BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THU THỦY TĂNG CƯỜNG KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN
TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC TỈNH BẮC GIANG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ: 60.34.04.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN TUẤN SƠN
HÀ NỘI, NĂM 2015
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Nội
kinh tế và PTNT và các thầy cô trong Bộ môn Kế hoạch Đầu tư đã tận tình
hướng dẫn, đóng góp ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí cán bộ công chức công tác tại
Kho bạc Nhà nước tỉnh Bắc Giang đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình
nghiên cứu đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và những người thân đã động
viên, giúp đỡ tôi thực hiện luận văn này.
Bắc Giang, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn Nguyễn Thu Thủy
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iv
MỤC LỤC
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục viết tắt vii
Danh mục bảng viii
Danh mục sơ đồ và hình ix
3.1.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế-xã hội tỉnh Bắc Giang 38
3.1.2 Dân cư và lao động 39
3.1.3 Tình hình phát triển kinh tế- xã hội 40
3.1.4 Đặc điểm chi thường xuyên của KBNN Bắc Giang thời gian qua 41
3.2 Phương pháp nghiên cứu 42
3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu 42
3.2.2 Phương pháp thu thập tài liệu và số liệu 42
3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 42
3.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 43
3.2.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 43
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44
4.1 Thực trạng công tác kiểm soát chi thường xuyên của KBNN Bắc
Giang giai đoạn 2012-2014 44
4.1.1 Quá trình hình thành và phát triển KBNN Bắc Giang 44
4.1.2 Thực trạng bộ máy kiểm soát chi thường xuyên trên địa bàn tỉnh
Bắc Giang 48
4.1.3 Kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà
nước tỉnh Bắc Giang 53
4.1.4 Quy trình kiểm soát chi thường xuyên ngân sách tại KBNN Bắc Giang 55
4.1.5 Thực trạng quản lý chấp hành các chế độ, tiêu chuẩn, định mức của
hồ sơ chứng từ chi thường xuyên qua KBNN Bắc Giang 56
4.1.6 Những vấn đề rút ra qua công tác kiểm soát chi thường xuyên của
KBNN tỉnh Bắc Giang 81
4.1.7 Đánh giá của các đơn vị sử dụng Ngân sách về kiểm soát chi thường
xuyên Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Bắc Giang 84
4.1.8 Đánh giá chung công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách tỉnh
tại Kho bạc Nhà nước Bắc Giang 85
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CNH Công nghiệp hoá
CNTT Công nghệ thông tin
HĐH Hiện đại hoá
HĐND Hội đồng nhân dân
KBNN Kho bạc Nhà nước
KH Kế hoạch
KTXH Kinh tế xã hội
NSNN Ngân sách Nhà Nước
NSTW Ngân sách trung ương
MLNS Mục lục ngân sách
NST Ngân sách tỉnh
TABMIS Hệ thống thông tin quản lý Ngân sách và Kho bạc
UBND Uỷ ban nhân dân
XHCN Xã hội chủ nghĩa
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page viii
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT Tên bảng Trang
3.1: Tốc độ phát triển kinh tế của tỉnh Bắc Giang từ năm 2012-2014 40
4.1: Số lượng đơn vị và tài khoản giao dịch với KBNN tỉnh Bắc Giang 47
4.2: Tổng thu ngân sách địa phương giai đoạn 2012-2014 47
4.3: Tổng chi ngân sách địa phương giai đoạn 2012-2014 48
4.4: Tình hình nhân sự của KBNN tỉnh Bắc Giang giai đoạn năm 2012 - 2014 51
4.5. Thực trạng đội ngũ cán bộ kế toán ngân sách các đơn vị giao dịch qua
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong những năm gần đây, nhất là từ năm 2008 đến nay, lạm phát và kiểm
soát lạm phát ở Việt nam đang là vấn đề nổi lên được nhiều người quan tâm. Lạm
phát đang ngày một rõ nét hơn tại Việt Nam mặc dù Chính phủ cố đưa ra biện pháp
thắt chặt tiền tệ cũng như kiểm soát chi tiêu ngân sách để kiềm chế lạm phát. Theo
Tổng cục Thống Kê đánh giá mức lạm phát của năm 2008 là 22%; năm 2010 là
11,75%, năm 2014 dự kiến là 7% đã và đang đặt ra đòi hỏi Chính phủ phải làm sao
để kiềm chế lạm phát, đưa tỷ lệ lạm phát xuống mức có thể chấp nhận được.
Mặc dù nền kinh tế đã đạt được những kết quả khá quan trọng trong
những năm qua, nhiều vấn đề kinh tế - xã hội được giải quyết, song bước vào
năm 2014, chúng ta đang đối mặt với nguy cơ lạm phát cao do giá cả thế giới
tăng mạnh trong những tháng đầu năm. Trước tình hình nền kinh tế đang đối mặt
với thách thức tỷ lệ lạm phát cao, Nghị quyết số 10/2008/NQ-CP ngày 17/4/2008
của Chính phủ về các biện pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo
đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững; Nghị quyết số 11/2011/NQ-CP
ngày 24 tháng 02 năm 2011 của Chính phủ về một số giải pháp chủ yếu tập trung
kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội. Ngoài ra,
Chính phủ đã đưa ra nhiều nhóm giải pháp; trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến
nhóm giải pháp liên quan đến chi tiêu công, đó là: kiểm soát chặt chẽ, nâng cao
hiệu quả chi tiêu công, tiết kiệm chi thường xuyên và tiết kiệm trong sản xuất và
tiêu dùng, các đơn vị chủ động sử dụng dự toán đã được giao, không bổ sung chi
ngân sách ngoài dự toán. Kết quả thực hiện khẩn trương và đồng bộ các nhóm
giải pháp, trực tiếp nhất là các biện pháp quyết liệt trong thắt chặt chi tiêu công
bạch, từng bước phù hợp với các thông lệ quốc tế.
Qua 24 năm thực hiện nhiệm vụ này, công tác kiểm soát chi thường xuyên
ở KBNN tỉnh Bắc Giang đã có những chuyển biến tích cực, ngày một chặt chẽ và
đúng mục đích cả về quy mô và chất lượng. Đã phát hiện và ngăn chặn kịp thời
nhiều khoản chi sai chế độ, chi không đúng tiêu chuẩn, sai định mức. Từ đó góp
phần quan trọng cho việc sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính của đất nước.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3
Mặc dù vậy, quá trình thực hiện kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua
KBNN tỉnh Bắc Giang vẫn còn những tồn tại, hạn chế, bất cập như: công tác
kiểm soát chi thường xuyên chưa thật sự hiệu quả, vẫn còn tình trạng lãng phí
NSNN; chưa tạo sự chủ động cho các đơn vị quan hệ ngân sách trong sử dụng
kinh phí ngân sách, mặc dù đã có cơ chế khoán, tự chủ, tự chịu trách nhiệm sử
dụng biên chế và kinh phí hoạt động; việc phân công nhiệm vụ kiểm soát chi
trong KBNN Bắc Giang còn bất cập, chưa tạo điều kiện tốt nhất cho khách hàng,
quy trình còn rườm rà, gây phiền phức. Bên cạnh đó năng lực kiểm soát chi của
KBNN chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới, cải cách thủ tục hành chính.
Đồng thời, công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN Bắc Giang
chưa đáp ứng yêu cầu quản lý và cải cách tài chính công trong xu thế mở cửa và
hội nhập quốc tế.
Xuất phát từ thực tế trên đây chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Tăng
cường kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Bắc Giang ”
nhằm đề xuất các giải pháp khắc phục những tồn tại, hạn chế trong công tác kiểm
soát chi thường xuyên qua KBNN hiện nay, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, bảo
đảm mức bội chi NSNN và tỷ lệ lạm phát theo mục tiêu đề ra của Chính phủ.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Thông qua việc đánh giá thực trạng và những tồn tại, hạn chế của công tác
- Giải pháp tăng cường kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước
qua KBNN tỉnh Bắc Giang góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện tốt công tác
kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách tại KBNN tỉnh Bắc Giang đáp ứng
được yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý, điều hành NSNN, phù hợp với
quá trình cải cách tài chính công.
• Phạm vi về không gian
Nghiên cứu được thực hiện tại Kho bạc Nhà nước huyện tỉnh Bắc Giang.
• Phạm vi về thời gian
Đề tài được thực hiện từ tháng 5/2014 đến tháng 5/2015.
Số liệu thu thập phục vụ nghiên cứu là những số liệu về kiểm soát chi
thường xuyên Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước tỉnh Bắc Giang từ
năm 2012 đến năm 2014.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu này tập trung trả lời các câu hỏi sau đây liên quan đến công
tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN tỉnh Bắc Giang:
1) Công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN tỉnh Bắc
Giang trong thời gian qua được thực hiện như thế nào? Việc thực hiện đó có
đúng theo quy định, chế độ đã được ban hành hay chưa?
2) Những tồn tại, hạn chế chủ yếu từ thực hiện kiểm soát chi thường
xuyên NSNN qua KBNN tỉnh Bắc Giang thời gian qua? Nguyên nhân của những
tồn tại hạn chế đó là gì?
3) Giải pháp nào cần đề xuất nhằm tăng cường thực hiện công tác kiểm soát
chi thường xuyên Ngân sách qua KBNN tỉnh Bắc Giang thời gian tới?
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 6
theo qui định của Bộ tài chính.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7
- NSNN bao gồm Ngân sách trung ương và Ngân sách địa phương. Ngân sách
địa phương bao gồm Ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân
và Ủy ban nhân dân ( Điều 5 Nghị định số 60/2003/NĐ-CP)
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức hệ thống Ngân sách Nhà nước
(Nguồn: Luật Ngân sách Nhà nước số 01/2002/QH ngày 16 tháng 12 năm 2002)
2.1.1.2 Chi ngân sách Nhà nước
a) Khái niệm chi NSNN
Chi NSNN là quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm trang trải cho các
chi phí của bộ máy nhà nước và thực hiện các mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội, an
ninh,quốc phòng. Theo Phạm Trọng Dũng và Đinh Xuân Hạng (2014) "Chi NSNN là
việc phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng của Nhà
nước theo những nguyên tắc nhất định.”
b) Đặc điểm chi ngân sách Nhà nước
Chi NSNN phải gắn chặt với bộ máy quản lý Nhà nước và những nhiệm vụ
kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà nước đảm nhiệm trước mỗi một Quốc gia. Vì vậy,
vụ kinh tế, chính trị, xã hội của một quốc gia. Ở nước ta Quốc hội là cơ quan quyền
lực cao nhất để quyết định nhiệm vụ cũng như quyết định cơ cấu chi NSNN.
Hiệu quả các khoản chi NSNN phải được xem xét toàn diện dựa vào kế
hoạch hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội và các khoản chi NSNN đảm nhiệm.
Các khoản chi NSNN mang tính không hoàn trả trực tiếp.
Các khoản chi NSNN gắn chặt với sự vận động của các phạm trù kinh tế
khác như tiền lương, giá cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái, các phạm trù thuộc lĩnh vực
tiền tệ. Nhận thức rõ mối quan hệ này có ý nghĩa quan trọng trong việc kết hợp chặt
chẽ giữa chính sách Ngân sách với chính sách tiền tệ, thu nhập trong quá trình thực
hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô (Điều 15 luật NSNN năm 2002).
c) Phân loại chi ngân sách Nhà nước
Tuỳ thuộc vào vai trò của Nhà nước trong quản lý chính trị, kinh tế, xã hội ở
mỗi thời kỳ lịch sử mà chi NSNN có những nội dung và cơ cấu khác nhau. Do tính
chất đa dạng và phong phú của các khoản chi nên việc phân loại nội dung chi
NSNN để giúp cho công tác quản lý cũng như định hướng chi NSNN là rất cần
thiết. Phân loại các khoản chi NSNN là việc sắp xếp các khoản chi NSNN theo
những tiêu thức, tiêu chí nhất định vào các nhóm, các loại chi (Điều 31 luật NSNN
năm 2002) cụ thể như sau:
- Theo mục đích KT-XH của các khoản chi: Chi NSNN được chia thành chi
tiêu dùng và chi đầu tư phát triển.
- Theo tính chất các khoản chi: Chi NSNN được chia thành chi cho y tế; chi
giáo dục; chi phúc lợi; chi quản lý Nhà nước; chi đầu tư kinh tế.
- Theo chức năng của Nhà nước: Chi NSNN được chia thành chi nghiệp vụ
và chi phát triển.
- Theo tính chất pháp lý: Chi NSNN được chia thành các khoản chi theo luật
định; các khoản chi đã được cam kết; các khoản chi có thể điều chỉnh.
- Theo yếu tố các khoản chi: chi NSNN được chia thành chi đầu tư; chi
thường xuyên và chi khác, bao gồm:
Chi đầu tư phát triển, bao gồm: Chi về đầu tư xây dựng các công trình kết cấu
2.1.2 Kiểm soát chi thường xuyên ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước
2.1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua Kho bạc
Nhà nước
a) Khái niệm
Chi thường xuyên là các khoản chi có thời hạn tác động ngắn thường dưới một
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10
năm chủ yếu phục vụ cho chức năng quản lý, điều hành xã hội một cách thường
xuyên của Nhà nước (Theo Phạm Trọng Dũng và Đinh Xuân Hạng (2014).
b) Đặc điểm kiểm soát chi thường xuyên NSNN
Kiểm soát chi thường xuyên NSNN là việc các cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền thực hiện thẩm định, kiểm tra, kiểm soát các khoản chi ngân sách tỉnh diễn ra
tại tất cả các khâu của quá trình chi ngân sách, nhằm đảm bảo mỗi khoản chi ngân
sách đều được dự toán từ trước, được thực hiện đúng dự toán được duyệt, đúng chế
độ, định mức, tiêu chuẩn quy định và có hiệu quả kinh tế - xã hội (Thông tư số
60/2003/TT – BTC). Vì vậy, kiểm soát chi thường xuyên ngân sách tỉnh có ý nghĩa
quan trọng sau:
Một là, kiểm soát chi thường xuyên gắn liền với những khoản chi thường
xuyên nên phần lớn công tác kiểm soát chi diễn ra đều đặn trong năm, ít có tính thời
vụ, ngoại trừ những khoản chi mua sắm tài sản, sửa chữa lớn tài sản cố định
Hai là, kiểm soát chi thường xuyên diễn ra trên nhiều lĩnh vực nội dung nên
rất đa dạng và phức tạp. Chính vì thế, những quy định trong kiểm soát chi thường
xuyên cũng hết sức phong phú, với từng lĩnh vực chi có những quy định riêng, từng
nội dung, từng tính chất nguồn kinh phí cũng có những tiêu chuẩn, định mức riêng
Ba là, kiểm soát chi thường xuyên bị áp lực lớn về mặt thời gian vì phần lớn
những khoản chi thường xuyên đều mang tính cấp thiết như: chi về tiền lương, tiền
công, học bổng gắn với cuộc sống hàng ngày của cán bộ, công chức, học sinh,
2.1.2.3 Vai trò và sự cần thiết phải thực hiện kiểm soát chi NSNN qua KBNN
Tại điều 56 Luật NSNN (sửa đổi) đã quy định: “Căn cứ vào dự toán NSNN
được giao và yêu cầu nhiệm vụ, thủ trưởng ĐVSDNS quyết định chi gửi KBNN,
KBNN kiểm tra tính hợp pháp của các tài liệu cần thiết theo quy định của Pháp
luật và thực hiện chi ngân sách khi có đủ các điều kiện quy định”; đồng thời, tại
điểm 1, điều 55 Nghị định 60/2003/NĐ-CP cũng quy định “Các ĐVQHNS và các
tổ chức được ngân sách hỗ trợ thường xuyên phải mở tài khoản tại KBNN, chịu sự
kiểm tra, kiểm soát của cơ quan tài chính và KBNN trong quá trình thanh toán, sử
dụng kinh phí”.
Trên cơ sở Luật của Quốc hội, Nghị định của Chính phủ, Bộ Tài chính ban
hành Thông tư số 79/2003/TT-BTC ngày 13/8/2003 hướng dẫn chế độ quản lý, cấp
phát thanh toán các kiểm soát chi NSNN qua KBNN; trong đó, có một số đặc điểm
kiểm soát chi NSNN theo dự toán, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu của Nhà
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12
nước. Kiểm soát chi NSNN là trách nhiệm của các ngành, các cấp, các cơ quan, đơn
vị có liên quan đến việc kiểm soát và sử dụng NSNN, trong đó hệ thống KBNN giữ
vai trò đặc biệt quan trọng, trực tiếp kiểm soát và chịu trách nhiệm về kết quả kiểm
soát của mình. Luật NSNN đã quy định mọi khoản chi của NSNN chỉ được thực
hiện khi có đủ điều kiện quy định, đồng thời theo nguyên tắc thanh toán trực tiếp
cho đơn vị sử dụng ngân sách và các tổ chức được NSNN hỗ trợ thường xuyên, phải
mở tài khoản tại KBNN, chịu sự kiểm tra của cơ quan Tài chính và KBNN trong
quá trình thanh toán và sử dụng kinh phí.
Như vậy, KBNN là “ Trạm gác và kiểm soát cuối cùng”, được Nhà nước giao
nhiệm vụ KSC trước khi đồng vốn của Nhà nước ra khỏi quỹ NSNN.
Thực hiện nhiệm vụ nói trên, KBNN chủ động bố trí ngân quỹ để chi trả đầy
đủ kịp thời cho các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách theo theo yêu cầu trên cơ sở
dự toán ngân sách đã được duyệt và tồn quỹ ngân sách các cấp. Để thực hiên việc
quá trình quản lý, sử dụng công quỹ quốc gia được chặt chẽ, đặc biệt là việc mua
sắm, sữa chữa, xây dựng…Nhiệm vụ kiểm soát chi thường xuyên được giao cho
KBNN là thực sự cần thiết.
2.1.2.4 Nguyên tắc kiểm soát chi thường xuyên NSNN
Căn cứ vào Thông tư 161/2012/TT-BTC ngày 02/10/2012 của Bộ Tài
chính quy định chế độ kiểm soát, thanh toán các khoản chi Ngân sách Nhà
nước qua Kho bạc Nhà nước được thực hiện như sau:
Về nguyên tắc:
- Tất cả các khoản chi NSNN phải được kiểm soát trước, trong và sau quá
trình cấp phát thanh toán, bao gồm:
+ Kiểm soát trước khi chi là việc soát xét các hồ sơ, thủ tục trước khi trả tiền
cho người cung cấp hàng hoá, dịch vụ, đảm bảo các khoản chi đúng mục đích, đúng
đối tượng và hiệu quả. Đây là hình thức kiểm soát quan trọng nhất, nó giúp cho việc
ngăn ngừa và loại trừ được các khoản chi không đúng chế độ, định mức, tiêu chuẩn
ngay trước khi chi tiền ra khỏi quỹ NSNN.
+ Kiểm soát trong khi chi là kiểm soát quá trình thanh toán, đảm bảo các khoản
chi được chi trả cho đúng người cung cấp hàng hoá, dịch vụ. Nguyên tắc trả tiền là đã
hoàn thành nghiệp vụ phát sinh tại đơn vị sử dụng NSNN.
+ Kiểm soát sau khi chi là việc hậu kiểm thông qua các báo cáo kế toán,
quyết toán của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, đặc biệt là cơ quan kiểm toán,
thanh tra tài chính. Nếu phát hiện chi sai, cơ quan có thẩm quyền sẽ có quyết định
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14
xử lý, thu hồi các khoản chi không đúng chế độ đã quy định.
- Các đơn vị phải mở tài khoản tại KBNN huyện nơi giao dịch để tiếp nhận
kinh phí NSNN cấp. Theo quy định có 2 loại tài khoản cho các đơn vị sử dụng đó là
tài khoản dự toán (mở đối với đơn vị được giao dự toán) và tài khoản tiền gửi đơn
vị dự toán (mở đối với đơn vị được tiếp nhận kinh phí từ đơn vị cấp trên như các
hoãn được; chi ứng trước dự toán năm sau. Việc phân bổ và giao dự toán cho các
đơn vị sử dụng NSNN được thực hiện như sau:
+ Từ năm 2004 - 2007: Dự toán chi thường xuyên của các đơn vị sử dụng
NSNN được giao chi tiết theo 4 nhóm mục chi chủ yếu bao gồm: chi thanh toán cho
cá nhân; chi nghiệp vụ chuyên môn; chi mua sắm sửa chữa; chi khác. Việc giao dự
toán theo 4 nhóm mục đã tạo sự chủ động cho các đơn vị, hạn chế được cơ bản tình
trạng bổ sung, điều chỉnh dự toán như trước, mặt khác cơ quan Kho bạc Nhà nước
cũng tiến hành thực hiện kiểm soát, thanh toán theo 4 nhóm mục chi và nhu cầu chi
hàng quý do đơn vị lập gửi đến.
+ Từ năm 2008 trở đi: Dự toán chi thường xuyên của các đơn vị sử dụng
NSNN được giao chi tiết đến đến loại, khoản của MLNSNN (không phân bổ chi tiết
theo các nhóm mục chi cho từng quý trong năm).
- Thời gian gửi dự toán đến cơ quan KBNN nơi giao dịch của các đơn vị sử dụng
NSNN chậm nhất là ngày 31/12 của năm trước để KBNN có căn cứ kiểm soát chi trả.
- Trường hợp đầu năm chưa có dự toán, KBNN thực hiện tạm cấp theo đề
nghị của đơn vị sử dụng NSNN cho một số khoản chi như lương, chi nghiệp vụ và
chi công tác phí; các khoản chi cần thiết để đảm bảo hoạt động của bộ máy, trừ mua
sắm, sửa chữa; chi các dự án chuyển tiếp thuộc chương trình mục tiêu quốc gia; chi
bổ sung cân đối Ngân sách. Ngay sau khi dự toán được phân bổ, KBNN thu hồi
kinh phí tạm cấp bằng cách trừ vào các mục chi tương ứng trong dự toán của đơn vị.
Về quy trình kiểm soát, thanh toán:
Yêu cầu về hồ sơ chứng từ
- Đối với các khoản chi thanh toán cho cá nhân, bao gồm: Bảng đăng ký biên
chế quỹ lương được duyệt; danh sách những người hưởng lương; bảng tăng, giảm
biên chế quỹ tiền lương được duyệt (nếu có); bảng đăng ký học bổng, sinh hoạt phí
được duyệt; bảng tăng, giảm học bổng, sinh hoạt phí được duyệt (nếu có); các
khoản tiền lương, tiền công, ghi trong hợp đồng lao động thuê ngoài.
- Đối với các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn, bao gồm: các hồ sơ, chứng
từ có liên quan.
độ chi, thì KBNN thực hiện đối chiếu với các tiêu chuẩn, định mức, chế độ chi tiêu,
đảm bảo số đề nghị thanh toán không được vượt quá tiêu chuẩn chế độ chi cho phép.
+ Kiểm tra các yếu tố hạch toán: tuỳ theo nội dung chi thì đơn vị phải hạch