1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
______________
NGUYỄN THỊ HOA
TÍCH HỢP GIÁO DỤC ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI
KHÍ HẬU TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN ĐỊA LÍ
CHO HỌC SINH LỚP 4
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2015
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
______________
NGUYỄN THỊ HOA
TÍCH HỢP GIÁO DỤC ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI
KHÍ HẬU TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN ĐỊA LÍ
CHO HỌC SINH LỚP 4
CHUYÊN NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC (BẬC TIỂU HỌC)
Mã số: 60.14.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Để xác định được nội dung mà GV lựa chọn để tích hợp cho HS trong
quá trình giảng dạy phân môn Địa lí lớp 4 thì trước tiên, chúng tôi cũng
đã tiến hành phỏng vấn trực tiếp GV với nội dung trong các phiểu hỏi
(được trình bày ở phần Phụ lục). Số liệu điều tra được tính theo quy
ước. ...............................................................................................................54
Cụ thể: ..........................................................................................................54
- Nếu GV chọn tích hợp cao trong giờ dạy: 3 điểm; tích hợp bình
thường: 2 điểm; tích hợp thấp là 1 điểm và không tích hợp là 0 điểm.
........................................................................................................................54
5
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
TN
6
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Mức độ khai thác nội dung dạy học phân môn Địa lý lớp 4 của GV.
Bảng 2.2: Các PPDH được sử dụng trong phân môn Địa lý lớp 4
Bảng 2.3: Mức độ sử dụng các hình thức tổ chức DH phân môn Địa lý lớp
4 của GV
Bảng 2.4: Thực trạng sử dụng đồ dùng dạy học phân môn Địa lý lớp 4
Bảng 2.5: Kết quả khảo sát chất lượng học phân môn Địa lý lớp 4
Bảng 2.6: Nhận thức về sự cần thiết phải tích hợp GD ứng phó với BĐKH
trong DH ở Tiểu học
Bảng 2.7: Ý kiến của CBQL, GV về môn học chiếm ưu thế nhất khi tích hợp
GD ứng phó với BĐKH
Bảng 2.8: Nhận thức về mục đích tích hợp GD ứng phó với BĐKH trong dạy
học phân môn Địa lý lớp 4.
2.9: Ý kiến đánh giá của CBQL, GV về các nội dung cần tích hợp GD ứng
phó với BĐKH trong dạy học phân môn Địa lý lớp 4.
2.10: Nhận thức của CBQL và GV về hình thức tích hợp GD ứng phó với
BĐKH trong dạy học phân môn Địa lý lớp 4.
2.11: Nhận thức của CBQL và GV về phương thức tích hợp GD ứng phó với
BĐKH trong dạy học phân môn Địa lý lớp 4.
2.12. Ý kiến của GV về một số nội dung ứng phó với BĐKH có thể tích hợp
vào DH phân môn Địa lý lớp 4
2.13: Kế hoach bài dạy phân môn Địa lý lớp 4 của GV
2.14: Chất lượng học phân môn Địa lý lớp 4 của HS có tích hợp GD ứng phó
với BĐKH
Bảng 3.1: Kết quả khảo sát tính cần thiết của các nhóm biện pháp tích hợp
có thể làm trầm trọng thêm những nguy cơ sẵn có đối với tài nguyên thiên
nhiên, nông nghiệp, an ninh lương thực, cơ sở hạ tầng và sức khỏe và đặt ra
những đe dọa lớn cho phát triển sản xuất và con người, cũng như môi trường.
nếu không có những biện pháp phù hợp và hiệu quả để giảm thiểu tác hại của
biến đỏi khí hậu, hậu quả sẽ rất nghiêm trọng.
8
Nhận thức rõ những ảnh hưởng to lớn và nghiêm trọng do BĐKH gây ra,
Thủ tướng chính Phủ việt Nam đã phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia
ứng phó với BĐKH (Quyết định số 158/2008/QĐ – TTg ngày 2/12/2008). Để
thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH, Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo đã phê duyệt kế hoach hành động ứng phó với BĐKH
của ngành Giáo dục giai đoạn 2011 - 2015 và phê duyệt dự án “Đưa các nội
dung ứng phó với BĐKH vào chương trình GD và ĐT giai đoạn 2011 2015”.
Trong các nội dung GD và bảo vệ môi trường và sử dụng tiết kiệm, hiệu
quả năng lượng cũng đã chứa đựng nội dung GD ứng phó với BĐKH. Tuy
nhiên những hoạt động trên chưa nhấn mạnh được tính cấp bách của vấn đề
BĐKH trong bối cảnh hiện nay. Vì vậy cần tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa triển
khai đưa các nội dung GD ứng phó với BĐKH và các cấp học. Có thể nói, thế
hệ trẻ hôm nay là những người phải đương đầu trực tiếp với những tác động
ghê gớm của BĐKH. Vì vậy việc GD cho HS nhận thức về những nguy cơ,
thách thức của BĐKH cũng như rèn các kỹ năng phòng ngừa, giảm nhẹ và
thich ứng với những BĐKh là những việc làm cấp thiết. Học sinh tiểu học là
đối tượng dễ bị ảnh hưởng của BĐKH và cũng là những chủ nhân tương lai
của đất nước, vì vậy nếu đưa các nội dung GD ứng phó với BĐKH vào cấp
học Tiểu học sẽ là một quyết định đúng đắn đảm bảo số lượng lớn những chủ
nhân đất nước trong tương lai có được sự chuẩn bị đầy đủ để thích nghi và
làm chủ đất nước trong hoàn cảnh có các BĐKH toàn cầu xảy ra.
Chính vì thế chúng tôi đã lựa chọn vấn đề “Tích hợp giáo dục ứng phó
sinh lớp 4.
6. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Tổ chức nghiên cứu cơ sở thực tiễn của đề tài ở các trường tiểu học Lê
Mao, tiểu học Bến Thủy, tiểu học Trường Thi, tiểu học Hà Huy Tập 2 trên địa
bàn thành phố Vinh trong thời gian từ tháng 10 năm 2014 đến tháng 5 năm
2015
7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
10
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Sử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp; phân loại - hệ thống hóa và
cụ thể hóa các vấn đề lý luận có liên quan để xây dựng cơ sở lý luận cho đề
tài.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nhằm xây dựng cơ sở thực tiễn cho đề tài và tổ chức thăm dò tính cần
thiết và khả thi của quy trình được đề xuất. Bao gồm: Phương pháp quan sát;
Điều tra; Phỏng vấn chuyên gia; Tổng kết kinh nghiệm giáo dục.
7.3. Nhóm phương pháp thống kê toán học: để xử lí kết quả điều tra
thực trạng và kết quả thực nghiệm sư phạm.
8. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
Đề tài đã xây dựng được những cơ sở lý luận và thực tiễn của việc GD
ứng phó với BĐKH vào dạy học phân môn Đia lý lớp 4 Tiểu học.
Đề tài đã xác định được các nội dung có thể tích hợp GD ứng phó với
BĐKH trong dạy học phân môn Địa lý lớp 4. Từ đó đưa ra một số nhóm biện
pháp để tích hợp tốt kiến thức về BĐKH vào dạy học phân môn Địa lý lớp 4
cho học sinh.
Đề tài hoàn thành sẽ là nguồn tư liệu tham khảo, cung cấp những kiến
thức về BĐKH, tích hợp GD ứng phó với BĐKH cho giáo viên dạy phân môn
Địa lý tại các trường Tiểu học.
khí quyển thì sẽ làm nhiệt độ trái đất tăng lên. Chính lượng khí CO2 chứa
nhiều trong khí quyển sẽ tác dụng như một lớp kính giữ nhiệt lượng tỏa
ngược vào vũ trụ của trái đất. Cùng với khí CO2 còn có một số khí khác cũng
được gọi chung là khí nhà kính như NOx, CH4, CFC. Với những gia tăng
mạnh mẽ của nền sản xuất công nghiệp và việc sử dụng các nhiên liệu hoá
thạch (dầu mỏ, than đá..), nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy nhiệt độ
toàn cầu sẽ gia tăng từ 1,4 độ C đến 5,8 độ C từ 1990 đến 2100 và vì vậy sẽ
kéo theo những nguy cơ ngày càng sâu sắc đối với chất lượng sống của con
người.
12
Sự biến đổi khí hậu (BĐKH) toàn cầu đang diễn ra ngày càng nghiêm
trọng. Biểu hiện rõ nhất là sự nóng lên của trái đất, là băng tan, nước biển
dâng cao; là các hiện tượng thời tiết bất thường, bão lũ, sóng thần, động đất,
hạn hán và giá rét kéo dài… dẫn đến thiếu lương thực, thực phẩm và xuất
hiện hàng loạt dịch bệnh trên người, gia súc, gia cầm...
Có thể thấy tác hại theo hướng nóng lên toàn cầu thể hiện ở 10 điều tồi
tệ sau đây: gia tăng mực nước biển, băng hà lùi về hai cực, những đợt nóng,
bão tố và lũ lụt, khô hạn, tai biến, suy thoái kinh tế, xung đột và chiến tranh,
mất đi sự đa dạng sinh học và phá huỷ hệ sinh thái. Những minh chứng cho
các vấn đề này được biểu hiện qua hàng loạt tác động cực đoan của khí hậu
trong thời gian gần đây như đã có khoảng 250 triệu người bị ảnh hưởng bởi
những trận lũ lụt ở Nam Á, châu Phi và Mexico. Các nước Nam Âu đang đối
mặt nguy cơ bị hạn hán nghiêm trọng dễ dẫn tới những trận cháy rừng, sa mạc
hóa, còn các nước Tây Âu thì đang bị đe dọa xảy ra những trận lũ lụt lớn, do
mực nước biển dâng cao cũng như những đợt băng giá mùa đông khốc liệt.
Những trận bão lớn vừa xẩy ra tại Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ...có
nguyên nhân từ hiện tượng trái đất ấm lên trong nhiều thập kỷ qua. Những dữ
liệu thu được qua vệ tinh từng năm cho thấy số lượng các trận bão không thay
hiệu tăng lên nhiều vào mùa mưa, giảm vào mùa ít mưa, hiện tượng mưa lớn
gia tăng, hạn hán xuất hiện thường xuyên hơn, hoạt động của bão và áp thấp
nhiệt đới phức tạp hơn, hiện tượng ELNino xuất hiện thường xuyên hơn và
biến động mạnh mẽ hơn. Trong thập kỷ gần đây, hiện tượng ENSO ngày càng
có tác động mạnh mẽ đến chế độ thời tiết và đặc trưng khí hậu trên nhiều khu
vực của Việt Nam.
Theo kết quả đánh giá cho toàn cầu của Uỷ ban Liên chính phủ về
BĐKH (IPCC, 2007) và những nghiên cứu sơ bộ ban đầu của các nhà khoa
học Việt Nam, tác động tiềm tàng của BĐKH đối với nước ta là nghiêm trọng
và cần được nghiên cứu sâu thêm. Sự gia tăng của các hiện tượng khí hậu cực
đoan và thiên tai, cả về tần số và cường độ do BĐKH là mối đe doạ thường
xuyên, trước mắt và lâu dài đối với tất cả các lĩnh vực, các vùng và các cộng
14
đồng. Bão, lũ lụt, hạn hán, mưa lớn, nắng nóng, tố lốc là thiên tai xảy ra hàng
năm ở nhiều vùng trong cả nước, gây thiệt hại cho sản xuất và đời sống.
BĐKH sẽ làm cho các thiên tai trở nên ác liệt hơn và có thể trở thành
thảm hoạ, gây rủi ro lớn cho phát triển kinh tế, xã hội hoặc xoá đi những
thành quả nhiều năm của sự phát triển, trong đó có những thành quả thực hiện
các mục tiêu thiên niên kỷ. Những khu vực được dự tính chịu tác động lớn
nhất của các hiện tượng khí hậu cực đoan nói trên là dải ven biển Trung Bộ,
vùng núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ, vùng đồng bằng sông Hồng và đồng
bằng sông Cửu Long. Cũng theo những nghiên cứu và cập nhật về Kịch bản
Biến đổi khí hậu và Nước biển dâng cho Việt Nam (BTNMT, 2011), những
diễn biến cụ thể về tình hình BĐKH của Việt Nam được phỏng đoán như sau:
a) Về nhiệt độ:
- Theo kịch bản phát thải thấp: Đến cuối thế kỉ XXI nhiệt độ trung bình
tăng từ 1,6 đến 2,2 độ C trên phần lớn diện tích phía Bắc lãnh thổ và dưới 1,6
độ C ở đại bộ phận diện tích phía Nam.
tính cấp bách của vấn đề BĐKH trong bối cảnh hiện nay, rất cần tiếp tục đẩy
mạnh hơn nữa việc đưa các nội dung giáo dục ứng phó với BĐKH vào các
cấp bậc học. Nhằm định hướng cho việc triển khai thực hiện nhiệm vụ trên
một cách có hiệu quả, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng bộ tài liệu Giáo
dục ứng phó với biến đổi khí hậu tích hợp vào các môn học. Tuy nhiên việc
thực hiện tích hợp các nội dung GD ứng phó với BĐKH vào các môn học đạt
hiệu quả chưa cao. Vẫn chưa đưa ra được các nhóm biện pháp cụ thể nhằm
nâng cao chất lượng GD ứng phó với BĐKH thông qua các môn học. Vì vậy
nhằm nâng cao chất lượng GD ứng phó BĐKH em đã mạnh dạn nghiên cứu
và tìm hiểu kĩ hơn về vấn đề này.
1.2. Các khái niệm công cụ
1.2.1. Khí hậu
Khí hậu là kết quả của sự tương tác giữa các quá trình vật lý, hóa học và
sinh học dưới tác động của năng lượng Mặt Trời. Sự tương tác này làm một
quá trình phức tạp, vì vậy chế độ khí hậu không cố định mà luôn có tính biến
động. Khí hậu bao gồm các yếu tố: nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, áp suất khí
16
quyển, gió, các hiện tượng xảy ra trong khí quyển và nhiều yếu tố khí tượng
khác trong khoảng thời gian dài ở một vùng, miền xác định. Điều này trái
ngược với khái niệm thời tiết về mặt thời gian, do thời tiết chỉ đề cập đến các
diễn biến hiện tại hoặc tương lai gần.
Khí hậu trong nghĩa hẹp thường hiểu là "Thời tiết trung bình", hoặc
chính xác hơn, là bảng thống kê mô tả định kì về ý nghĩa các sự thay đổi về số
lượng có liên quan trong khoảng thời gian khác nhau, từ hàng tháng cho đến
hàng nghìn, hàng triệu năm. Khoảng thời gian truyền thống là 30 năm, theo
như định nghĩa của Tổ chức Khí tượng Thế giới (World Meteorological
Organization - WMO). Các số liệu thường xuyên được đưa ra là các biến đổi
về nhiệt độ, lượng mưa và gió.
niên kỷ vừa qua (IPCC, 2001). Tương ứng với sự tăng của nhiệt độ toàn cầu,
mực nước trung bình của đại dương tăng lên 10 – 25 cm (trung bình 1 - 2
mm/năm trong thế kỷ XX) do băng tan và giãn nở nhiệt độ đại dương. Từ
cuối năm 1960, phạm vi lớp phủ tuyết giảm khoảng 10%. Độ dày của lớp
băng biến ở Bắc cực trong thời kỳ cuối mùa hạ đến đầu mùa thu giảm xuống
khoảng 40% trong vài thập kỷ gần đậy và khoảng 20 năm gần đây, người ta
đã phát hiện thấy mối quan hệ giữa các dị thường khí hậu với hiện tượng
ENSO.
1.2.3. Ứng phó với biến đổi khí hậu
Theo báo cáo tổng hợp “Biến đổi khí hậu 2001”của IPCC thì giảm nhẹ
BĐKH và thích ứng với BĐKH đều là những hợp phần của Chính sách ứng
phó với BĐKH.[0]
Ứng phó với BĐKH là các hoạt động của con người nhằm thích ứng và
giảm nhẹ BĐKH (Ứng phó với BĐKH = thích ứng + giảm nhẹ)
Giảm nhẹ là các hoạt động nhằm giảm mức độ hoặc tăng cường phát thải
khí nhà kính.
Thích ứng là sự điều chỉnh các hệ thống tự nhiên và con người để phù
hợp với môi trường mới hoặc môi trường bị thay đổi. Sự thích ứng với BĐKH
là sự điều chỉnh các hệ thống tự nhiên và con người để ứng phó với các tác
18
động hiện tại hoặc tương lai của khí hậu, do đó làm giảm tác hại hoặc tận
dụng những mặt có lợi.
1.2.4. Giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu
Giáo dục ứng phó với BĐKH là giáo dục tổng thể, tích hợp kiến thức về
biến đổi khí hậu vào nội dung các môn học trong nhà trường.
Giáo dục ứng phó với BĐKH là một trong những nội dung của Giáo dục
vì sự phát triển bền vững, giúp người học hiểu và biết được những tác động
của hiện tượng nóng lên toàn cầu, đồng thời khuyến khích thay đổi hành vi để
bằng từ “khí hậu”. Theo cách này, “tích hợp các vấn đề BĐKH” được định
nghĩa là:
- Đưa các mục tiêu thích ứng và giảm nhẹ BĐKH vào tất cả các bước
của quá trình hoạch định chính sách của ngành.
- Cố gắng tổng hợp các tác động đến các hoạt động thích ứng và giảm
nhẹ BĐKH trong khi tiến hành đánh giá tổng quan chính sách và giảm thiểu
mâu thuẫn giữa các chính sách BĐKH và các chính sách khác.
Như vậy, tích hợp giáo dục ứng phó với BĐKH là một phương pháp tiếp
cận nhằm đạt được các biện pháp ứng phó với BĐKH thông qua sự lồng ghép
các biện pháp này trong các nội dung giáo dục nhằm đảm bảo ổn định trong
các hoạt động đầu tư và giảm tính dễ bị tổn thương của các lĩnh vực kinh tế xã hội do tác động của BĐKH.
1.3. Một số vấn đề tích hợp GD ứng phó với BĐKH trong dạy học
phân môn Địa lí lớp 4
1.3.1. Nội dung, chương trình dạy học phân môn Địa lí lớp 4
Chương trình, sách giáo khoa phân môn Đại lý lớp 4 nhằm cung cấp cho
học sinh một số kiến thức cơ bản, thiết thực về các sự vật, hiện tượng và các
mối quan hệ địa lí đơn giản ở các vùng chính trên đất nước Việt Nam. Bước
đầu rèn luyện và hình thành một số kĩ năng: quan sát sự vật, hiện tượng, thu
thập, tìm kiếm tư liệu địa lí từ các nguồn khác nhau: biết nêu thắc mắc, đặt
câu hỏi trong quá trình học tập và chọn thông tin để giải đáp; nhận biết đúng
các sự vật, sự kiện, hiện tượng địa lí; biết trình bày lại kết quả học tập bằng
20
lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ; biết vận dụng các kiến thức đã học vào thực
tiễn cuộc sống.
1.3.1.1. Chương trình phân môn Địa lý 4
Để phù hợp đặc điểm tư duy của học sinh lớp 4, chương trình sách giáo
khoa phân môn Địa lí lớp 4 tích hợp các kiến thức về các lĩnh vực vật lý, hoá
học, sinh học, dân số, môi trường. Chương trình, sách giáo khoa phân môn
- Thành phố Huế, Đà Nẵng.
e) Biển Đông, các đảo, quần đảo
- Sơ lược về thiên nhiên, giá trị kinh tế của biển, đảo.
- Khai thác dầu khí và đánh bắt, chế biến hải sản.
1.3.1.2. Nội dung dạy học phân môn Địa lý 4
Ngoài phần chung, nội dung dạy học phân môn Địa lý lớp 4 gồm 3 chủ
đề với 34 bài ứng với 34 tiết học. Trong đó có 28 bài kiến thức mới, 6 bài ôn
tập và kiểm tra (được trình bày cụ thể ở phần phụ lục):
- Thiên nhiên và hoạt động của con người ở miên núi và trung du: 10 bài
(kể cả 1 bài ôn tập).
- Thiên nhiên và hoạt động sản xuất của con người ở miền đồng bằng
bao gồm cả dải đồng bằng duyên hải miền Trung: 20 bài (kể cả 2 bài ôn tập
và 1 bài kiểm tra học kì 1).
- Vùng biển Việt nam: 2 bài
- Ôn tập và kiểm tra cuối năm: 2 bài
Với nội dung, chương trình dạy học phân môn Địa lý lớp 4 như đã trình
bày ở trên có thể thấy rằng chương trình phân môn Địa lý lớp 4 rất thuận lợi
cho việc tích hợp nội dung GD ứng phó với BĐKH cho HS vào môn học này.
Bởi thiên nhiên và con người gắn liền với những nguyên nhân làm tăng hoặc
hạn chế sự BĐKH.
1.3.2. Mục đích của GD ứng phó với biến đổi khí hậu trong dạy học
phân môn Địa lí ở Tiểu học
1.3.2.1. Mục tiêu chung về giáo dục ứng phó với BĐKH trong môn Địa lí
Qua dạy học phân môn Địa lí học sinh có được những kiến thức cơ bản
về khí hậu, thời tiết, khí nhà kính, BĐKH hiện tại và quá khứ, nguyên nhân và
22
hậu quả. Mối quan hệ giữa con người, thiên nhiên, BĐKH và ứng phó BĐKH,
để mỗi HS trở thành tuyên truyền viên tích cực trong gia đình, nhà trường và
dung tích hợp phải dựa trên cơ sở kiến thức sẵn có trong bài học, và không
làm thay đổi tính đặc trưng của môn học.
b) Tính thực tiễn: nội dung giáo dục BĐKH cần phải nhấn mạnh đến các
vấn đề về tác động của BĐKH đến thực tiễn ở địa phương. Tác động không
giống nhau ở các vùng khác nhau, do đó cần phải lưu ý đến đặc trưng riêng
của vùng miền. Bên cạnh đó giáo dục BĐKH không chỉ cung cấp kiến thức
mà cần phải tạo ra cơ hội cho học sinh vận dụng các kiến thức đã học nhằm
phát triển các kĩ năng thực tế trong việc giảm thiểu các tác động do BĐKH
gây ra tại địa phương.
1.3.3.2. Các phương thức tích hợp
Các phương thức tích hợp thường dùng hiện nay là:
- Tích hợp toàn phần: được thực hiện khi hầu hết các kiến thức của môn
học, hoặc nội dung của một bài học cụ thể, cũng chính là các kiến thức về
giáo dục ứng phó với BĐKH.
- Tích hợp bộ phận: được thực hiện khi có một phần kiến thức của môn
học hoặc bài học có nội dung về giáo dục ứng phó với BĐKH.
- Tích hợp liên hệ: là một hình thức tích hợp đơn giản nhất khi chỉ có
một số nội dung của môn học có liên quan tới nội dung về giáo dục ứng phó
với BĐKH, song không nêu rõ trong nội dung của bài học. Trong trường hợp
này GV phải khai thác kiến thức môn học và liên hệ chúng với các nội dung
về giáo dục ứng phó với BĐKH. Đây là trường hợp thường xảy ra.
1.3.3.3. Tích hợp nội dung giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu.
Trong chương trình phân môn Địa lí lớp 4, có thể tích hợp các nội dung
giáo dục ứng phó với BĐKH thông qua các bài học cụ thể như sau:
Hình
Tuần
Địa chỉ tích hợp
Nội dung cần tích hợp
với cây chè và các loại cây ăn quả khác.
Liên hệ
Chúng ta hãy thay thế hóa chất bằng các
biện pháp sinh học hoặc các chất có
nguồn gốc từ thực vật.
- Ý nghĩa của việc phủ xanh đất trống,
đồi trọc.
- Tây nguyên có hai mùa rõ rệt: mùa
mưa và mùa khô.
- Giá trị của rừng Tây nguyên, biết
nguyên nhân và hậu quả của việc phá
6
Tây Nguyên
rừng ở Tây nguyên.
Liên hệ
- Mối quan hệ giữa khí hậu và thực vật.
- Con người cần làm gì để bảo vệ rừng.
- Ý nghĩa tầm quan trọng của tài nguyên
8
Hoạt động sản
nước.
- Có ý thức tiết kiệm, bảo vệ tài nguyền
nước.
- Luôn thực hiện một lối sống thân thiện
với môi trường và là tấm gương để lôi
cuốn những người xung quanh cùng
thay đổi.
- Thay đổi khẩu phần ăn hàng ngày, ăn
nhiều rau xanh, hoa quả vừa tốt cho sức
khỏe, vừa góp phần giảm phát thải khí
nhà kính.
Liên hệ