0 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
= = =
= = =
NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG
QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIA LÂM, HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, 2015
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ii
LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu và kết quả nghiên cứu sử dụng trong luận văn này là trung thực, nghiêm
túc chưa được công bố và sử dụng để bảo vệ một học vị nào. Mọi thông tin
trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thị Mai Hương
MỤC LỤC
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục các từ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hộp viii
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ 4
QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4
2.1.2 Vai trò, ý nghĩa, đặc trưng của quản lý dự án đầu tư xây dựng
công trình 10
2.1.3 Nội dung của quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình 13
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý dự án xây dựng cơ bản 17
2.2 Cơ sở thực tiễn 19
2.2.1 Tổng quan các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến dự án
đầu tư xây dựng công trình 19
2.2.2 Kinh nghiệm quốc tế về quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản 22
2.2.3 Kinh nghiệm của mộ số địa phương ở Việt Nam về quản lý nhà
nước các dự án đầu tư xây dựng cơ bản 24
2.2.4 Bài học rút ra cho Gia Lâm trong quản lý dự án đầu tư xây dựng
cơ bản 29
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1 Đặc điểm địa bàn 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
PHỤ LỤC 105
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CBĐT : Chuẩn bị đầu tư
CT : Chuyển tiếp
DA : Dự án
DAHT : Dự án thực hiện
ĐT&XD : Đầu tư và xây dựng
GPMB : Giải phóng mặt bảng
HĐND : Hội đồng nhân dân
KTKT : Kinh tế kỹ thuật
KT-XH : Kinh tế xã hội
NSNN : Ngân sách Nhà nước
PTQĐ : Phát triển quỹ đất
QLDA : Quản lý dự án
QLĐT : Quản lý đô thị
QLNN : Quản lý Nhà nước
SL : Số lượng
TC-KH : Tài chính – Kế hoạch
TĐC : Tái định cư
TH : Thực hiện
XD : Xây dựng
XDCB : Xây dựng cơ bản
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
trong 3 năm (2012-2014) 81
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page viii
DANH MỤC HỘP
STT Tên hộp Trang
4.1 Đánh giá của người thường xuyên sử dụng công trình về công
tác chuẩn bị đầu tư của Huyện 53
4.2 Đánh giá của đơn vị được giao làm chủ đầu tư và đơn vị quản lý
nhà nước về xây dựng trong công tác chuẩn bị đầu tư của Huyện 54
4.3 Đánh giá của cơ quan quản lý nhà nước về công tác thiết kế 57
4.4 Đánh giá của cơ quan quản lý nhà nước về công tác đấu thầu 59
4.5 Đánh giá của chủ đầu tư, chủ sử dụng và cơ quan quản lý nhà
nước về xây dựng trong công tác triển khai thi công 61
4.6 Đánh giá của chủ sử dụng trong công tác giám sát thi công của
chủ đầu tư 63
4.7 Đánh giá của chủ sử dụng trong công tác giám sát thi công của
đơn vị tư vấn giám sát 64
4.8 Đánh giá của chủ sử dụng về chất lượng công trình 67
4.9 Đánh giá về công tác thanh quyết toán 68
4.10 Đánh giá sự ảnh hưởng của đội ngũ làm công tác chuyên môn
của Huyện 83
4.11 Đánh giá sự ảnh hưởng của đội ngũ tư vấn thiết kế 84
4.12 Đánh giá sự ảnh hưởng của đội ngũ tư vấn giám sát 85
1
Trên địa bàn thành phố Hà Nội cũng như cả nước đã có một số
nghiên cứu khoa học về Quản lý dự án bằng nguồn vốn ngân sách nhà
nước như: “Quản lý nhà nước các dự án đầu tư bằng nguồn ngân sách trên
địa bàn huyện Sóc Sơn” của tác giả Nguyễn Văn Nam (2008); “Quản lý nhà
nước các dự án đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước
trên địa bàn Quận Long Biên” của tác giả Nguyễn Đắc Tuấn (2012); “Hoàn
thiện hệ thống quản lý các dự án đầu tư xây dựng trong Bộ Tổng tham mưu -
Bộ Quốc phòng” của tác giả Nguyễn Mạnh Hà (2012); “Giải pháp tăng cường
công tác quản lý các dự án đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn ngân sách nhà
nước trên địa bàn huyện phú lương - tỉnh thái nguyên” của tác giả Lèng
Hoàng Phong (2014).
Tuy nhiên ở Huyện Gia Lâm cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu
nào về quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản. Xuất phát từ đó tôi chọn nghiên
cứu đề tài: “Quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn huyện Gia
Lâm, thành phố Hà Nội”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu, đề xuất giải pháp quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản sử
dụng vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý dự án
trong xây dựng cơ bản;
- Phân tích đáng giá thực trạng, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc
quản lý dự án;
- Đề xuất các giải pháp quản lý dự án công trình xây dựng cơ bản sử
dụng vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Theo Khoản 7- điều 4- Luật đấu thầu: Dự án là tập hợp các đề xuất để
thực hiện một phần hay toàn bộ công việc nhằm đạt được mục tiêu hay yêu
cầu nào đó trong một thời gian nhất định dựa trên nguồn vốn nhất định (Quốc
Hội, 2013).
Về mặt lý thuyết dự án được hiểu là một công việc với các đặc tính
sau: Cần tới nguồn lực (Con người, máy móc, vật tư và tiền vốn); có mục tiêu
cụ thể; phải hoàn thành với thời gian và chất lượng định trước,có thời điểm
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5
khởi đầu và kết thúc rõ rang; có khối lượng công việc cần thực hiện cụ thể; có
ngân sách hạn chế và sự kết nối hợp lý của nhiều phần việc với nhau (Quốc
Hội, 2013).
Tóm lại: Dự án là nhiệm vụ mang tính chất một lần, có mục tiêu rõ
rang (trong đó bao gồm chức năng, số lượng và tiêu chuẩn chất lượng), yêu
cầu phải được hoàn thành trong một khoảng thời gian quy định, có dự toán tài
chính từ trước và nói chung không được vượt qua dự toán đó.
Như vậy, dự án là đối tượng của quản lý và là tập hợp của những hoạt
động khác nhau có liên quan tới nhau theo một logic. Một trật tự xác định
nhằm vào những mục tiêu xác định, được thực hiện bằng những nguồn lực
nhất định trong khoảng thời gian xác định. Dự án bao gồm dự án mang tính
chất đầu tư và dự án không có tính chất đầu tư.
- Dự án đầu tư xây dựng cơ bản
Theo Luật Xây dựng: “Dự án đầu tư” là một tập hợp những đề xuất có
liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật
chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải
tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian
xác định (chỉ bao gồm hoạt động đầu tư trực tiếp) (Quốc hội, 2014).
- Phân loại dự án
+ Căn cứ vào quy mô tính chất bao gồm: Dự án quan trọng Quốc gia
dự án, các nhà đầu tư phải lên kế hoạch tổ chức chỉ đạo, phối hợp, điều hành,
khống chế và định giá toàn bộ quá trình từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc dự án.
- Quản lý dự án đầu tư: là một tập hợp các biện pháp của chủ đầu tư để
quản lý quá trình đầu tư kể từ bước xác định dự án đầu tư, đến các bước thực
hiện đầu tư và bước khai thác dự án để đạt được mục tiêu đã định.
b. Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình
Khái niệm: Là sự điều hành các công việc theo một kế hoạch đã định
hoặc các công việc phát sinh xảy ra trong quá trình hoạt động xây dựng với
các điều kiện rang buộc nhằm đạt được các mục tiêu đề ra một cách tối ưu
(Nguyễn Văn Chọn 2011).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7
Các ràng buộc bao gồm: Quy phạm pháp luật (Luật, quy chuẩn, tiêu
chuẩn….); Ngân sách (nguồn vốn, tài chính); Thời gian (tiến độ thực hiện);
Không gian (Đất đai, tổng mặt bằng xây dựng…).
Quản lý một dự án xây dựng thông thường gồm bốn giai đoạn (Trịnh Quốc
Thắng, 2007)
+Giai đoạn 1: Xác định mục tiêu dự án, nội dung gồm:
- Xác định mục tiêu dự án:
Xác định đích đến của dự án là gì? Cụ thể: Giải quyết vấn đề gì? Kết
quả phải đạt được là gì?
Làm cho tất cả mọi người ở các bộ phận tham gia quản lý dự án đều
hiểu và nhất trí về mục tiêu dự án.
Các câu hỏi đặt ra:
+ Mục đích của các công việc phải thực hiện là gì?
+ Ai sẽ được hưởng lợi từ kết quả này?
+ Mục tiêu của các thành phần liên quan (chủ thể tham gia vào quá
trình quản lý) sẽ khác nhau thế nào?
- Hoàn thành mục tiêu của dự án, chuyển kết quả cho các thành phần liên
quan.
- Tổng kết, rút kinh nghiệm;
Các hình thức và hệ thống quản lý điều hành dự án đầu tư xây dựng
công trình
* Các hình thức quản lý dự án
Trong quản lý dự án nói chung, tùy quan niệm mà lựa chọn hình thức
quản lý dự án phù hợp với hoàn cảnh, không gian, thời gian của từng dự án.
+ Theo các giai đoạn của dự án có các hình thức quản lý dự án theo
từng giai đoạn như sau: Quản lý giai đoạn chuẩn bị đầu tư, Quản lý giai đoạn
thực hiện đầu tư, Quản lý giai đoạn kết thúc đầu tư đưa dự án vào khai thác,
sử dụng.
+ Theo góc độ quản lý và tổ chức (Hiệp hội các nhà quản lý dự án trên
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9
thế giới) căn cứ vào tình hình phát triển của dự án mà đưa ra các hình thức
quản lý sau: Quản lý phạm vi dự án, quản lý thời gian dự án, quản lý chất
lượng dự án, quản lý nguồn nhân lực, quản lý việc trao đổi thông tin dự án,
quản lý rủi ro, quản lý việc giao nhận dự án.
+ Theo các công việc chủ yếu của một dự án có các hình thức quản lý:
Quản lý chất lượng của dự án, quản lý tiến độ và khối lượng dự án, quản lý
chi phí của dự án, quản lý an toàn lao động, vệ sinh môi trường…
+ Theo chủ quan hay khách quan, thường sử dụng 2 hình thức đó là:
Chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án và chủ đầu tư thuê tư vấn quản lý dự án.
* Các hình thức quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình
Người quyết định đầu tư quyết định hình thức quản lý dự án theo quy
định của Luật xây dựng (Viện nghiên cứu đào tạo và quản lý, 2007).
+ Trường hợp chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án: Chủ đầu tư thành lập
Ban quản lý dự án để giúp chủ đầu tư làm đầu mối quản lý dự án. Việc giao
trong phạm vi quản trị dự án chứ không phải hoạt động quản lý nhà nước
đối với các dự án nhà nước. Các ban quản lý dự án vẫn phải chịu sự quản lý
của tất cả các cơ quan quản lý khác vì hai lý do :
Ban quản lý dự án thực hiện trách nhiệm với tư cách chủ đầu tư. Họ là
người đại diện cho nhà nước về mặt vốn đầu tư. Như vậy các ảnh hưởng khác
của dự án như tác động của môi trường, anh ninh quốc phòng, trình độ công
nghệ…, họ không có trách nhiệm và không đủ khả năng để quan tâm đến.
Nếu không có sự quản lý nhà nước đối với đối với các ban quản lý dự án này,
các dự án nhà nước trong khi theo đuổi các mục tiêu chuyên ngành có thể sẽ
làm tổn hại quốc gia ở các mặt mà họ không lường hết hoặc không quan tâm.
Mặt khác, bản thân các ban quản lý dự án cũng có thể không thực hiện
trọn vẹn trách nhiệm đại diện sở hữu vốn, từ đó sử dụng vốn sai mục đích,
kém hiệu quả, thậm chí tham ô, chiếm đoạt vốn nhà nước.
Do vậy quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư từ nguồn ngân sách
nhằm thực hiện các mục tiêu sau:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 11
+ Sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả nguồn vốn, tài nguyên thiên nhiên,
đất đai, lao động và các tiềm năng khác, bảo vệ môi trường sinh thái, chống
tham ô lãng phí trong sử dụng vốn đầu tư và khai thác các kết quả của đầu tư.
+ Đảm bảo cho quá trình đầu tư, xây dựng công trình đúng qui hoạch và
thiết kế được duyệt, đảm bảo bền vững và mỹ quan, đảm bảo chất lượng và
thời hạn xây dựng với chi phí hợp lý. Ngăn ngừa các ảnh hưởng tiêu cực do
việc sử dụng đầu vào của các chủ dự án không đúng trên lợi ích toàn diện, lâu
dài của đất nước; Ngăn ngừa các ảnh hưởng tiêu cực khác có thể gây ra như
các công trình xây dựng được tạo ra bởi dự án cảnh quan, thuần phong mỹ tục,
anh ninh quốc gia. Hỗ trợ các ban quản lý dự án thực hiện đúng vai trò chức
năng nhiệm vụ của người đại diện sở hữu nhà nước trong các dự án. Kiểm tra,
kiểm soát ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực trong việc sử dụng vốn nhà nước
lực, giúp cho các nhân lực có thể phát huy đến mức cao nhất năng lực của họ.
Tóm lại: Quản lý dự án ngày càng trở nên quan trọng và có ý nghĩa
trong đời sống kinh tế. Trong xã hội hiện đại, nếu không nắm vững phương
pháp quản lý dự án sẽ gây tổn thất lớn. Để tránh được những tổn thất này và
giành được những thành công trong việc quản lý dự án thì trước khi thực hiện
dự án, phải lên kế hoạch một cách tỉ mỉ, chu đáo.
c. Nguyên tắc quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình
Việc đầu tư xây dựng công trình phải phù hợp với Quy hoạch tổng thể
phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch ngành, quy hoạch xây dựng, bảo đảm an
ninh, an toàn xã hội và an toàn môi trường, phù hợp với các quy định của
pháp luật về đất đai và pháp luật khác có liên quan. Hoạt động QLNN về đầu
tư XDCB phải tuân theo những nguyên tắc riêng phản ánh tư tưởng chỉ đạo
riêng đối với quản lý đầu tư XDCB. Những nguyên tắc đó là:
- Thứ nhất: Phân định rõ chức năng quản lý của nhà nước và phân cấp
về quản lý đầu tư và xây dựng phù hợp với từng loại nguồn vốn và chủ đầu
tư. Thực hiện quản lý đầu tư theo dự án, quy hoạch và pháp luật.
- Thứ hai: Dự án đầu tư phải được quản lý chặt chẽ thực hiện đúng trình
tự ĐT&XD, gồm 3 giai đoạn: Chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và kết thúc xây
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13
dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng.
- Thứ ba: Phân định rõ chức năng QLNN với quản lý sản xuất kinh doanh.
Quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan QLNN, chủ đầu tư, các tổ chức tư vấn,
các doanh nghiệp xây dựng, cung ứng thiết bị trong quá tŕnh ĐT&XD.
2.1.3 Nội dung của quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình
Nội dung công tác quản lý dự án bao gồm ba công việc chính (Bùi
Mạnh Hùng, 2012) là:
a. Quản lý dự án trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư
+ Lập báo cáo đầu tư: Nội dung của báo cáo đầu tư bao gồm: Sự cần
trường, Sở giáo dục đào tạo, Phòng TNMT, Phòng GD ĐT, đơn vị sử
dụng…). Đơn vị đầu mối có trách nhiệm tổ chức thẩm định dự án, tổng
hợp ý kiến góp ý của các cơ quan liên quan và kết quả thẩm định thiết kế
cơ sở để đánh giá, nhận xét, trình người có thẩm quyền xem xét, phê
duyệt dự án và quyết định đầu tư (Bùi Mạnh Hùng, 2012).
+ Điều chỉnh dự án đầu tư: Dự án đầu tư xây dựng phải được điều
chỉnh khi xuất hiện các trường hợp sau:
- Bị ảnh hưởng bởi thiên tai, địch họa và các yếu tố bất khả kháng.
- Xuất hiện các yếu tố đem lại hiệu quả cao hơn cho dự án;
- Khi quy hoạch thay đổi trực tiếp ảnh hưởng đến địa điểm, quy mô,
tính chất dự án
- Khi có biến động bất thường về nguyên liệu, nhiên liệu. Khi có sự
thay đổi về chính sách tiền lương…
b. Quản lý việc thực hiện dự án đầu tư
- Các chủ thể liên quan đến hoạt động quản lý dự án bao gồm: Chủ đầu
tư; Kho bạc nhà nước (ngân hàng); Nhà thầu: khảo sát, thiết kế, xây lắp, giám
sát, cung ứng vật tư, thiết bị.
- Nội dung công tác quản lý thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình
được quy định như sau:
+ Quản lý việc thiết kế kỹ thuật và lập dự toán, tổng dự toán công trình:
Tùy theo tính chất, quy mô và mức độ phức tạp của công trình cụ thể,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 15
thiết kế xây dựng có thể thực hiện theo nhiều bước. Nội dung cơ bản của từng
bước trong thiết kế xây dựng công trình bao gồm: Phương án công nghệ; công
năng sử dụng; phương án kiến trúc; phương án kết cấu, kỹ thuật; phương án
phòng chống cháy nổ; giải pháp bảo vệ môi trường; dự toán và tổng dự toán
chi phí xây dựng công trình.
+ Quản lý việc thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán, tổng dự toán xây
động, bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ cho từng công việc;
Quản lý việc điều chỉnh công việc trong hợp đồng và các công việc phát
sinh trong hợp đồng (nếu có).
+ Quản lý thi công xây dựng công trình (quản lý về chất lượng; quản lý
tiến độ; quản lý khối lượng; quản lý vệ sinh môi trường, quản lý nhân lực và
quản lý thông tin).
- Quản lý chất lượng: Được thực hiện theo quy định của Nghị định về
quản lý chất lượng công trình. Nội dung của quản lý chất lượng công trình
bao gồm các hoạt động quản lý chất lượng của nhà thầu; giám sát thi công
công trình và nghiệm thu công trình xây dựng của chủ đầu tư; Giám sát tác
giả của nhà thầu thiết kế.
- Quản lý tiến độ xây dựng: Công trình xây dựng trước khi triển khai
phải được lập tiến độ thi công xây dựng. Tiến độ thi công phải phù hợp với
tổng tiến độ đã phê duyệt của dự án. Chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng,
tư vấn giám sát và các đơn vị liên quan có trách nhiệm theo dõi, giám sát
tiến độ thi công.
- Quản lý khối lượng: Việc thi công xây dựng phải được thực hiện
theo khối lượng thiết kế được duyệt. Khối lượng thi công xây dựng phải
được tính toán, xác nhận giữa chủ đầu tư, nhà thầu thi công, tư vấn giám
sát theo thời gian hoặc theo giai đoạn thi công và phải được đối chiếu với
thiết kế làm cơ sở nghiệm thu, thanh toán.
- Quản lý an toàn lao động: Nhà thầu thi công xây dựng phải lập biện
pháp an toàn cho người và công trình trên công trường xây dựng. Các biện
pháp an toàn, nội quy về an toàn phải được thể hiện công khai trên công