1
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay phân tích chuỗi giá trị là quan trọng trong thời đại toàn cầu hóa, với
sự phân công lao động ngày càng tăng và sự phân tán toàn cầu các hoạt động sản xuất
kinh doanh, sức cạnh tranh hệ thống trở nên càng quan trọng, hiệu quả trong sản xuất
chỉ là điều kiện cần để thâm nhập thành công vào thị trường toàn cầu. Để việc tham
gia thị trường toàn cầu mang lại lợ
i nhuận bền vững thì đòi hỏi phải am hiểu các yếu tố
tác động trong toàn thể chuỗi giá trị. Việc phân tích chuỗi giá trị trong kinh doanh
chính là chìa khóa then chốt để mở khóa quá trình bế tắc và đạt được hiệu quả tối đa
trong quá trình như: tổng chi phí thấp nhất, khâu đầu vào, hình ảnh thương hiệu, phản
ứng nhanh hơn với các môi đe dọa và cơ hội…Từ đó giúp doanh nghiệp kinh doanh
tạo ra những
ưu thế so với đối thủ cạnh tranh
Được khai sinh từ thế kỷ XVII như là một loại cây công nghiệp lâu năm của
nông nghiệp Việt Nam, phát huy thế mạnh của nông nghiệp Việt Nam thì hiện nay
Việt Nam xuất khẩu tiêu đứng thứ 1 trên thế giới.
Sự phát triển ngoạn mục này bắt đầu từ những năm 1990 khi giá Hồ tiêu trên thị
trường thế giới tăng cao. Diện tích canh tác của Việt Nam đã liên tục tăng lên và đạt
gần 9.200 ha từ 400 ha vào những năm 1970. Trong hơn 5 năm trở lại đây từ đầu năm
2010 đến nay khi giá tiêu tăng gấp đôi các năm trước và đến năm 2011 gía tiêu đã đạt
mức kỷ luật 5,500 - 5,800 USD/ tấn đối với tiêu đen và 8,000 – 8,500 USD/tấn tiêu
trắng đã gia tăng diện tích trồng tiêu lên nhanh chóng. Tính đến cuối năm 2014 diện
tích trồng tiêu của Việt nam đã đạt gần 62.000 ha (VPA 2015)
Sở dĩ Hồ tiêu Việt Nam có thể phát triển một cách rực rỡ như vậy là do Việt Nam
hội tụ tất cả các điều kiện thuận lợi về tự nhiên, về con người, về ứng dụng khoa học
kỹ thuật trong sản xuất và chế biến. Thiên nhiên ưu đãi với đất bazan màu mỡ, khí hậu
cận nhiệt đới, độ ẩm cao, lượng mưa nhiều. Nông dân Việt Nam cần cù, chịu khó, ham
3
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung:
Khảo sát, phân tích để đánh giá thực trạng các tác nhân trong chuỗi giá trị hồ tiêu
từ đó đề xuất những giải pháp, chiến lược nâng cấp chuỗi để phát triển bền vững hồ
tiêu của tỉnh Bình Phước trong những năm tiếp theo.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể:
-Xác định cấu trúc chuỗi giá trị và giá trị gia tăng c
ủa từng tác nhân tham gia
hồ tiêu của tỉnh trong những năm 2014
-Xác định những lợi thế và cơ hội, những cản trở và nguy cơ thách thức của các
khâu trong chuỗi giá trị hồ tiêu
-Đề xuất những giải pháp nâng cấp chuỗi giá trị hồ tiêu từ năm 2015
-Chương trình hành động nhằm nâng cấp chuỗi giá trị hồ tiêu từ năm 2015
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
− Chuỗi giá trị h
ồ tiêu tỉnh Bình Phước có cấu trúc như thế nào và giá trị gia tăng
ra sao?
− Hiện trạng các hoạt động thương mại của hồ tiêu huyện Bù Đốp tỉnh Bình
Phước?
− Phân phối thu nhập giữa các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị như thế nào?
− Những khó khăn gặp phải, cũng như cơ hội khi phát triển hồ tiêu của các tác
nhân tham gia là gì?
− Những chiến lược và giải pháp nào để nâng c
ấp chuỗi giá trị hồ tiêu nhằm phát
triển bền vững hồ tiêu tại huyện Bù Đốp tỉnh Bình Phước?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
6
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN CƠ SỞ KHOA HỌC
2.1 Chuỗi giá trị
2.1.1 Khái niệm chuỗi giá trị
Chuỗi giá trị, hay còn được biết đến là chuỗi giá trị phân tích, là một khái niệm
từ quản lý kinh doanh đã được Micheal Porter mô tả và phổ cập lần đầu tiên vào năm
1985 trong một cuốn sách về phân tích lợi thế cạnh tranh của ông: Chuỗi giá trị là
chuỗi của các hoạt động. Sản phẩm đi qua tất cả các hoạt động của một công ty hoạt
động một ngành nghề cụ thể. Sản phẩm đi qua tất cả các hoạt động của chuỗi theo thứ
tự và tại mỗi hoạt động sản xuất thu được một số giá trị nào đó. Chuỗi các hoạt động
mang lại sản phẩm nhiều giá trị gia tăng hơn tổng giá trị gia tăng của các hoạt động
cộng lại.
(Kaplins Rapheal 1999, Kaplinsky & Morris 2001) đã đưa ra khái niệm về
chuỗi giá trị “Chuỗi giá trị là cả loạt những hoạt động cần thiết để biến một sản phẩm
hoặc một dịch vụ từ lúc còn là khái niệm, thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau
(bao gồm một kết hợp giữa sự biến đổi vật chất và đầu vào các dịch vụ sản xuất khác
nhau), đến khi phân phối đến tay người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử
dụng”. Và một chuỗi giá trị tồn tại khi tất cả những người tham gia trong chuỗi hoạt
động để tạo ra tốt đa giá trị cho chuỗi.
Chuỗi giá trị theo nghĩa hẹp là một loạt các hoạt động thực hiện trong một
công ty để sản xuất ra một sản phẩm nhất định. Các hoạt động này có thể bao gồm
giai đoạn xây dựng khái niệm và thiết kế, quá trình mua vật tư đầu vào, sản xuất, tiếp
thị và phân phối, thực hiện các dịch vụ hậu mãi đến người tiêu thụ sản phẩm cuối
cùng v.v Tất cả những hoạt động này trở thành một chuỗi kết nối người sản xuất với
người tiêu dùng. Mặt khác, mỗi hoạt động lại bổ sung giá trị cho thành phẩm cuối
cùng. Nói cách khác, CGT theo nghĩa hẹp là các hoạt động trong cùng một tổ chức
hay một công ty theo khung phân tích của Porter (1985).
7
tự như khái niệm rộng về CGT (đã trình bày ở trên). Tuy nhiên, khái niệm chuỗi chủ
yếu tập trung vào các vấn đề của các mối quan hệ vật chất và kỹ thuật được tóm tắt
8
trong sơ đồ dòng chảy của các hàng hóa và sơ đồ mối quan hệ chuyển đổi thông qua
những người tham gia chuỗi
Phương pháp chuỗi (Filière) có hai lĩnh vực và có một số điểm chung so với phân
tích CGT:
Việc đánh giá chuỗi về mặt kinh tế và tài chính ( được trình bày trong Durufleá,
Fabre và Yung, 1988, và được sử dụng trong một số dự án phát triển do Pháp tài trợ
trong thập niên 80 và 90) chú trọng vào vấn đề tạo thu nhập và phân phối trong chuỗi
hàng hóa và phân biệ
t các khoản chi phí, thu nhập giữa kinh doanh nội địa và quốc tế
nhằm phân tích sự ảnh hưởng của chuỗi đến nền kinh tế quốc dân và sự đóng góp của
nó vào GDP theo “phương pháp ảnh hưởng” (“ meathode des effets”).
Phân tích chú trọng vào chiến lược của phương pháp chuỗi được sử dụng nhiều nhất
ở trường Đại học Paris – Nanterre, một số viện nghiên cứu như Viện Nghiên cứu và
Phát triển của Pháp (CIRAD), các tổ ch
ức phi chính phủ như IRAM (về phát triển
nông nghiệp), nghiên cứu một cách có hệ thống sự tác động lẫn nhau của các mục tiêu,
các cản trở và kết quả của mỗi bên có liên quan trong chuỗi; các chiến lược cá nhân và
tập thể cũng như các hình thái qui định mà Hugon (1985) đã xác định là có bốn loại
liên quan đến chuỗi hàng hóa ở Châu Phi được phân tích gồm qui định trong nước, qui
định về thị trường, qui định của nhà nước và qui định kinh doanh nông nghiệ
p quốc tế.
Moustier và Leplaideur (1989) đã đưa ra một khung phân tích về tổ chức chuỗi hàng
hóa (lập sơ đồ, các chiến lược cá nhân và tập thể, hiệu suất về mặt giá cả và tạo thu
nhập, vấn đề chuyên môn hóa của nông dân, thương nhân ngành thực phẩm so với
chiến lược đa dạng hóa)
Khung phân tích của Porter
CGT chủ yếu nhằm hỗ trợ các hoạt động quản lý, điều hành đưa ra các quyết định
mang tính chiến lược.
M
chín
độn
g
hệ t
h
gia
t
thô
đ
với
k
hướ
n
cần
là c
ô
M
ột cách k
h
h là thay
v
g
h
ty như m
ộ
ị
. Một hệ
t
sản xuất
m
p
hối đến n
g
chuỗi giá
y
nói đến k
h
g
trong kh
u
p
quản lý
đ
g
iá trị của
u
ng cấp
Khung p
h
ra lợi thế
h
lợi thế c
ạ
nh tranh c
ủ
a
một chuỗ
r
ị bao gồ
m
h
óa hoặc
d
d
ùng cuối
c
o
anh nghi
ệ
c
h chuỗi gi
á
ích chủa
P
đ
ưa ra các
q
Hệ thống
Chuỗi giá t
r
của công t
y
uyết định
giá trị củ
a
r
ị
y
e
l Porter (
à
o khái niệ
n
g ty duy
n
đ
ộng rộng
đ
ộng do tấ
t
ự
c hiện, b
ắ
ậ
y, hệ thố
n
g
với khái
ơ
ng pháp
r
ng hơn).
T
t
hống giá
t
h
iến lược.
iá trị của
ờ
i mua
g giá trị,
ý
ể
xem hoạ
t
o
rter gọi l
à
n
g ty tha
m
g
uyên liệ
u
ộ
ng hơn s
o
cuốn sác
h
quốc gia hội nhập toàn cầu đánh giá về các yếu tố quyết định liên quan đến việc phân
phối và thu nhập toàn cầu.Phân tích CGT còn giúp làm sáng tỏ việc các công ty, quốc
gia và vùng lãnh thổ được kết nối với nền kinh tế toàn cầu như thế nào. Tương tự
, theo
cách tiếp cận liên kết chuỗi giá trị (GTZ Eschborn, 2007) của GTZ (Deutsche
Gesellschaft für Technische Zusammenarbeit – Đức) thì CGT là một loạt các hoạt
động kinh doanh (hay chức năng) có quan hệ với nhau, từ việc cung cấp các giá trị đầu
vào cụ thể cho một sản phẩm nào đó, đến sơ chế, chuyển đổi, marketing, cuối cùng là
bán sản phẩm đó cho người tiêu dùng. Hay CGT là một loạt quá trình mà các doanh
nghiệp (nhà vận hành) thực hiện các chức năng chủ yếu của mình
để sản xuất, chế
biến, và phân phối một sản phẩm cụ thể nào đó. Các doanh nghiệp kết nối với nhau
bằng một loạt các giao dịch sản xuất và kinh doanh, trong đó sản phẩm được chuyển từ
tay nhà sản xuất, sơ chế ban đầu đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Theo thứ tự các
chức năng và các nhà vận hành, CGT sẽ bao gồm một loạt các khâu trong chuỗi (hay
còn gọi là các chức n
ăng chuỗi)
Kết hợp với cách tiếp cận CGT của GTZ, phòng Phát triển Quốc tế của Anh còn
giới thiệu cuốn sổ tay thực hành phân tích CGT có liên quan đến người nghèo với tựa
đề “Để chuỗi giá trị hiệu quả hơn cho người nghèo” hay “Nâng cao hiệu quả thị trường
cho người nghèo” (M4P, 2008). Đây là cách tiếp cận rất phù hợp để nghiên cứu các
sản phẩm nông nghiệp, nhất là những sản phẩm có liên quan đế
n người nghèo
Trong phần còn lại của quyển sách này, tác giả sẽ đề cập CGT theo nghĩa rộng,
nghĩa là CGT là một hoạt động kinh doanh có quan hệ với nhau, từ việc cung cấp các
đầu vào để sản xuất một sản phẩm, đến sơ chế, vận chuyển, tiếp thị đến việc cuối cùng
là bán sản phẩm đó cho người tiêu dùng (GTZ Eschborn, 2007)
2.1.2 Ý nghĩa của phương pháp tiếp cận chuỗ
i giá trị trong phát triển bền
vững sản phẩm.
Giúp cho quản lý chuỗi cung ứng hiệu quả (chi phí sản xuất thấp) từ đầu vào
đến đầu ra và quản lý chất lượng tốt (từ đầu ra trở về đầu vào) nhằm nâng cao giá trị
gia tăng của ngành hàng (giá thành cạnh tranh, chất lượng tốt).
Giúp quản lý rủi ro dọc theo chuỗi t
ốt hơn và tổ chức hậu cần (logistics) hiệu
quả.
13
Giúp cho các tác nhân tham gia chuỗi có nhận thức, năng động và trách nhiệm
đến sản phẩm cuối cùng.
Giúp cho việc nâng cấp chuỗi giá trị kịp thời, hiệu quả từ việc nâng cao trách
nhiệm từng tác nhân và nhà hỗ trợ chuỗi.
Nghiên cứu về chuỗi giá trị trên thế giới đã được đề cập đến từ rất sớm. Michael
Porter (1985), Năm 1988, Durufle và cộng sự đã áp dụng phương pháp filiére (chuỗi, mạch)
nghiên cứu đánh giá chuỗi về mặt kinh tế, tài chính. Gereffi và Korzenniewicz (1994),
Kaplinsky và Morris (2001). Đối với Việt Nam, kể từ năm 2000 các nghiên cứu về phân tích
chuỗi giá trị nói chung được chú ý, một số nghiên cứu sản xuất và thương mại hàng hóa nông
sản đã sử dụng tiếp cận chuỗi giá trị để phân tích, ví dụ như các báo cáo nghiên cứu rau và
rau an toàn ở An Giang, Cần Thơ, TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, bưởi ởVĩnh Long, thanh long ở
Bình Thuận, trái bơ ở DakLak, nho ở Ninh Thuận, “Phát triển chuỗi giá trị cá da trơn tại An
Giang, dự án phân tích chuỗi giá trị cá vùng Mê Kông, của các tổ chức GTZ, Axis Research,
v.v. Hiện nay, một số dự án phát triển nông nghiệp nông thôn do các nhà tài trợ quốc tế cho
vay vốn cũng thực hiện theo tiếp cận này.
2.1.3 Phân tích chuỗi giá trị
Giúp chúng ta xác định những khó khăn của từng khâu trong chuỗi, từ đó có các
giả pháp khắc phục để sản phẩm đáp ứng được yêu cầu của thị trường và phát triển bền
vững
Xây dựng chiến lược phát triển chuỗi giá trị luôn có hai nội dung. Thứ nhất, liên
quan tới những gì mà các tác nhân tham gia chuỗi giá trị phải làm để trở nên cạnh
tranh hơn và để tạo ra giá trị
Bước 3: Phân tích kinh tế đối với chuỗi giá trị
Phân tích kinh tế đối với chuỗi giá trị là đánh giá năng lực hiệu suất kinh tế của
chuỗi. Nó bao gồm việc xác định giá trị gia tăng tại các giai đo
ạn trong chuỗi giá trị,
chi phí sản xuất và thu nhập của các nhà vận hành (trong phạm vi có thể). Một khía
cạnh khác là chi phí giao dịch – chính là chi phí triển khai công việc kinh doanh, chi
phí thu thập thông tin và thực hiện hợp đồng. Năng lực kinh tế của một chuỗi giá trị có
thể được “so sánh đối chuẩn”, ví dụ như giá trị của các tham số quan trọng có thể được
so sánh với các tham số này ở các chuỗi cạnh tranh tại các quốc gia khác hoặc của các
ngành công nghiệp tương đồng
2.1.4 Vai trò của phân tích chuỗi giá trị.
Phương pháp chuỗi giá trị chủ yếu là một công cụ mô tả để xem xét các tương
tác giữa những người tham gia khác nhau. Là một công cụ có tính mô tả, nó có những
15
lợi thế khác nhau ở chỗ, nó buộc người phân tích phải xem xét cả các khía cạnh vi mô
và vĩ mô trong các hoạt động sản xuất và trao đổi. Phân tích trên cơ sở các hàng hóa có
thể cho biết nhiều hơn về cơ cấu tổ chức và chiến lược của những người tham gia khác
nhau và hiểu được các quy trình kinh tế thường chỉ được nghiên cứu ở phạm vi toàn
cầu (thường bỏ qua sự khác biệt mang tính địa phương c
ủa các quy trình) hoặc ở tầm
quốc gia/địa phương (thường hạ thấp các lực lượng rộng lớn hơn tạo nên thay đổi về
kinh tế xã hội và lập chính sách).
Kaplinsky và Morris (2001) nhấn mạnh rằng không có cách nào “đúng” để phân
tích chuỗi giá trị, mà phương pháp được chọn chủ yếu dựa vào câu hỏi nghiên cứu
đang tìm câu trả lời. Dù sao, bốn khía cạnh trong phân tích chuỗi giá trị như được áp
dụng trong nông nghiệp cũng r
ất đáng lưu ý.Dù khác nhau như thế nào đi nữa về cách
tiếp cận, phân tích chuỗi giá trị có bốn kỹ thuật phân tích chính là:
Thứ nhất, ở mức độ cơ bản nhất, một phân tích chuỗi giá trị lập sơ đồ hóa
Trung tâm của phân tích là lập sơ đồ các lĩnh vực và các mối liên kết chính. Tuy nhiên,
giá tr
ị gia tăng của phương pháp chuỗi giá trị có được từ đánh giá các mối liên kết
trong và giữa những bên tham gia thông qua lăng kính của các vấn đề về quản trị, nâng
cấp và lưu ý về phân phối. Nhờ hiểu được một cách có hệ thống về những mối liên kết
này trong một mạng lưới, có thể đưa ra những kiến nghị chính sách tốt hơn, và hơn thế
nữa, hiểu hơ
n về tác động ngược lại của chúng trong toàn chuỗi.
17
Nhà bán lẻ nước n
g
oài
-Quản trị
-Nâng cấp
-Vấn đề về
phân phối
Vấn đề về
p
hân
p
hối
18
2.1.5 Chiến lược nâng cấp chuỗi giá trị.
2.1.5.1 Khái niệm
Nâng cấp chuỗi giá trị là thực hiện các giải pháp để tháo gỡ những khó khăn
trong chuỗi nhằm đảm bảo sản phẩm đáp ứng được nhu cầu và yêu cầu của thị trường
và phát triển chuỗi một cách bền vững.
Để nâng cấp chuỗi thành công, các tác nhân trong chuỗi đóng vai trò chủ đạo
thực hiện nhiệm vụ nâng c
ấp và các nhà hỗ trợ đóng vai trò hỗ trợ các tác nhân trong
quá trình nâng cấp.
Xác định tầm nhìn sẽ giúp chúng ta tập trung vào cơ hội, định hướng rõ ràng
viễn cảnh trong tương lai để đặt ưu tiên các họat động, giúp cho các tác nhân thống
nhất ý kiến trong việc nâng cấp chuỗi.Có bốn chiến lược cơ bản để nâng cấp chuỗi giá
trị (1) Chiến lược cắt giảm chi phí, (2) Chiến lược nâng cao chất lượng, (3) Chiến lược
đầu tư vào công nghệ, (4) Chiến lược tái đầu tư (GTZ,2007) . Từng theo từng chuỗi
sản phẩm được phân tích cụ thể mà chúng ta có thể sử dụng từng chiến lược riêng lẻ
hay kết hợp các chiến lược với nhau để đạt được tầm nhìn chiến lược
7,142 9,374 9,167
9.712
3 4,773 7,007 6,567
6.664
7,213 9,522 9,070
9.464
4 5,673 6,674 6,437
7.099
8,088 9,403 9,086
10.327
5 5,870 6,846 6,348
7.671
8,315 9,605 9,024
10.425
6 5,958 6,608 6,237
7.820
8,156 9,354 8.982
10.418
7 6,024 6,412 6,292
9.001
8,252 9,129 9,067
11,455
8 6,325 6,355 6,399
9.392
8,297 8,900 9,064
12.378
9 7,436 6,576 6,823
9.743
9,540 9,221 9,117
12.737
thấp, diện tích tr
ồng mới gần đây có tăng nhưng thu hoạch chưa nhiều. Chi phí sản
xuất ngày càng tăng
2.2.3 Năng suất và sản lượng
Do quảng canh nên năng suất thu hoạch tiêu ở hầu hết các nước rất thấp. Ấn
Độ, Indonesia năng suất thu hoạch bình quân năm cao nhất khoảng 350 kg/ha, những
năm gần đây chỉ còn 250 kg/ha. Riêng Việt Nam năng suất thu hoạch bình quân đạt
khoảng 2,5 tấn/ha, nhiều vùng đạt 4 - 5 t
ấn/ha, nhiều hộ đạt 6 - 7 tấn/ha, cá biệt có hộ
đạt trên 10 tấn /ha (tiêu đen khô).
21
Bảng 2.2: Năng suất và sản lượng tiêu các nước trên thế giới 2009-2014
Quốc Gia 2009 2010 2011 2012 2013 2014
Việt Nam
Tổng 100,000 110,000 120,000 100,000 100,000 100,000
Tiêu đen 80,000 95,000 100,000 85,000 80,000 80,000
Tiêu trắng 20,000 15,000 20,000 15,000 20,000 20,000
Ấn Độ
Tổng 50,000 50,000 40,000 43,000 58,000 45,000
Tiêu đen 49,450 49,450 39,500 41,500 56,000 43,750
Tiêu trắng 550 550 500 1,500 2,000 1,250
Indonesia
Tổng 47,500 87,000 41,000 72,000 59,000 62,000
Tiêu đen 31,500 52,000 25,000 52,000 38,000 38,000
Tiêu trắng 16,000 35,000 16,000 20,000 21,000 24,000
Brazil
Tổng 40,700 34,000 34,000 32,000 32,000 35,000
Tiêu đen 38,700 32,000 32,000 30,300 30,300 33,300
Diện
tích
Sản lượng Xuất Khẩu K. Ngạch XK
Giá xuất
USD/T
Nhập
Khẩu
Ha Tấn Tấn Tỷ USD Tấn
2011 451 337.387 250.785 1,584 42.2
Đen 264.182 208.052 6.127 38.47
Trắng 73.205 42.733 8.528 3.726
2012 461 360.59 260.666 1,851 54.51
Đen 285.86 224.902 6.572 47.95
Trắng 74.73 35.764 9.257 6.559
2013 465 365 249.5 1,900 52.6
Đen 290 210.95 6.761 48.6
Trắng 75 38.55 9.234 4
2014 470 333.95 247.5 2,000 53.08
Đen 256.45 205.15 7 49.58
Trắng 77.5 42.35 9.3 3.5
Nguồn: IPC
2.3 Sản xuất hồ tiêu ở Việt nam
Có thể nói, năm 2014 trong bối cảnh khó khăn về thiên tai, dịch bệnh và tác
động bởi suy thoái kinh tế toàn cầu, ngành Hồ tiêu Việt Nam đã nỗ lực vượt qua và đạt
được những thành công lớn cả về sản xuất và thương mại. Sản lượng thu hoạch, khối
lượng xuất khẩu, tổng kim ngạch và giá xuất khẩu đều đạt mức cao nhất từ
trước tới
nay. Sản lượng thu hoạch ước đạt khoảng 135.000-140.000 tấn, tăng 12% so vụ trước,
chiếm 41% sản lượng tiêu thế giới.Khối lượng xuất khẩu đạt 156.396 tấn, tăng 16,38%
so vụ trước, chiếm 58% thị phần xuất khẩu toàn cầu. Kim ngạch đạt 1,2 tỷ USD, tăng
24
Bảng 2.4: Tình hình sản xuất hồ tiêu 6 tỉnh trọng điểm của Việt Nam 2014
2014
Tỉnh thành
DT trồng
trọt
DT thu
hoạch
NS bình
quân
(Tạ/ha)
Sản
lượng
(Ha) (Ha) (Tấn)
Bình Phước
12.148 8.845 29,3 25.919
Đắk Nông
11.154 8.924 21,4 19.097
Đắk Lắk
12.082 6.178 31,4 19.408
Bà Rịa Vũng
Tàu
9.074 7.191 19,8 14.235
Đồng Nai
9.01 7.2 20,1 14.5
Gia Lai
11.245 7.53 36,5 27.497
Khác
8.8 7.25 20,0 14.5
Tăng so với 2013
tăng
28 7 5 20 29 38 65 60 58 47 41 26
2.3.4 Xuất khẩu:
Hồ tiêu Việt Nam đã có mặt trên 100 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
Việt Nam tiếp tục giữ vững kỷ lục là quốc gia sản xuất và xuất khẩu tiêu số một thế
giới 14 năm liền. Vị thế quốc gia Hồ tiêu Việt Nam đã được khẳng định trên trường
quốc tế Khối lượng, kim ngạch và giá cả:Theo Tài chính hải quan, năm 2014, Việt
Nam đã xuất khẩu đạt kết quả như sau:
Bảng 2.6: Khối lượng, kim ngạch và giá XK 2014 (Đơn vị: tấn,%)
Tổng số So 2013
Tiêu
đen So 2013 Tiêu trắng So 2013
156.396 + 16,38 140.067 + 21,68 16.329 - 15,28
Giá trị So 2013
Tiêu
đen So 2013 Tiêu trắng So 2013
1.21 + 34,72 1.036,3 + 43,04 173,8 + 0,02
Giá bình quân
Tiêu
đen So 2013 Tiêu trắng So 2013
7.399 + 17,56 10.648 + 18,07
Nguồn: Tài chính hải quan