GIÁO DỤC ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CẤP TRUNG HỌC CƠ SỞ - Pdf 25

GIÁO DỤC ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
CẤP TRUNG HỌC CƠ SỞ
(Tài liệu tham khảo cho Giáo viên và Học sinh)
1
2
MỤC LỤC
Trang
Phần I. BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
I. Khái niệm về biến đổi khí hậu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
II. Biểu hiện của biến đổi khí hậu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
1. Biểu hiện của BĐKH toàn cầu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
2. Biểu hiện của BĐKH ở Việt Nam . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
III. Đặc điểm của BĐKH . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
IV. Nguyên nhân của BĐKH toàn cầu. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
1. Nguyên nhân do những quá trình tự nhiên . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
2. Nguyên nhân do những ảnh hưởng hoạt động của con người. . . . . . . . . .
V. Kịch bản của BĐKH . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
1. Kịch bản của BĐKH trên thế giới. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
2. Kịch bản của BĐKH ở Việt Nam. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Phần II. TÁC ĐỘNG CỦA BIỂN ĐỔI KHÍ HẬU . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
I. Tác động của BĐKH trên phạm vi toàn cầu. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
1. Một số biến đổi của các hệ tự nhiên và hệ sinh thái. . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
2. Tác động của BĐKH đối với các lĩnh vực kinh tế - xã hội . . . . . . . . . . . .
3. Tác động của BĐKH đối với các châu lục và khu vực đặc biệt . . . . . . .
II. Tác động của BĐKH ở Việt Nam. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
1. Tác động của BĐKH đối với các vùng trung du và miền núi . . . . . . . . . .
2. Tác động của BĐKH đối với các vùng đồng bằng và ven biển . . . . . . . .
Phần III. ỨNG PHÓ VỚI BIỂN ĐỔI KHÍ HẬU . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
I. Chiến lược ứng phó với BĐKH trên thế giới . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
1. Chiến lược giảm nhẹ BĐKH trên thế giới. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . .9

Phần IV. HỌC SINH CÓ THỂ LÀM GÌ
ĐỂ GÓP PHẦN ỨNG PHÓ VỚI BĐKH . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
I. Những hoạt động học sinh có thể làm để góp phần giảm nhẹ BĐKH.
1. Sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
2. Các giải pháp nâng cao hiệu suất sử dụng năng lượng
trong một số lĩnh vực . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
3. Thực hành sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả. . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
4. Tiết kiệm sử dụng và bảo vệ nguồn nước . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
5. Bảo vệ rừng, trồng cây tạo môi trường trong lành . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
6. Giảm thiểu và xử lí rác thải, chất thải . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
II. Những hànht động học sinh có thể làm để thích ứng BĐKH . . . . . . . .
1. Học sinh phải biết tự bảo vệ mình . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
2. Học sinh tham gia bảo vệ cơ sở vật chất trường học . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
3. Học sinh tham gia vào các phong trào hoạt động thích ứng với
BĐKH của cộng đồng địa phương . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
PHỤ LỤC . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . 67
. . . 76
. . . 76
. . . 82
. . . 82
. . . 82
. . . 87
. . . 87
. . . 87
. . 110
. . 113
. . 120
. . 125
. . 129

Nguyên nhân của biến đổi khí hậu; Kịch bản của biến đổi khí hậu.
Phần II. Tác động của biến đổi khí hậu, gồm các nội dung: Tác động của
biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu; Tác động của biến đổi khí hậu
ở Việt Nam.
5
Phần III. Ứng phó với biến đổi khí hậu, gồm các nội dung: Chiến lược ứng phó
với biến đổi khí hậu trên thế giới; Định hướng chiến lược ứng phó với
biến đổi khí hậu ở Việt Nam.
Phần IV. Học sinh có thể làm gì để góp phần ứng phó với biến đổi khí hậu gồm
các nội dung: Những hành động học sinh có thể làm để góp phần
giảm nhẹ biến đổi khí hậu; Những hành động học sinh có thể làm để
thích ứng với biến đổi khí hậu.
Nội dung giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu lần đầu được biên soạn thành
tài liệu tham khảo cho giáo viên và học sinh nhằm bổ sung thêm những hiểu biết
về biến đổi khí hậu mà học sinh đã được học trong chương trình giáo dục phổ
thông. Trong quá trình biên soạn, mặc dù đã có cố gắng, song không thể tránh
khỏi sai sót, tập thể tác giả rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy, cô giáo
và bạn đọc để tài liệu được hoàn thiện hơn.
Trân trọng !
VỤ GIÁO DỤC TRUNG HỌC
6
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BĐKH Biến đổi khí hậu
CMD Cơ chế phát triển sạch
CER Lượng giảm phát thải được chứng nhận
CFC Chloro fluorocarbon
CH
2
Mêtan
CO Ôxit cacbon

O
3
Ôzôn
ODA Viện trợ phát triển chính thức
OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
PECs Perfluorocarbon
ppb Phần tỷ
ppm Phần triệu
PTBV Phát triển bền vững
RNM Rừng ngập mặn
SRES Kịch bản phát thải KNK tương lai
SST Nhiệt độ bề mặt nước biển
UNEF Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc
UNFCCC Công ước Khung của Liên Hợp quốc về biến đổi khí hậu
USAID Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ
WHO Tổ chức Y tế Thế giới
WMO Tổ chức Khí tượng Thế giới
XTNĐ Xoáy thuận nhiệt đới
8
Phần I
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
I. KHÁI NIỆM VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU (BĐKH)
Khí hậu là trạng thái trung bình của thời tiết diễn ra trong một khu vực rộng
lớn, trong một thời gian lâu dài và ít có những biến động lớn. Đặc điểm khí hậu
của mỗi nơi đều bị chi phối bởi 3 nhân tố hình thành: bức xạ mặt trời, hoàn lưu
khí quyển và đặc điểm của bề mặt đệm. Các nhân tố này nói chung ít thay đổi và
thường tuân theo các quy luật nhất định, vì thế khí hậu thường tương đối ổn định,
ít thay đổi.
Đặc điểm khí hậu được biểu thị bằng các trị số trung bình nhiều năm của các
yếu tố như nhiệt độ trung bình (tháng và năm), thời kỳ mùa nóng, mùa lạnh trong

0
C; Diễn biến của nhiệt độ trung bình Trái Đất
thời kỳ 1850 – 2100 được thể hiện trong hình dưới đây.
10
Gia tăng nhiệt độ Trái Đất thời kì từ năm 1850 đến năm 2100
Nhiệt độ trung bình của Trái Đất đã tăng lên rõ rệt trong thời kỳ 1920 – 1940,
sau đó giảm dần trong khoảng giữa những năm 1960 và lại tiếp tục tăng từ sau
năm 1975. Đây là thời kỳ nhiệt độ Trái Đất cao nhất trong vòng 600 năm trở lại
đây và thập kỷ 1990 là thập kỷ nóng nhất trong thiên niên kỷ vừa qua.
Bước sang thế kỷ XXI, nhiệt độ Trái Đất tiếp tục tăng. Năm 2002 (độ lệch
chuẩn so với nhiệt độ trung bình là +0,48
0
C. Năm 2003 nhiệt độ trung bình của
Trái Đất tăng 0,46
0
C so với trung bình của thời kỳ 1971 – 2000, trong đó độ lệch
chuẩn của nhiệt độ ở bán cầu Bắc là +0,59C, ở bán cầu Nam là +0,32
0
C.
Các dự báo của các nhà khoa học cho thấy đến cuối thế kỷ XXI, nhiệt độ trung
bình của Trái Đất có thể sẽ tăng lên từ 2,0 – 4,5
0
C so với cuối thế kỷ XX. Trái Đất
sẽ nóng lên khá rõ rệt.
1.2. Mực nước biển dâng cao
Các bức ảnh vệ tinh cho thấy diện tích phủ băng ở Bắc Băng Dương đã thu hẹp
khoảng 2,7% cho mỗi thập kỷ. Diện tích phủ băng trên các đảo lớn ở Bắc Cực
(Greenland) hoặc trên các đỉnh núi cao ở khắp nơi trên Trái Đất cũng giảm đi rất rõ rệt.
Các đo đạc và tính toán cho thấy cùng với sự tăng lên của nhiệt độ là sự tăng lên
của mực nước biển trên các đại dương thế giới. Tính chung, trong thế kỷ XX

lũ lụt, lũ quét, hạn hán xảy ra thường xuyên hơn, đột ngột và bất thường hơn, trái
với các quy luật thông thường, cường độ cũng lớn hơn, quy mô cũng rộng lớn hơn.
Các thiên tai này đã gây nên những thiệt hại vô cùng nặng nề cho nhân loại do khó
dự báo trước, khó phòng tránh và lường trước hết các hậu quả do chúng gây ra.
2. Biểu hiện của BĐKH ở Việt Nam
2.1. Biến đổi của các yếu tố khí hậu cơ bản
a) Biến đổi của nhiệt độ
– Xu thế biến đổi của nhiệt độ: Có thể nhận định như sau về xu thế của nhiệt
độ các mùa và năm trong khoảng 50 năm của thời kỳ nghiên cứu:
+ Mùa đông (tháng 12 đến tháng 2): Nhiệt độ tăng với mức tăng phổ biến
từ 0,1 – 0,5
0
C mỗi thập kỷ, tương đối cao ở các vùng khí hậu phía Bắc, cao nhất
ở Tây Bắc và tương đối thấp ở các vùng khí hậu phía Nam, thấp nhất ở Nam Bộ.
Ngoài ra, mức độ tăng này ở vùng núi cũng cao hơn vùng đồng bằng và do đó các
vùng núi ở phía Nam, Tây Nguyên có mức độ tăng vượt xa so với Nam Trung Bộ,
Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Đối với hầu hết các vùng khí hậu khác, mức độ
tăng của nhiệt độ mùa đông cao hơn hẳn các mùa khác.
12
+ Mùa xuân (tháng 3 đến tháng 5): Mức độ tăng của nhiệt độ phổ biến
từ 0,1 – 0,3
0
C mỗi thập kỷ, tương đối đồng đều trên hầu hết các vùng khí hậu,
trừ Tây Bắc với tốc độ thấp hơn các vùng kế cận. Mùa xuân có mức độ tăng của
nhiệt độ thấp hơn mùa đông nhưng cao hơn so với mùa hè và mùa thu.
+ Mùa hè (tháng 6 đến tháng 8): Nhiệt độ tăng với mức độ tăng phổ biến từ
0,05 – 0,25
0
C mỗi thập kỷ, thấp hơn mùa đông, mùa xuân và xấp xỉ mùa thu.
Cũng như mùa xuân, mức độ tăng của nhiệt độ mùa hè khá đồng đều trên các

0
C ở Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ;
0,6
0
C ở Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và 0,4
0
C ở Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ,
Tây Nam Bộ.
+ Nhiệt độ trung bình tháng 4: So với thời kỳ trước, nhiệt độ trung bình tháng
4 thời kỳ gần đây phổ biến cao hơn 0,1 – 0,90C, trung bình là 0,70C ở Đồng bằng
Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ; 0,50C ở Đông Bắc, Tây Bắc, Nam Trung Bộ và 0,20C ở
Tây Nguyên, Đông Nam Bộ.
+ Nhiệt độ trung bình tháng 7: Nhiệt độ trung bình tháng VII thời kỳ gần đây
phổ biến cao hơn thời kỳ trước 0,1 – 0,3
0
C, trung bình là 0,3
0
C ở Đồng bằng Bắc
Bộ; 0,2
0
C ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ; 0,1
0
C ở Tây Bắc, Bắc
Trung Bộ, Nam Trung Bộ và 0,0
0
C ở Đông Bắc.
13
+ Nhiệt độ trung bình tháng 10: So với thời kỳ trước, nhiệt độ trung bình tháng
X thời kỳ gần đây phổ biến cao hơn thời kỳ trước 0,1 – 0,8
0

lượng mưa trong mùa xuân ở nước ta phổ biến là tăng, với mức tăng từ 1 đến
3mm/năm, chủ yếu ở các vùng khí hậu phía Bắc. Tuy nhiên, do tỷ trọng lượng
mưa mùa xuân trong lượng mưa năm rất thấp nên không đóng góp nhiều vào xu
thế lượng mưa cả năm.
+ Mùa hè (tháng 6 đến tháng 8): Xu thế lượng mưa mùa hè rất khác nhau trên
các vùng khí hậu, giảm chiếm đa số trên các vùng khí hậu Bắc Bộ (Tây Bắc,
Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ), tăng chiếm đa số ở Bắc Trung Bộ, Nam Trung
Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ, với tốc độ phổ biến là 1 – 3mm/năm. Mùa hè là mùa
mưa ở Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ, xu thế
lượng mưa mùa hè tác động mạnh mẽ đến xu thế lượng mưa năm ở trên các vùng
khí hậu Bắc Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ.
+ Mùa thu (tháng 9 đến tháng 11): Xu thế lượng mưa mùa thu phổ biến là giảm
ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng ở các vùng khí hậu phía Nam, với mức phổ
biến lên đến 2 – 7mm/năm. Mùa thu là mùa mưa chính ở Tây Bắc và có nhiều
tháng mưa đáng kể ở cả Bắc Bộ và Nam Bộ. Với mức độ tương đối lớn và tỷ
trọng lượng mưa cũng lớn nên xu thế lượng mưa mùa thu ảnh hưởng nhiều nhất
đến xu thế lượng mưa năm.
14
+ Mùa đông (tháng 12 đến tháng 2): Xu thế lượng mưa mùa đông thiên về
giảm ở Tây Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và thiên về tăng ở Đông Bắc
và tăng phổ biến ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ, song với mức độ rất
nhỏ, không đến 1mm. Nói chung xu thế lượng mưa mùa đông cũng như mùa xuân
không ảnh hưởng nhiều đến xu thế lượng mưa năm.
+ Năm: Do chịu ảnh hưởng nhiều của xu thế lượng mưa mùa hè và mùa thu
nên xu thế của lượng mưa năm phổ biến là giảm trên các vùng khí hậu phía Bắc
bao gồm: Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và tăng trên các
vùng khí hậu phía Nam, rõ rệt nhất ở Nam Trung Bộ. Tốc độ xu thế phổ biến
là 2 – 10mm/năm, cá biệt lên đến 15 mm/năm như ở Trà My, Bảo Lộc, hai trung tâm
mưa lớn ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.
Mưa lớn gây nên ngập lụt ở Hội An, Quảng Nam

tháng (3 – 7; 8 – 9) của thời kỳ 1961 – 1990.
+ Đông Bắc: Trong thời kỳ gần đây, có năm cao điểm của mùa mưa muộn hơn
và có năm kết thúc mùa mưa sớm hơn trung bình của thời kỳ 1961 – 1990.
+ Đồng bằng Bắc Bộ: Trong thời kỳ gần đây, tháng bắt đầu mùa mưa tập trung
vào tháng 5, tháng cao điểm mùa mưa tập trung hơn vào tháng 7. Cá biệt có năm
mùa mưa kết thúc rất muộn hoặc bắt đầu rất sớm.
+ Bắc Trung Bộ: Trong thời kỳ gần đây, có năm mùa mưa kết thúc ngay từ
tháng X, rất sớm so với thời kỳ 1961 – 1990.
16
+ Nam Trung Bộ: Trong thời kỳ gần đây, có năm cao điểm mùa mưa xảy ra
ngay từ tháng IV, và ngược lại có năm mùa mưa kết thúc khá sớm.
+ Tây Nguyên: Hầu như không có thay đổi đáng kể về mùa mưa giữa thời kỳ
gần đây và thời kỳ 1961 – 1990.
+ Nam Bộ: Trong thời kỳ gần đây, tần suất mùa mưa bắt đầu muộn (vào tháng 5)
có phần nhiều hơn so với thời kỳ 1961 – 1990.
2.2. Biến đổi của một số hiện tượng khí hậu cực đoan
a) Biến đổi của tần số xoáy thuận nhiệt đới trên Biển Đông (XTNĐBĐ)
– Mức độ biến đổi của XTNĐBĐ: Trong thời kỳ 1960 – 2007 có 603 XTNĐ
hoạt động trên khu vực Biển Đông, trung bình mỗi năm có 12,4 cơn. Nhiều
XTNĐBĐ nhất là năm 1995 với 21 cơn, ít XTNĐ nhất là năm 1976 chỉ có 3 cơn.
XTNĐBĐ phân phối không đồng đều cho các tháng. Từ tháng 5 đến tháng 12,
trung bình mỗi tháng có trên 0,5 cơn, nhiều nhất là tháng 9 có 2,05 cơn. Từ tháng
1 đến tháng 4, mỗi tháng có không đến 0,2. Trên thực tế, thời gian từ tháng 5 đến
tháng 12 được coi là mùa bão trên Biển Đông.
Vào tháng 9, có năm (1985) có tới 6 XTNĐ và cũng không ít năm không có
cơn nào (1960, 1968, 1986). Ngược lại, vào tháng 2 chỉ hai năm 1965 có 1 cơn và
1982 có 2 cơn.
Tần số XTNĐBĐ thường biến đổi từ năm này qua năm khác, từ thập kỷ này
qua thập kỷ khác. Trong thời kỳ nghiên cứu, XTNĐBĐ nhiều nhất trong thập kỷ
1991 – 2000 và ít nhất trong thập kỷ 1961 – 1970.

– Thời gian cao điểm của mùa bão :
Trong thời kỳ nghiên cứu tháng cao điểm của mùa bão xảy ra sớm nhất vào
tháng 7 (1971, 1985, 2003), nhiều nhất vào tháng 9 (38%), tháng 10 (24%) và
muộn nhất vào tháng 12 (2007). Tính trung bình cho cả thời kỳ nghiên cứu, cao
điểm của mùa bão ở Việt Nam là tháng 9, trùng với tháng cao điểm của mùa bão
trên Biển Đông.
Thời gian cao điểm của mùa bão cũng ít nhiều khác nhau giữa các thập kỷ.
Trung bình tháng cao điểm mùa bão rơi vào tuần 1 tháng 10 trong 3 thập kỷ
liên tiếp, 1961 – 1970; 1971 – 1980; 1981 – 1990. Vì vậy cao điểm của mùa bão
thời kỳ 1961 – 1990 là
tuần 1 tháng 10.
Thời gian cao điểm của
mùa bão trung bình cho
thập kỷ 1991 – 2000 là
tuần 3 tháng 9 và sớm hơn
chút ít, vào tuần 2 tháng 9
18
Cơn bão ở Biển Đông
trong năm đầu thập kỷ
2001 – 2009. Tính chung cho cả thời kỳ gần đây, cao điểm của mùa bão là tuần 3
tháng 9. Như vậy, trong thời kỳ gần đây, cao điểm của mùa bão sớm hơn chút ít
so với thời kỳ 1961 – 1990.
– Thời kỳ kết thúc mùa bão :
Trong 50 năm qua, mùa bão kết thúc sớm nhất vào tháng 9 (2002), nhiều nhất
vào tháng 11 (48%), muộn nhất vào tháng 12 (nhiều năm). Tính trung bình cho cả
thời kỳ nghiên cứu, mùa bão kết thúc vào tuần 2 tháng 11, muộn hơn khoảng 1
tháng so với mùa bão trên Biển Đông.
Thời gian kết thúc mùa bão, tính trung bình cho các thập kỷ, cũng khác nhau
giữa các thập kỷ.
Mùa bão kết thúc vào tuần 1 tháng 11 trong các thập kỷ 1961 – 1970, 1971 –

– Mực nước biển cao nhất năm: Mức độ tăng của mực nước biển cao nhất năm
là 5,60 mm/năm ở Hòn Dấu; 1,29 mm/năm ở trạm Sơn Trà và 4,34 mm/năm ở
Vũng Tàu. So với mực nước biển trung bình năm, mức tăng của mực nước biển
cao nhất có sự khác nhau đáng kể giữa các trạm tiêu biểu.
– Mực nước biển thấp nhất năm: Mực nước biển thấp nhất năm có mức tăng là
2,15 mm/năm ở Hòn Dấu; 3,10 mm/năm ở Sơn Trà và –0,84 mm/năm ở Vũng
Tàu. Sự khác biệt giữa các trạm về mức tăng mực nước biển thấp nhất rõ rệt hơn
nhiều so với mực nước biển trung bình cũng như mực nước biển cao nhất.
b) Tương quan so sánh mực nước biển trung bình các thời kỳ
20
Trong hầu hết trường hợp, mực nước biển trung bình thời kỳ gần đây (1991 –
2008) đều cao hơn thời kỳ 1961 – 1990.
– Về mực nước biển trung bình thời kỳ gần đây cao hơn 7,2 cm ở Hòn Dấu
và 3,5 cm ở Sơn Trà, Vũng Tàu.
– Về mực nước biển cao nhất, thời kỳ gần đây cao hơn 7,8 cm ở Hòn Dấu; 0,5
cm ở Vũng Tàu song thấp hơn 0,5 cm tại Sơn Trà.
– Về mực nước biển thấp nhất, thời kỳ gần đây cao hơn 2,7 cm ở Hòn Dấu; 5,0
cm ở Sơn Trà và 11,0 cm ở Vũng Tàu.
Có thể rút ra một số nhận định như sau về xu thế mực nước biển dâng:
– Trong số không nhiều trạm hải văn ở Việt Nam, có thể chia được 3 trạm đại
diện cho 3 vùng bờ biển để nghiên cứu về xu thế mực nước biển.
– Trong 50 năm qua, mực nước biển trung bình dâng với mức tăng 3 – 4
mm/năm hay 3 – 4 cm/thập kỷ, nghĩa là trong gần nửa thế kỷ vừa qua, nước biển
ở Việt Nam dâng lên khoảng 15 – 20 cm.
– Mực nước biển cao nhất có mức tăng cao hơn, còn mực nước biển thấp nhất thì
ngược lại, tăng ít hơn thậm chí có nơi thấp so với mực nước biển trung bình.
– Trong thời kỳ gần đây, mực nước biển cao hơn thời kỳ 1961 – 1990 về trị số
trung bình cũng như trị số cao nhất và trị số thấp nhất.
2.4. Sự biến động của sinh vật tự nhiên và môi trường sinh sống
a) Tổng diện tích đất ngập nước giảm đáng kể

Tại Bạc Liêu, do nắng nóng kéo dài, phần lớn nguồn nước trên các kênh rạch
cạn kiệt, nhiệt độ nước ban ngày quá nóng, biên độ nhiệt độ nước ngày đêm
quá lớn. Hậu quả là, chỉ trong 7 tháng đầu năm 2010 đã có 5.600 tấn tôm sú bị
thiệt hại. Ở Trà Vinh, nhiều ao nuôi tôm sú cũng bị chết hàng loạt trong cùng thời gian.
c) Nhiều rạn san hô bị tẩy trắng, xuất hiện nhiều tảo độc hại
Theo Trần Hồng Hà và các cộng tác viên (Bảo vệ Môi trường và phát triển đối
với các đô thị ven biển – tiếp cận quản lý tổng hợp đới bờ) cho đến nay (2007) đã
xác định được 50 loại tảo độc hại (22 loài ở vùng biển Nam Bộ, 28 loài ở biển
phía Bắc), cụ thể là: Tháng 8/1999 xuất hiện các đợt nở hoa của tảo độc ở Đồ Sơn
(Hải Phòng); tháng 8/1999 có hiện tượng thủy triều đỏ xảy ra trên diện tích
khoảng 200km
2
ở vùng biển Bình Thuận, tảo nở hoa đến 39,5 triệu tế bào/lít,
làm chết hầu hết tôm, cua, cá, san hô, rong, cỏ biển; tháng 11/2002,có dấu hiệu
tảo nở hoa ở Đà Nẵng.
22
Cũng theo các tác giả nói trên, hiện tượng tẩy trắng san hô do nhiệt độ nước
cao trong thời gian từ tháng 6 đến tháng 10 năm 1998 làm 14% tập đoàn san hô
ở Côn Đảo bị chết.
Diện tích rạn san hô ở một số vùng bị giảm 30%, rõ rệt nhất là ở Hải Phòng,
Quảng Ninh, Nha Trang và Côn Đảo. Các vùng cỏ biển bị suy giảm nhiều về diện
tích vào năm 2003 đã mất 6.774 ha so với năm 1997, rõ rệt nhất ở Vịnh Hạ Long,
đầm phá Tam Giang.
d) Bệnh tật gia tăng
Theo báo cáo “Khái quát về BĐKH ở Việt Nam” trong “Tài liệu đào tạo tập
huấn viên về BĐKH”, trong thời gian qua xuất hiện một số bệnh mới ở người và
động vật (cúm gia cầm,…) một số bệnh cũng quay trở lại (bệnh tả), nhiều bệnh có
diễn biến phức tạp và bất thường hơn (sốt xuất huyết),…
III. ĐẶC ĐIỂM CỦA BĐKH
Sự BĐKH toàn cầu đang diễn ra hiện nay trên Trái Đất có 4 đặc điểm nổi bật sau:

và phát triển của hệ Mặt Trời.
– Về phía Trái Đất, các khói bụi do hoạt động của núi lửa phun trào hoặc do sự
va đập của các thiên thạch vào Trái Đất gây nên các vụ nổ rất lớn làm lớp không
khí sát bề mặt đất bị che phủ mù mịt ngăn cản năng lượng bức xạ mặt trời chiếu
tới Trái Đất khiến cho Trái Đất bị lạnh đi trong một thời gian dài. Mặt khác,
sự biến động của thành phần các chất khí trong khí quyển cũng luôn diễn ra.
Thường là khi thành phần điôxit cacbon (CO
2
) tăng lên thì nhiệt độ không khí
cũng tăng lên.
2. Nguyên nhân do ảnh hưởng hoạt động của con người
Khí hậu của Trái Đất hiện nay đang
nóng lên. Hiện tượng này cũng giống
như chúng ta đang sống trong một nhà
kính. Trong nhà kính, ánh sáng mặt trời
vẫn xuyên qua. Đó là những tia bức xạ
sóng ngắn. Mặt đất trong nhà kính hấp
thu năng lượng bức xạ mặt trời nóng lên
lại bức xạ trở lại lớp không khí trong nhà
kính. Lớp không khí này hấp thu và giữ
lại nguồn năng lượng bức xạ sóng dài, vì
thế nóng lên. Người ta gọi hiện tượng
này là hiệu ứng nhà kính. Qua những quan trắc và đo đạc trong vòng
24
hơn 200 năm gần đây, người ta nhận thấy nhiệt độ trung bình của Trái Đất tăng
lên có liên quan chặt chẽ với sự gia tăng nồng độ của các chất khí như CO
2
, CH
4
,

trong khí quyển đã tăng lên
khoảng 28%, từ 280ppm lên 370ppm (phần triệu) và tính trung bình tổng lượng
CO
2
trong khí quyển tăng từ 0,5 đến 1% mỗi năm.
Việc sử dụng ngày càng nhiều các phương tiện giao thông, hoạt động sản xuất
nông nghiệp và đặc biệt là nạn đốt phá rừng, cháy rừng chẳng những thải vào
khí quyển nhiều khí CO
2
mà còn làm giảm hẳn khả năng hấp thụ khí CO
2
trong
không khí.
Chính vì thế chỉ số CO
2
được lựa chọn là chỉ tiêu quan trọng nhất để xác định
và tính toán các kịch bản BĐKH.
Khí mêtan (CH
4
) – loại KNK quan trọng thứ hai sau khí CO
2
– chủ yếu do
hoạt động sản xuất nông nghiệp gây ra từ sự phân giải yếm khí của các chất thải
25

Trích đoạn Học sinh phải biết tự bảo vệ mình Học sinh tham gia vào các phong trào hoạt động thích ứng vớ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status