liều
lượng. Nếu bón phân không đúng
cách, gây dư thừa, cây không sử

môi trường tăng cao hơn có thể ảnh
hưởng đến hoạt tính enzim trong tế
bào, từ đó ảnh hưởng đến đời sống
của VSV.
Nhiều VSV có khả năng phân giải
xác động, thực vật trong đất là do
chúng tiết ra các enzim phân giải
các chất hữu cơ thành các chất đơn
Liên hệ
13
giản hơn, thực hiện quá trình
chuyển hóa trong đất, vì vậy sử
dụng phân bón vi sinh vừa cung cấp
phân bón cho cây, vừa làm giàu
dinh dưỡng tự nhiên cho đất vừa có
lợi với môi trường.
Bài 16.
Hô hấp
tế bào
I. Khái niệm
hô hấp tế bào
Quá trình hô hấp tế bào có liên quan
đến quá trình trao đổi khí của sinh
vật và con người.
Khi nhiệt độ của trái đất nóng lên,
có thể làm tăng quá trình trao đổi
khí.
Chặt phá rừng, đô thị hóa làm hẹp
đất nông nghiệp dẫn tới hạn chế khả
năng hấp thụ khí ở cây xanh, các

Cần có ý thức bảo vệ rừng, tích cực
trồng cây xanh xung quanh nơi
mình sinh sống, tuyên truyền cho
người khác về vai trò của việc trồng
cây xanh với việc tạo ra bầu khí
quyển trong lành.
Bài 18.
Chu kì tế
bào và
quá trình
nguyên
phân
Cả bài Chu kì tế bào được điều khiển bằng
một hệ thống điều hòa rất tinh vi.
Nếu do các tác nhân vật lí, hóa học
từ môi trường ngoài làm cho các cơ
chế điều khiển phân bào bị hư hỏng
hoặc trục trặc, cơ thể có thể bị lâm
bệnh. Bệnh ung thư là một ví dụ cho
thấy, tế bào ung thư đã thoát khỏi
các cơ chế điều hòa phân bào của cơ
thể nên nó phân chia liên tục tạo
nên các khối u chèn ép các cơ quan
khác.
Điều kiện môi trường có ảnh hưởng
trực tiếp đến các quá trình sinh lí
trong cơ thể → tránh xa nguồn tác
nhân gây ô nhiễm và có nhiều hoạt
động nhằm giảm đến mức tối thiểu
những BĐKH.

Liên hệ
Bài 25.
Sự sinh
trưởng
của vi
sinh vật
Cả bài Công nghệ sinh học cần phải vận
dụng sự sinh sản theo cấp số mũ của
VSV để sản xuất prôtêin, các chất
hoạt tính sinh học, nhằm giải quyết
những nhu cầu ngày càng tăng
nhanh của con người và bảo vệ sự
bền vững của môi trường sống.
Tốc độ sinh trưởng, sinh sản và tổng
hợp vật chất ở VSV cao, đa dạng
trong trao đổi chất ở VSV giúp phân
giải các chất bền vững, các chất độc
hại trong môi trường góp phần lớn
giảm ô nhiễm.
VSV phân giải xác động - thực vật,
thực hiện các quá trình chuyển hóa
trong đất, làm cho đất giàu mùn -
cung cấp chất dinh dưỡng nuôi cây,
Liên hệ
16
góp phần làm sạch môi trường.
Sự phân giải của VSV là cơ sở chế
biến rác thải hữu cơ thành phân bón.
Vì vậy cần phân loại rác thải ngay
từ sớm để tách riêng các loại rác

bớt sự lệ thuộc vào khai thác tài
nguyên thiên nhiên.
Một số chất hóa học có tác dụng
hạn chế sự sinh trưởng của VSV có
hại được sử dụng làm trong sạch
nguồn nước, thực phẩm. Sử dụng
nguyên lí này trong các nhà máy, xí
Lồng ghép
Liên hệ
17
nghiệp sản xuất để xử lí chất thải
lỏng có khả năng gây ô nhiễm cao
trước khi thải ra nguồn nước như
sông, ngòi, kênh, rạch,
Rèn luyện ý thức giữ gìn vệ sinh,
bảo vệ môi trường.
Bài 31.
Virut
gây bệnh
và ứng
dụng của
virut
trong
thực tiễn
I. Các virut kí
sinh ở VSV,
thực vật và côn
trùng.
II. Ứng dụng
của virut trong

Liên hệ
III.4. Gợi ý về tổ chức DHTH nội dung giáo dục ứng phó với BĐKH trong
môn Sinh học
III.4.1. Phương pháp dạy học
Nội dung giáo dục BĐKH được tích hợp vào nội dung của môn Sinh học
nên có thể sử dụng các phương pháp dạy học Sinh học để dạy về BĐKH. Mục
tiêu của giáo dục BĐKH không chỉ hình thành cho HS kiến thức về bản chất,
nguyên nhân, biểu hiện và hậu quả của BĐKH, mà còn hình thành cho các em
18
mối quan tâm, thái độ đúng đắn, các kĩ năng cần thiết, từ đó mới có thể hình
thành hoặc có chuyển biến trong hành vi của các em đối với BĐKH. Để đạt
mục tiêu đó thì phải sử dụng các phương pháp dạy học theo hướng tích cực,
lấy HS làm trung tâm. Đây cũng đồng thời là việc làm thực hiện đổi mới
phương pháp dạy học và nâng cao được chất lượng dạy học bộ môn Sinh học.
Các phương pháp dạy học theo hướng tích cực dưới đây có thể sử dụng trong
tích hợp giáo dục BĐKH qua dạy học Sinh học.
- Phương pháp thuyết trình : Thuyết trình là phương pháp dạy học truyền
thống, chủ yếu dùng lời nhưng vẫn có tính tích cực nếu thuyết trình nêu vấn đề
hoặc thuyết trình giải quyết vấn đề, kết hợp với sự minh hoạ của các phương
tiện trực quan. Trong DHTH giáo dục BĐKH, thuyết trình có thể sử dụng một
cách hiệu quả trong trường hợp GV giải thích những khái niệm trừu tượng,
chẳng hạn giải thích vai trò của các hệ sinh thái trong đời sống tinh thần của
con người, đó chính là cảnh đẹp của thiên nhiên giúp con người thư giãn sau
giờ làm việc căng thẳng
Thuyết trình với đặc trưng là dùng lời còn có ưu điểm là GV có thể
truyền cảm xúc vào lời nói khi kể những câu chuyện về môi trường cho HS.
HS có thể thấy được sự lo lắng của cả nhân loại đến những tác hại mà thiên
nhiên mang lại cho con người; HS có thể thấy được sự bình yên khi được
sống trong môi trường trong lành do thiên nhiên mang lại; HS cũng có thể
đồng cảm lên án những hành động tàn phá rừng, buôn bán, săn bắt những

Mức tổng hợp: Em hãy cho biết những giải pháp có thể thực hiện để bảo vệ sự
đa dạng của thế giới sinh vật.
Mức đánh giá: Có ý kiến cho rằng không nên sử dụng các sản phẩm làm từ da
động vật, em đồng ý hay không đồng ý và vì sao?
- Phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề: Là phương pháp dạy
học dựa trên việc đặt hoặc phát hiện tình huống có vấn đề (mâu thuẫn), lập kế
hoạch, giải quyết vấn đề và đặt ra vấn đề mới. Qua đó, HS không những tự lực
lĩnh hội kiến thức mới mà còn học được cách thức nhận ra vấn đề, cách tìm
giải pháp giải quyết vấn đề. Phương pháp này rất phù hợp trong dạy học giáo
dục môi trường, vì kĩ năng nhận biết và giải quyết vấn đề môi trường là những
kĩ năng cơ bản, quan trọng để hoạt động trong môi trường.
Tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể mà có thể tiến hành phương pháp này ở
các mức độ khác nhau:
(1) GV đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề, HS thực hiện giải quyết vấn đề
theo hướng dẫn của GV. GV đánh giá kết quả làm việc của HS.
(2) GV nêu vấn đề, gợi ý để HS tìm ra cách giải quyết vấn đề và thực hiện
cách đó với sự trợ giúp của GV. Cả GV và HS cùng đánh giá.
20
(3) GV cung cấp thông tin để tạo tình huống có vấn đề. HS dựa vào thông tin
đó để phát hiện ra vấn đề, tự lực đề xuất giả thuyết và cách giải quyết vấn đề,
thực hiện giải quyết vấn đề và đánh giá cùng với GV.
(4) HS tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh.
- Phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ: Là phương pháp dạy
học trong đó, lớp học được chia thành các nhóm nhỏ, mỗi nhóm từ 4 - 6 HS,
mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ học tập và mỗi thành viên trong nhóm phải
tham gia vào việc hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Tuỳ theo mục đích, yêu cầu của vấn đề học tập và cách tổ chức của GV
mà mỗi nhóm được phân chia ngẫu nhiên hay theo tiêu chí nào đó, cùng thực
hiện một nhiệm vụ như nhau hoặc các nhiệm vụ khác nhau.
Trong mỗi nhóm HS phải có tổ chức như bầu nhóm trưởng, giao nhiệm vụ

+ Lãnh đạo địa phương (Bố trí công ăn việc làm cho lâm tặc và người dân,
giao đất cho họ để trồng rừng và sinh sống).
Cả lớp theo dõi tình huống và các biện pháp cũng như lí lẽ của mỗi nhân
vật. Sau đó nhận xét cách giải quyết của mỗi nhân vật. Cuối cùng thì mỗi em
rút ra được tầm quan trọng của rừng không chỉ đối với tự nhiên mà đối với đời
sống hằng ngày của con người.
- Phương pháp giao cho HS các bài tập làm ở nhà : HS được giao những
nhiệm vụ học tập cụ thể có liên quan đến bài trên lớp. Các bài tập này có thể là
bài tập về lí thuyết, cũng có thể là bài thực hành. Bằng cách này giúp cho HS
tìm hiểu sâu hơn các vấn đề môi trường, kĩ năng vận dụng kiến thức đã học
vào thực tiễn. Phương pháp này thường được sử dụng trong tích hợp kiểu liên
hệ, khi trên lớp không có nhiều thời gian để tìm hiểu về vấn đề liện hệ nào đó.
Ví dụ: Sau khi học bài 4. Các nguyên tố hoá học và nước, Sinh học 10, GV
giao cho HS bài tập làm ở nhà như sau : Tìm hiểu về hiện tượng mưa axit (thế
nào là mưa axit, nguyên nhân, tác hại và giải pháp hạn chế mưa axit). HS tìm
kiếm thông tin từ nhiều nguồn khác nhau để hoàn thành bài tập này. Thông qua
bài tập này, HS mở rộng được kiến thức về nước, tìm hiểu một hiện tượng
trong thực tiễn có liên quan đến nước – mưa axit, gây ô nhiễm nguồn nước,
gây hại cho các sinh vật và ảnh hưởng đến đời sống con người; tìm hiểu về
nguyên nhân gây ra mưa axit, từ đó thấy được ngoài hoạt động sản xuất, con
22
người cần phải có ý thức trách nhiệm đối với môi trường để đảm bảo cuộc
sống lành mạnh.
- Phương pháp dạy học theo dự án : Là phương pháp dạy học trong đó
nội dung kiến thức của bài học được thiết kế thành một dự án học tập có liên
quan đến một vấn đề nào đó có trong thực tiễn. Để hoàn thành dự án, HS sẽ
đóng vai các nhân vật có thực như, giám đốc doanh nghiệp, nhà đầu tư, cán bộ
môi trường, giải quyết vấn đề nêu ra trong dự án bằng cách thực hiện và hoàn
thành các nhiệm vụ của dự án đề ra và trình bày kết quả trước lớp. Thông qua
việc thực hiện các nhiệm vụ của dự án, HS sẽ tự lực lĩnh hội được kiến thức,

Trong thực tế giảng dạy, để hạn chế thời gian trong việc tích hợp giáo
dục ứng phó với BĐKH, tôi đưa ra tình huống cần phải giải quyết vào phần
dặn dò của tiết trước, HS sẽ phải tự chuẩn bị kịch bản với phương án giải
quyết tình huống theo ý các em và thời gian tối đa cho một kịch bản là 5 phút.
Với phương pháp này giúp các em gần nhau hơn trong học tập, tạo hứng thú
trong việc học bộ môn.
III.4.2. Một số kĩ thuật dạy học
Trong quá trình dạy học, GV có thể sử dụng các kĩ thuật dạy học khác
nhau để kích thích tính tích cực học tập của HS. Kĩ thuật dạy học là cách thức
hoạt động của HS và GV trong các tình huống nhỏ nhằm thực hiện và điều
khiển quá trình dạy học, là thành phần của phương pháp dạy học. Một kĩ thuật
dạy học có thể được sử dụng trong nhiều phương pháp dạy học khác nhau.
Dưới đây là một số các kĩ thuật dạy học có thể sử dụng trong DHTH giáo dục
môi trường qua dạy Sinh học:
- Kĩ thuật động não/công não (brainstorming) : Là kĩ thuật giúp cho
người học trong một thời gian khống chế (ngắn), phải suy nghĩ thật nhanh và
bật ra các ý tưởng, ý kiến về một vấn đề nêu ra, càng nhiều ý càng tốt. Kĩ thuật
này có tác dụng kích thích và thúc đẩy cá nhân HS “động não”, vì vậy có thể
sử dụng ngay khi bắt đầu buổi học, hoặc trong quá trình học – sau một thời
gian dài học một nội dung nào đó, và cần phải thay đổi không khí. Công não có
thể được thực hiện dưới dạng nói hoặc viết.
Ví dụ: Khi dạy mục I.5 Giới Động vật, bài 2, Sinh học 10, GV có thể liên hệ
với bảo vệ đa dạng động vật và sử dụng kĩ thuật công não để HS vận dụng kiến
thức thực tiễn và suy luận trả lời câu hỏi như sau : yêu cầu mỗi HS kể ra những
hành động làm suy giảm đa dạng sinh học; hoặc mỗi HS phải kể ra ít nhất 3
hành động bảo vệ đa dạng các loài động vật quí hiếm. Sau đó GV liệt kê các
24
hành động mà HS đưa ra lên bảng, loại trừ những hành động chưa đúng, làm rõ
những hành động gần đúng, phân loại các hành động và tổng kết lại.
- Kĩ thuật XYZ: Là kĩ thuật trong đó lớp được chia làm X nhóm, mỗi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status