BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
TẠI BÃI RÁC NAM SƠN, HUYỆN SÓC SƠN,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ HÀ NỘI – 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
Nguyễn Thị Phương Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập, nghiên cứu tại Khoa môi trường, Học viện
Nông nghiệp Việt Nam đến nay tôi đã kết thúc chương trình đào tạo cao học và
hoàn thành đồ án tốt nghiệp với đề tài: "Đánh giá hiện trạng quản lý môi
trường tại bãi rác Nam Sơn, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội".
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu Học viện nông nghiệp Việt
Nam, các thầy cô giáo Khoa môi trường, đặc biệt là TS. Đinh Thị Hải Vân là
DANH MỤC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Yêu cầu nghiên cứu 2
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Tổng quan về bãi chôn lấp 3
1.1.1. Các khái niệm chung về bãi chôn lấp 3
1.1.2. Phân loại bãi chôn lấp 4
1.2. Công tác quản lý bãi chôn lấp trên Thế giới và ở Việt Nam 9
1.2.1. Công tác quản lý bãi chôn lấp trên Thế giới 9
1.2.2. Công tác quản lý bãi chôn lấp ở Việt Nam 10
1.3. Ảnh hưởng của bãi chôn lấp tới môi trường xung quanh 15
1.3.1. Ảnh hưởng của bãi chôn lấp tới môi trường nước 15
1.3.2. Ảnh hưởng của bãi chôn lấp tới môi trường đất 17
1.3.3. Ảnh hưởng của bãi chôn lấp tới môi trường không khí 18
Chương 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1. Đối tượng nghiên cứu 20
2.2. Phạm vi nghiên cứu 20
2.3. Nội dung nghiên cứu 20
2.3.1. Hiện trạng tiếp nhận rác tại bãi rác Nam Sơn, huyện Sóc Sơn, thành
phố Hà Nội. 20
2.3.2. Hiện trạng môi trường tại bãi rác Nam Sơn 20
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv
2.3.3. Biện pháp quản lý về môi trường tại bãi rác Nam Sơn 20
2.3.4. Các giải pháp phù hợp cho việc quản lý về môi trường tại bãi rác Nam
Sơn. 20
2.4. Phương pháp nghiên cứu 21
APU Đơn vị chống ô nhiễm tại Singapore
BCL HVS Bãi chôn lấp hợp vệ sinh
BOD Nhu cầu oxy sinh học
BTNMT Bộ tài nguyên môi trường
BYT Bộ y tế
CBCNV Cán bộ công nhân viên
CO Khí Cacbon monoxit
CO
2
Khí Cacbonic
CTR Chất thải rắn
CTRSH Chất thải rắn sinh hoạt
ĐTM Đánh giá tác động môi trường
EM Chế phẩm sinh học
GTCC Sở giao thông công chính
HCl Axit Clohidric
KT - XH Kinh tế - xã hội
LHXLCT Liên hợp xử lý chất thải
NO
Khí Nito oxit
ODA Nguồn vốn hỗ trợ chính sách từ bên ngoài
OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
pH Chỉ sổ đo độ hoạt động của các ion hidro (H
+
) trong dung dịch
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TCXDVN Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam
TOC Tổng Cacbon hữu cơ
UBND Ủy Ban Nhân Dân
DANH MỤC HÌNH
STT Tên hình Trang
Hình 2.1. Khung phương pháp nghiên cứu 21
Hình 2.2. Sơ đồ lấy mẫu tại khu vực bãi chôn lấp rác Nam Sơn 23
Hình 3.1. Toàn cảnh của bãi chôn lấp rác Nam Sơn, Sóc Sơn, Hà Nội 28
Hình 3.2. Sơ đồ bãi chôn lấp rác Nam Sơn 29
Hình 3.3. Sơ đồ quy trình vận hành bãi rác Nam Sơn 31
Hình 3.4. Xe chở rác đi lên ô chôn lấp (khu vực hồ sinh học) 31
Hình 3.5. Rác được đổ từ xe chở rác vào các ô chôn lấp 32
Hình 3.6. Rác được san ủi 32
Hình 3.7. Rác tại ô chôn lấp được san ủi 33
Hình 3.8. Phủ đất và san ủi đất 33
Hình 3.9. Hiện trạng nước do người dân đánh giá 42
Hình 3.10. Số hộ dân nhận được sự hỗ trợ của xí nghiệp 46
Hình 3.11. Rác nhặt được người dân phơi tràn lan trên đường 47
Hình 3.12. Một số căn bệnh người dân mắc phải. 47
Hình 3.13. Ao nơi người dân làm sạch phế liệu. 48
Hình 3.14. Đề xuất của người dân sống xung quanh giảm thiểu ảnh hưởng
của bãi rác 49
Hình 3.15. Ý kiến của người dân về việc đóng cửa bãi rác 50
Hình 3.16. Sơ đồ công nghệ xử lý nước rác tại bãi rác Nam Sơn của Công ty
SEEN 55
Hình 3.17. Nước rác được lên bể sục vôi từ hồ sinh học 56
Hình 3.18. Hệ thống bể lắng cặn 57
Hình 3.19. Hệ thống tháp tách NH
3
(Stripping) 59
2
. Thành phố Hà Nội đã và đang đầu tư
một số hạng mục đặc thù như đường giao thông, trạm y tế, trường học trạm cấp
nước sạch để phục vụ dân sinh ở các xã đã dành đất cho dự án.
Nhằm tìm hiểu thực trạng quản lý môi trường tại bãi rác và đề xuất một số
giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và xử lý môi trường tại bãi rác. Cung cấp cơ
sở thực tiễn cho việc hoạch định chính sách và lựa chọn các công nghệ xử lý phù
hợp trong tương lai góp phần giải quyết các vấn đề môi trường phát sinh từ bãi
rác đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững tại địa phương. Trước các vấn đề trên
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
tôi lựa chọn và thực hiện đề tài "Đánh giá hiện trạng quản lý môi trường tại bãi
rác Nam Sơn, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội"
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung: Tìm hiểu hiện trạng quản lý môi trường từ đó đánh giá
công tác quản lý môi trường tại bãi rác Nam Sơn, huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà
Nội.
Mục tiêu cụ thể:
- Tìm hiểu hiện trạng tiếp nhận rác tại bãi rác Nam Sơn
- Đánh giá hiện trạng môi trường tại địa điểm nghiên cứu.
- Tìm hiểu công tác quản lý môi trường tại bãi rác Nam Sơn.
- Đề xuất biện pháp quản lý môi trường tại bãi rác Nam Sơn.
3. Yêu cầu nghiên cứu
- Nắm được hiện trạng tiếp nhận rác tại bãi rác Nam Sơn và công nghệ xử
lý rác tại đây.
- Tìm hiểu được hiện trạng môi trường xung quanh, những ảnh hưởng của
bãi rác tới môi trường xung quanh.
- Biết được công tác quản lý môi trường tại bãi rác từ đó đưa ra các đề
xuất quản lý về môi trường đối với bãi rác.
bộ BCL trong khi vận hành và khi đóng BCL nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu tác
động từ ô chôn lấp tới môi trường xung quanh và từ bên ngoài vào ô chôn lấp
CTR.
Sau khi chôn lấp nảy sinh ra vấn đề nước rỉ rác, chính là phần nước phát
sinh trong quá trình phân hủy tự nhiên CTR có chứa các chất gây ô nhiễm.
Trong quá trình chôn lấp rác thì ngoài nước rác còn có khí từ ô chôn lấp
CTR phát sinh chính nguồn khí này là hỗn hợp khí sinh ra từ ô chôn lấp chất thải
do quá trình tự phân hủy tự nhiên CTR.
Rác được đổ vào các ô chôn lấp sau khi đã được lót một lớp đáy bằng
phương pháp trải toàn bộ vật liệu trên toàn diện tích đáy và thành bao quanh ô
chôn lấp chất thải nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu sự ngấm, thẩm thấu nước rác vào
tầng nước ngầm. Ngoài ra còn có các phần khác như:
Vùng đệm ta có thể quan sát và thấy được ở bất kỳ một bãi rác nào bằng
mắt thường chính là dải đất bao quanh BCL nhằm mục đích ngăn cách, giảm
thiểu tác động xấu của BCL đến môi trường.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
Hàng rào bảo vệ được bố trí kế tiếp cạnh vùng đệm chính là hệ thống
tường, rào chắn, vành đai cây xanh hoặc vật cản có chiều cao nhất định bao
quanh BCL nhằm hạn chế tác động từ các hoạt động chôn lấp CTR đến môi
trường xung quanh.
Trong các hoạt động của bãi chôn lấp một hoạt động cũng diễn ra thường
xuyên và quan trọng chính là hoạt động quan trắc môi trường là các hoạt động
gắn liền với việc phân tích đo đạc các số liệu về chất lượng không khí, nước.
Mục đích là theo dõi sự di chuyển của khí và nước trong BCL.
Một công đoạn khác trong chuỗi các công đoạn trong bãi chôn lấp là việc
ngừng hoàn toàn hoạt động chôn lấp CTR tại BCL đó được gọi là công đoạn
đóng bãi chôn lấp sau một thời gian hoạt động của BCL tính từ khi bắt đầu chôn
lấp CTR đến khi đóng BCL (Nguyễn Thị Ngọc Thảo, 2012).
- Bãi rác hở sẽ gây ô nhiễm không khí do quá trình phân hủy rác tạo thành
các khí có mùi hôi thối, mặt khác ở các bãi rác hở còn có hiện tượng “cháy
ngầm” hay có thể cháy thành ngọn lửa và tất cả các quá trình trên sẽ dẫn đến vấn
đề ô nhiễm không khí.
Có thể nói đây là phương pháp xử lý rẻ tiền nhất, chỉ tốn chi phí cho công
việc thu gom và vận chuyển rác từ nơi phát sinh đến bãi rác. Tuy nhiên phương
pháp này lại đòi hỏi một diện tích bãi rác lớn. Do vậy ở các thành phố đông dân
cư và quỹ đất đai khan hiếm thì phương pháp này trở nên đắt tiền cùng với nhiều
nhược điểm như đã nêu trên.
Bãi chôn dưới biển theo nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng việc chôn rác dưới
biển cũng có nhiều điều lợi. Ví dụ như ở thành phố New York, trước đây chất
thải rắn được chở đến bến cảng bằng những đoàn xe lửa riêng, sau đó chúng
được các xà lan chở đem chôn dưới biển ở độ sâu tối thiểu 100 feets, nhằm tránh
tình trạng lưới cá bị vướng mắc. Ngoài ra ở San Francisco, New York và một số
thành phố ven biển khác của Hoa Kỳ, người ra còn xây dựng những bãi rác ngầm
nhân tạo trên cơ sở sử dụng các khối gạch, bê tông phá vỡ các tòa nhà thải bỏ.
Điều này vừa giải quyết được vấn đề chất thải, đồng thời tạo nên nơi trú ẩn cho
các loài sinh vật biển. Bãi chôn lấp dưới biển chưa phổ biến ở một số nơi đặc biệt
ở Việt Nam không có loại bãi chôn lấp này.
Bãi chôn lấp hợp vệ sinh chính là bãi chôn lấp được thiết kế để đổ chất
thải rắn sao cho mức độ gây độc hại đến môi trường là nhỏ nhất. Tại đây rác
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
được đổ bỏ bằng cách trải rộng trên mặt đất, sau đó được nén và bao phủ một lớp
đất dày 1,5cm (hay vật liệu bao phủ) ở cuối mỗi ngày (Nguyễn Văn Phước,
2009).
Khi bãi chôn lấp vệ sinh đã sử dụng hết công suất thiết kế của nó, một lớp
đất (hay vật liệu bao phủ) sau cùng dày khoảng 60cm được phủ lên trên.
Ưu điểm của bãi rác hợp vệ sinh:
2
S độc hại có
khả năng gây cháy nổ hay gây cháy nổ gây ngạt. Tuy nhiên CH
4
có thể được thu
hồi để làm khí đốt.
Nếu không xây dựng và quản lý tốt có thể gây ra ô nhiễm nước ngầm và ô
nhiễm không khí.
1.1.2.2. Phân loại theo chức năng
Bãi chôn lấp được phân loại theo chức năng thì được phân làm 3 loại:
- Bãi chôn lấp chất thải nguy hại: Được chôn các chất thải nguy hại như
chất bảo vệ thực vật, vỏ đựng các chất nguy hại.
- Bãi chôn lấp chất thải chỉ định: Tại đây các chất thải được chỉ định được
chôn tại đây mới được chôn.
- Bãi chôn lấp chất thải rắn đô thị là bãi chứa toàn bộ lượng rác thải đô thị
được vận chuyển tới bãi chôn lấp.
1.1.2.3. Phân loại theo địa hình
Phương pháp đào hố/rãnh là phương pháp lý tưởng cho những khu vực có
độ sâu thích hợp, vật liệu che phủ sẵn có và mực nước ngầm không gần bề mặt,
thích hợp sử dụng cho những loại đất đai bằng phẳng hay nghiêng đều và đặc
biệt là những nơi có chiều sâu lớp đất đào tại bãi đổ đủ để bao phủ lớp rác nén.
Phương pháp chôn lấp trên khu vực đất bằng phẳng phương pháp này
được sử dụng khi địa hình không cho phép đào hố hoặc mương. Khu vực bãi
chôn lấp được lót đáy và lắp đặt hệ thống thu nước rò rỉ.
Phương pháp hẻm núi/lồi lõm là các hẻm núi, khe núi, hố đào, nơi khai
thác mỏ có thể được sử dụng làm bãi chôn lấp. Kỹ thuật đổ và nén chất thải
trong khe núi, mõm núi, mỏ đá phụ thuộc vào địa hình, địa chất và thủy văn của
bãi đổ, đặc điểm của vật liệu bao phủ, thiết bị kiểm soát nước rò rỉ, khí thải rác
và đường vào khu vực bãi chôn lấp.
1.1.2.4. Phân loại theo chất thải rắn tiếp nhận
Diện tích
bãi (ha)
1 Nhỏ
100.000
20.000
10
2 Vừa 100.000 - 300.000 65.000 10 – 30
3 Lớn 300.000 – 1.000.000 200.000 30 – 50
4 Rất lớn
1.000.000 200.000 50
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
1.2. Công tác quản lý bãi chôn lấp trên Thế giới và ở Việt Nam
1.2.1. Công tác quản lý bãi chôn lấp trên Thế giới.
Chôn lấp vẫn là phương pháp thông dụng nhất đã và đang áp dụng ở các
nước phát triển. Ngay những nước có trình độ tiên tiến như Mỹ, Anh, Thủy Điển,
Đan Mạch thì xử lý chất thải rắn bằng phương pháp chôn lấp vẫn được sử dụng
như là phương pháp chính. Toàn bộ lượng chất thải rắn đô thị ở Hy Lạp được xử
lý bằng phương pháp chôn lấp. Ở Anh lượng CTR hàng năm khoảng 18 triệu tấn
trong đó chỉ 6% được xử lý bằng phương pháp thiêu đốt, 92% được xử lý bằng
phương pháp chôn lấp. Ở Đức lượng CTR hàng năm khoảng 19.483 triệu tấn
trong đó 2% được sản xuất phân Compost, 28% được xử lý bằng thiêu đốt, 69%
đem chôn lấp (Viện công nghệ môi trường, 2007).
Singapore là một nước đang phát triển nhưng đã sớm quan tâm đến việc
xử lý CTR. Tuy là một nước nhỏ diện tích đất không nhiều vì vậy đất nước này
đã chọn biện pháp xử lý rác thải của mình là đốt và chôn lấp. Những thành phần
rác thải không cháy được chôn lấp ngoài biển. Bãi chôn lấp rác Semakau được
xây dựng bằng cách đắp đê ngăn nước biển ở một hòn đảo nhỏ ngoài khơi
Singapore. Rác được chia làm hai loại, loại cháy được đem đốt còn loại không
Đốt Khác
Indonesia 15 60 10 2 13
Malaysia 10 50 30 5 5
Myanmar 5 80 10 - 5
Philippines 10 75 10 - 5
Singapore - - 30 70 -
Thailand 10 35 35 5 15
Việt Nam 3 70 25 - 2
(Nguồn: Báo cáo các công nghệ xử lý CTR – WB, 2008)
1.2.2. Công tác quản lý bãi chôn lấp ở Việt Nam
Ở Việt Nam hiện nay chất thải rắn được xử lý bằng nhiều cách khác nhau.
Một phần rất nhỏ được xử lý bằng phương pháp làm phân vi sinh – compost,
phương pháp đổ bỏ chất thải bằng phương pháp chôn lấp là phổ biến. Phương
pháp thiêu đốt đang áp dụng cho chất thải nguy hại y tế và một phần chất thải
công nghiệp. Như vậy có thể nói nước ta kỹ thuật xử lý chất thải rắn còn chưa
cao. Phần lớn rác thải sinh hoạt ở Việt Nam vẫn được xử lý bằng hình thức chôn
lấp. Năm 2000, Bộ Khoa học và Công nghệ và Môi trường ban hành TCVN
6696-2000 chất thải rắn – bãi chôn lấp hợp vệ sinh – yêu cầu chung về bảo vệ
môi trường đưa ra các yêu cầu về bảo vệ môi trường khi lựa chọn vị trí BCL, khi
thiết kế BCL, khi xây dựng BCL và yêu cầu bảo vệ môi trường khi khai thác vận
hành đóng cửa BCL. Khi khai thác vận hành BCL cần phải có: Các BCL chất
thải phải có quy trình vận hành, khai thác bãi được cơ quan có thẩm quyền phê
duyệt. Đối với BCL lớn và rất lớn phải có hệ thống cân, phải có sổ theo dõi thời
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
gian, khối lượng, tính chất và nguồn gốc chất thải chôn lấp. Chất thải chôn lấp
thành từng lớp riêng và ngăn cách nhau bằng các lớp đất phủ. Trước khi phủ lớp
đất ngăn cách chất thải phải được đầm, nén kỹ. Chiều dày lớn nhất của từng lớp
đất thải là 1m. Chiều dày của lớp đất phủ ngăn cách sau khi đầm nén là 0,15 –
Page 12
phải đạt 20 cm. Tỷ lệ lớp đất phủ chiếm khoảng 10 – 15% tổng thể tích rác thải
và đất phủ.
Và ba là, đất phủ phải có thành phần hạt sét > 30%, đủ ẩm để dễ đầm nén.
Lớp đất phủ phải được trải đều khắp và kín lớp chất thải và sau khi đầm nén kỹ
thì có bề dày khoảng 15 – 20 cm. Các ô chôn lấp phải được phun thuốc diệt côn
trùng (không được ở dạng dung dịch). Số lần phun sẽ căn cứ vào mức độ phát
triển của các loại côn trùng mà phun cho thích hợp nhằm hạn chế tối đa sự phát
triển của côn trùng. Các phương tiện vận chuyển CTR sau khi đổ chất thải vào
BCL cần phải được rửa sạch trước khi ra khỏi phạm vi BCL. Hệ thống thu gom
và xử lý nước thải phải thường xuyên hoạt động và được kiểm tra, duy tu, sửa
chữa và thau rửa định kỳ đảm bảo công suất thiết kế. Các hố lắng phải được nạo
vét bùn và đưa bùn đến khu xử lý thích hợp. Nước rác không được phép thải trực
tiếp ra môi trường nếu hàm lượng các chất ô nhiễm vượt quá các tiêu chuẩn quy
định (QCVN). Cho phép sử dụng tuần hoàn nước rác nguyên chất từ hệ thống thu
gom của BCL, hoặc bùn sệt phát sinh ra từ hệ thống xử lý nước rác trở lại tưới
lên BCL để tăng cường quá trình phân hủy chất thải trong những điều kiện sau:
Chiều dầy các lớp rác đang chôn lấp phải lớn hơn 4; phải áp dụng kỹ thuật tưới
đều trên bề mặt; không áp dụng cho những vùng của ô chôn lấp khi đã tiến hành
phủ lớp cuối cùng.
Tháng 12 năm 2001 Bộ Xây Dựng đã ban hành TCXDVN 261:2001 – Bãi
chôn lấp chất thải rắn – tiêu chuẩn thiết kế. Tiêu chuẩn quy định về các hạng mục
công trình phải có trong BCL, các yêu cầu thiết kế về kết cấu đáy thành BCL,
yêu cầu về hệ thống thu gom nước rỉ rác, hệ thống thu hồi khí và cách bố trí.
TCXDVN 261:2001 mới chỉ đưa ra các tiêu chuẩn thiết kế cho bãi chôn
lấp chất thải rắn. Vì vậy, năm 2004 Bộ Xây Dựng đã tiếp tục ban hành TCXDVN
320:2004 – Bãi chôn lấp chất thải nguy hại – Tiêu chuẩn thiết kế. Tiêu chuẩn quy
định các yêu cầu thiết kế, xây dựng BCL chất thải nguy hại như yêu cầu về khu
đất xây dựng, yêu cầu về khu tiền xử lý (nơi phân loại chất thải nguy hại và xử lý
trong số 98 bãi chôn lấp hiện có trong cả nước là bãi chôn lấp hợp vệ sinh. Phần
lớn các bãi chôn lấp hợp vệ sinh đều được xây dựng bằng nguồn vốn ODA,
nguồn vốn đầu tư từ ngân sách là hết sức khó khăn và hạn chế, các bãi chôn lấp
này lại luôn trong tình trạng quá tải. Trước thực tế chôn lấp chất thải diễn ra như
trên, một số tỉnh thành phố trên cả nước đã đầu tư xây dựng các nhà máy chế
biến xử lý rác thải.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
Tại Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 12 năm 2008 đã hoàn thành nhà máy
xử lý rác trên diện tích 70ha với công suất xử lý 1.200 tấn/ngày. Đây là một nhà máy
điển hình đầu tiên tại Châu Á được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa công nghệ và
quy trình xử lý rác phù hợp với các điều kiện rác thải tại địa phương.
Trong khi một số thành phố lớn đầu tư xây dựng các nhà máy lên tới hàng
trăm tỷ đồng thì tại Thừa Thiên Huế chỉ với gần 37 tỷ đồng đã có một nhà máy
xử lý theo công nghệ Việt Nam với nhiều ưu điểm. Với công nghệ này có đến
90% rác được tái chế, 10% rác còn lại sắp tới được nhà máy tận dụng sản xuất
đại trà gạch block. Theo phân tích của ông Nguyễn Huy Chương – Giám đốc nhà
máy, các nhà máy xử lý rác của nước ngoài không phù hợp trong xử lý rác thải ở
Việt Nam do được thiết kế để xử lý các loại rác đã được phân loại ngay từ đầu,
nhà máy chỉ tiếp nhận và tái chế. Còn tại nhà máy Thủy Phương, hỗn hợp rác
bước đầu được xé nhỏ, sau đó hệ thống gió ngang và gió dọc làm tơi ra và phân
thành ba loại rác khác nhau: Rác dùng để đốt, nhựa plastic, chất hữu cơ làm vi
sinh. Nhà máy Thủy Phương còn tận dụng làm phân hữu cơ. Đối với các loại rác
plastic như bao nilong, nhựa, được sản xuất ống nước, các hệ thống giao thông,
ván coppha dùng trong xây dựng. Đối với 10% rác thải còn lại sẽ được đốt để tận
thu lượng nhiệt nhằm tái sử dụng trong việc phân hủy chất plastic và sấy hệ
thống nhà máy, chất cặn bã của loại rác này được chôn lấp với số lượng không
đáng kể.
Hay tại Quảng Ninh sáng ngày 03 tháng 11 năm 2012 tại Uông Bí, Tỉnh
-N, độ kiềm, cao hơn rất
nhiều so với quy chuẩn cho phép (Nguyễn Ngọc Nông, 2011).
Bảng 1.3. Thành phần nước rò rỉ của bãi chôn lấp mới và đã hoạt động một
thời gian.
Thành phần
Giá tr
ị
, mg/l
Bãi chôn l
ấ
p ho
ạ
t đ
ộ
ng 2 năm
Bãi chôn l
ấ
p ho
ạ
t
động hơn 10 năm
Kho
ả
ng
Giá tr
ị
TSS
200÷2.000
500
100÷400
N h
ữ
u cơ
10÷800
200
80÷120
N ammoniac
10÷800
200
20÷40
NO
3
-
(nitrat)
m
1.000÷10.000
3.
000
200÷1.000
pH
4,5÷7,5
6
6,6÷7,5
Đ
ộ
c
ứ
ng
300÷10.000
3.500
200÷500
100÷200
Cl
-
200÷3.000
500
100÷400
SO
4
2
-
50÷1.000
300
20÷50
Fe t
ổ
ng
50÷1.200
60
oxy hóa chậm trong nước ngầm (oxy hòa tan thấp và lượng vi sinh vật hiếu khí
thấp). Ngoài ra các kim loại nặng và vi sinh vật có thể thấm qua đáy và thành bãi
xuống nước ngầm. Nước ngầm sẽ bị ô nhiễm không thích hợp là nguồn nước cấp
sinh hoạt cho dân xung quanh. Mặc dù nước rò rỉ được thu gom và xử lý nhưng