A
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
TRẦN THỊ KIM NGỌC
MSSV: 6106412
NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT
TRONG BẮC HÀNH TẠP LỤC CỦA NGUYỄN DU
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ Văn
Cán bộ hướng dẫn: ThS. GV. TẠ ĐỨC TÚ
Cần Thơ, năm 2013 1
ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT TRONG
TẬP THƠ BẮC HÀNH TẠP LỤC CỦA NGUYỄN DU
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề
3. Mục đích nghiên cứu
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG
1.1 Cuộc đời của Nguyễn Du
1.2 Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du
1.3 Giới thiệu về tập thơ Bắc hành tạp lục
CHƯƠNG 2. NỘI DUNG CỦA TẬP THƠ BẮC HÀNH TẠP LỤC
2.1 Hoài ni
Vì những lí do trên, chúng tôi đã chọn đề tài này để nghiên cứu.
2. Lịch sử vấn đề
Nguyễn Du là đại thi hào của dân tộc, ông đã được thế giới công nhận là danh
nhân văn hóa thế giới. Ông được cả thế giới biết đến qua kiệt tác Truyện Kiều. Truyện
Kiều được rất nhiều các nhà nghiên cứu quan tâm, trong khi thơ chữ Hán chưa nhận
được sự quan tâm đúng mực. Chủ yếu là những bài viết ngắn đăng trên các tạp chí và
những công trình nghiên cứu khác có đề cập đế
n như: Tâm tình Nguyễn Du qua một số
bài thơ chữ Hán của Hoài Thanh (In trên Tạp chí Văn nghệ, tháng 3-1960), Con người
Nguyễn Du trong thơ chữ Hán của Xuân Diệu (In trong Ba thi hào dân tộc, NXB
Thanh niên, 2000), Nguyễn Du và thế giới nhân vật của ông trong thơ chữ Hán của
Nguyễn Huệ Chi (Tạp chí Văn học, tháng 11-1966), Tâm sự của Nguyễn Du qua thơ
chữ Hán của Trương Chính (Tuyển t
ập Trương Chính, NXB Văn học, 1997), Nguyễn
Du trong những bài thơ chữ Hán của Đào Xuân Quý (Báo Văn nghệ, tháng 11-1965),
Thơ chữ Hán của Nguyễn Du của Mai Quốc Liên (Lời nói đầu cuốn Nguyễn Du toàn
tập, tập I, NXB Văn học, 1996).
Trong Tâm tình Nguyễn Du qua một số bài thơ chữ Hán, Hoài Thanh trình
bày quan điểm của ông về thái độ của Nguyễn Du đối với các triều đạ
i. Theo ông,
Nguyễn Du luôn nhớ tiếc nhà Lê, nhưng Nguyễn Du hiểu vận mệnh nhà Lê đã hết cho
3
nên ông thật thà đi theo nhà Nguyễn. Còn thái độ của Nguyễn Du đối với Tây Sơn thì
ông vẫn chưa lí giải được.
Trong bài viết này, Hoài Thanh cho rằng Nguyễn Du “không bằng lòng với
toàn bộ thời cuộc lúc bấy giờ”[3; tr. 39] khi Nguyễn Du nhìn thấy hai mặt trái ngược
của cuộc sống, kẻ làm quan thì ăn không hết, dân nghèo không có cái ăn, không biết
chết đói khi nào. Ngoài ra, Nguyễn Du còn thấy được, đâu đâu cũng là “Thượng
quan”, đâu đâu c
4
lạc như Khuất Nguyên, Hàn Tín hay chỉ là một người dân thường nghèo đói như người
già hát rong, người mẹ bên đường cái; tất nhiên đại bộ phận trong những nạn nhân
này là những người dân lao động cùng cực” [3; tr. 128]. Nguyễn Du không bằng lòng
với thực tại thối nát, bất công ấy, nên ông lúc nào cũng u uất, buồn thảm.
Trong Thơ chữ Hán của Nguyễn Du, Mai Quốc Liên cho rằng thơ chữ Hán
Nguyễn Du không phải chỉ
để bổ sung tư liệu nghiên cứu về cuộc đời nhà thơ, mà đó
là những áng văn chương nghệ thuật trác tuyệt, chúng ta cần nghiên cứu nó như là một
tác phẩm nghệ thuật như những tác phẩm chữ Hán khác của ông cha ta. Về phương
diện nghệ thuật, Nguyễn Du đã nhanh chóng đạt đến sự thành thục sâu sắc trong việc
viết những câu thơ chữ Hán của chính mình.
Các nhà nghiên cứu đã
đưa ra những ý kiến khác nhau để lí giải những vấn đề
mà ta chưa khẳng định được một cách sâu sắc và thuyết phục. Tuy nhiên, những ý kiến
này chỉ mới dừng lại ở những bài viết ngắn đăng trên các tạp chí… Thiết nghĩ các nhà
nghiên cứu cần quan tâm hơn nữa, thực hiện những công trình nghiên cứu đầy đủ và
toàn phần về Nguyễn Du để “ba trăm năm sau, Nguyễn Du vẫn còn có người tri kỉ”.
3. Mục đích nghiên cứu
Nhắc đến Nguyễn Du, người ta nghĩ ngay đến Truyện Kiều. Có thể nói,
Truyện Kiều đã bao trùm tất cả các sáng tác của Nguyễn Du. Người ta nói đến Truyện
Kiều, nghiên cứu Truyện Kiều, thậm chí xuất hiện nhiều hình thức sinh hoạt dân gian
như lẩy Kiều, bói Kiều, vịnh Kiều. Sức ảnh hưởng của Truyện Kiều lấn át tất cả các
tác phẩm khác. Cũng có thể, Truyện Kiều được viết bằng chữ Nôm, người bình dân
nghe đều có thể hiểu được cho nên Truyện Kiều được phổ biến rộng rãi hơn. Sức ảnh
hưởng của Truyện Kiều quá lớn làm không ít người quên đi Nguyễn Du còn có những
tập thơ chữ Hán. Tâm hồn của Nguyễn Du được bộc lộ qua những tập thơ này. Nhưng
nó v
ẫn chưa được quan tâm một cách xứng đáng với giá trị của nó. Chúng tôi chọn đề
lại để khái quát thành những nội dung cơ bản.
Phương pháp chứng minh: dẫn ra các câu, đoạn, các ý kiến hay nhận định của
các nhà phê bình để làm tăng tính thuyết phục cho các lí lẽ.
6
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG
1.1 Cuộc đời của Nguyễn Du
Nguyễn Du sinh ra trong thời kì biến động dữ dội của xã hội phong kiến.
Triều Lê suy tàn, chúa Trịnh nắm quyền, rồi đến sự hưng thịnh ngắn ngủi của triều
Tây Sơn. Cuối cùng, Nguyễn Ánh lập nên nhà Nguyễn. Tất cả chỉ thay đổi trong vòng
mấy mươi năm, một thời gian quá ngắn để con người ta có thể thích nghi được. Sự
biến động dữ dội ấy làm con người bấy giờ cũng rơi vào vòng xoáy vô định, không
biết nên theo ai, bỏ ai. Các nhà nho luôn trung thành với triều Lê đã suy tàn, những
người dân cực khổ thì đặt tất cả niềm tin vào triều Tây Sơn, nhưng cuối cùng nhà
Nguyễn lại thắng thế. Chính trong thời kì có nhiều biến động này đã tạo ra những tác
phẩm kinh điển của nền văn học Việt Nam.
Các nhà nho lúc bấy giờ nuối tiếc triều Lê, có các tập thơ khóc Lê Chiêu
Thống, đả phá nhà Tây Sơn thì Nguyễn Du lại chẳng thấy biểu hiện gì, hoặc rất mờ
nhạt. Nguyễn Du luôn giấu kín trong lòng những suy nghĩ, cảm xúc của bản thân, hoặc
ngay cả chính ông cũng chưa hiểu hết về chính bản thân mình. Vì thế, trong thơ ông, ta
ít hoặc không tìm được quan điểm của ông về các triều đại phong kiến mà chủ yếu là
những suy nghĩ sâu sắc về cuộc sống.
Nguyễ
n Du tên chữ là Tố Như, hiệu Thanh Hiên. Năm sinh của Nguyễn Du
trước nay vẫn tính là năm 1765, nhưng có tài liệu ghi ông sinh ngày 23 tháng 11 năm
Ất Dậu, tính ra Dương lịch là ngày 3 tháng 1 năm 1766. Quê Nguyễn Du ở làng Tiên
Điền, huyện Nghi Xuân, trấn Nghệ An, nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh. Ông được sinh ra ở
Thăng Long trong một gia đình đại quý tộc có thế lực vào bậc nhất lúc bấy giờ.
Ông thân sinh Nguyễn Du là Nguyễn Nghiễm, nổi tiếng là người thông minh,
sướng ấy kéo dài không quá mười năm. Những biến cố dữ dội của thời đại sớm đẩy
Nguyễn Du vào vòng xoáy của cuộc đời. Mồ côi cả cha lẫn mẹ, bốn anh em Nguyễn
Du vào ở nhờ nhà người anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Kh
ản, lúc này đang làm Tả
thị lang Bộ Hình kiêm Hiệp trấn sứ Sơn Tây. Nhà Nguyễn Khản có gia biến, phải chạy
vào Nghệ An, nhưng Nguyễn Du vẫn được đi học, đi thi. Năm 1783, Nguyễn Du thi
Hương đậu tam trường nhưng không biết vì lẽ gì không thấy thi lên nữa. Năm 1789,
Tây Sơn kéo quân ra Bắc đánh tan quân Thanh, Lê Chiêu Thống chạy theo tàn quân
nhà Thanh sang Trung Quốc. Ba anh em cùng mẹ với Nguyễn Du chạy theo nhưng
không kịp. Nguyễn Du trở về
quê vợ ở Thái Bình, sống nhờ nhà người anh vợ là Đoàn
Nguyễn Tuấn (đã cộng tác với triều Tây Sơn). Thời gian ở Thái Bình có tài liệu ghi
Nguyễn Du âm mưu chống lại Tây Sơn nhưng không thành, ông bỏ về xứ Nghệ. Căn
cứ vào những sáng tác bằng chữ Hán viết vào khoảng thời gian này trong Thanh Hiên
thi tập thì hình như giai đoạn ở Thái Bình, Nguyễn Du chủ yếu là trốn tránh để giữ
mình chứ không có âm mưu chống đối gì.
8
Năm 1796, nghe tin Nguyễn Ánh hoạt động mạnh ở Gia Định, Nguyễn Du
định vào Gia Định theo Nguyễn Ánh. Nhưng chưa đi khỏi Nghệ An đã bị quân Tây
Sơn bắt giữ. Sau 3 tháng bị giam, ông được thả ra và về Tiên Điền sống một thời gian.
Năm 1802, ông bị gọi ra làm quan dưới triều Nguyễn Ánh, được bổ làm Tri
huyện Phù Dung, tháng Mười một đổi làm Tri phủ Thường Tín, năm sau lại được cử
lên c
ửa Nam Quan tiếp sứ thần Trung Quốc. Năm 1805, ông được thăng hàm Đông
các điện học sĩ. Năm 1807, ông được cử làm Giám khảo trường thi Hương ở Hải
Dương. Năm 1809, Nguyễn Du được bổ cai bạ Quảng Bình. Năm 1813, ông được
thăng Cần Chánh điện học sĩ, vào kinh làm quan cho đến khi đi sứ Trung Quốc vào
năm 1813. Sau khi về nước năm 1814, Nguyễn Du được thăng Hữu tham tri bộ
Lễ.
cho một viên quan người thiểu số. Cảm thấy nhụ
c nhã, Kiều nhảy sông Tiền Đường tự
tử và được Giác Duyên cứu sống. Kim Trọng đau khổ khi biết tin Kiều bán mình
chuộc cha, rồi nghe theo lời dặn dò của Thúy Kiều cưới Thúy Vân. Sau khi gặp lại,
Kim Trọng muốn nối lại duyên xưa nhưng Thúy Kiều không đồng ý. Cuối cùng mối
tình đẹp Kim Trọng-Thúy Kiều “duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy”.
Truyện Kiều là một tiếng kêu đau đớn, xót xa c
ủa thân phận con người, đặc
biệt là thân phận của người phụ nữ. Vấn đề cơ bản của Truyện Kiều là mâu thuẫn giữa
quyền sống của con người và sự áp bức của xã hội phong kiến trong lúc suy tàn. Thúy
Kiều không đại diện cho bất cứ dạng người nào trong xã hội mà là tinh hoa của những
phẩm chất tốt đẹp nhất của con người.
Thơ chữ Hán có
Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm và Bắc hành tạp lục
(xin giới thiệu ở phần sau). Thanh Hiên thi tập là tập thơ viết trong lúc sống ở quê vợ
Thái Bình, khoảng từ năm 1786 đến năm 1804. Thanh Hiên thi tập có 78 bài, được Lê
Thước và Trương Chính chia làm ba phần dựa theo đời sống và tâm sự của Nguyễn
Du:
-Mười năm gió bụi (1786- 1795),
-Dưới chân núi Hồng (1796- 1802),
-Làm quan ở Bắc Hà (1802- 1804).
Những bài thơ trong Thanh Hiên thi t
ập hay than thở về cuộc sống nghèo khó,
thiếu thốn, phải ăn nhờ ở đậu, nay đây mai đó, lúc nào cũng phải đề phòng, cẩn trọng
để giữ mình. Có lúc ông muốn đi ở ẩn, muốn trốn vào tôn giáo, muốn hành lạc, nhưng
nhà thơ không bao giờ có điều kiện để thực hiện, nhà thơ lại trở về với nỗi buồn của
mình. Những năm ra làm quan cũng chẳng vui vẻ gì hơn. Nỗi buồn trong thơ ông có
một cái gì đó không rõ ràng, cũng có thể ngay chính nhà thơ cũng không thể hiểu hết
nỗi buồn của chính mình.
Nam Trung tạp ngâm là tập thơ được viết từ khi thăng hàm Đông các điện học
sao còn giữ được thì còn thiếu một bài chưa được dịch, vậy số lượng đầy đủ nhất hiện
còn có thể là 132 bài.
Phần lớn thơ trong Bắc hành tạp lục là thơ luật, gồm 76 bài thất ngôn bát cú,
11 bài ngũ ngôn bát cú, 18 bài thất ngôn tứ tuyệt, 8 bài ngũ ngôn và thất ngôn cổ
phong và 18 bài trường thiên (thất ngôn, ngũ ngôn và trường đoản cú) theo thể ca và
hành. Mở
đầu tập thơ có 9 bài viết ở Thăng Long, còn lại viết trên đất Trung Hoa.
Trong đó có bốn bài viết về Thăng Long đều là những kiệt tác.
Đặc biệt, tập thơ được sáng tác trong thời gian đi sứ nhưng không có bài thơ
nào viết về chuyện đi sứ, mà chỉ có những suy nghĩ, những trăn trở về những vấn đề
11
trong cuộc sống. Tâm hồn của Nguyễn Du mở rộng cho những suy nghĩ về cuộc đời,
về những điều tai nghe mắt thấy, đó mới là những điều nhà thơ quan tâm? Chuyện đi
sứ như thế nào, các quan tiếp đãi ra sao, thái độ của hoàng đế nhà Thanh ra sao, tuyệt
nhiên không hề được nhắc đến. Nguyễn Du đã mượn lịch sử để nói về thời đại mà ông
đ
ang sống, đồng thời Nguyễn Du như đang tâm sự lòng mình với những con người
thời xưa.
12
CHƯƠNG 2. NỘI DUNG CỦA BẮC HÀNH TẠP LỤC
2.1 Hoài niệm
Sau bao nhiêu năm lận đận, đi hết nơi này đến nơi khác, năm 1813, Nguyễn
Du được thăng Cần Chánh điện học sĩ và được cử làm chánh sứ đi Trung Quốc,
Nguyễn Du mới có dịp quay trở lại Thăng Long. Bao nhiêu năm xa cách, cảnh vật đổi
khác, không còn những ngôi nhà đồ sộ mà nay đã trở thành đường cái, những dải
thành mới xóa đi những cung điện cũ chẳng còn chút dấu vết nào. Nhà thơ chạnh lòng
xót xa cho vẻ đẹp ngày xưa đã không còn nữa. Hơn hai mươi năm rời xa, Nguyễn Du
cũng không ngờ mình còn có cơ hội quay lại nơi này. Núi non ngàn năm vẫn thế, nhà
衢巷四開迷舊迹
管弦一變雜新聲
Cù hạng tứ khai mê cựu tích
Quản huyền nhất biến tạp tân thanh
Đường xá ngang dọc, lạc mất dấu vết cũ,
Tiếng đàn sáo cũng đổi khác, xen lẫn âm thanh mới
(Th
ăng Long II)
Nhưng rồi nhà thơ chợt nhận ra rằng cuộc sống tất phải thay đổi, trên đầu tóc
cũng đã bạc lốm đốm, thì sao trách được dòng đời, đó là lẽ tất yếu của cuộc sống.
世事浮沉休嘆息
自家頭白亦星星
Thế sự phù trầm hưu thán thức
Tự gia đầu bạch diệc tinh tinh
Thôi đừng than thở chuyện đời chìm nổi
Mái tóc mình cũng đã bạc lốm đốm
(Th
ăng Long II)
Không chỉ cảnh vật thay đổi, con người cũng phải thay đổi, đó là quy luật,
không ai có thể chống lại. Hơn hai mươi năm, quay lại nơi xưa, chẳng còn ai có thể
nhận ra mình nữa.
繁華人物亂来非
玄鶴歸来幾个知
Phồn hoa nhân vật loạn lai phi
Huyền hạc quy lai kỷ cá tri
Sau buổi loạn lạc, nhân vật nơi phồn hoa đã khác trước.
Chim hạc đen trở về, có mấy ai biết
(Ngộ gia đệ
cựu ca cơ)
Ai như Trang Tích bệnh trung vi Việt ngâm
Năm cung réo rắt thay đổi theo ngón tay
Tiếng khoan như gió thoảng qua ngàn thông
15
Tiếng trong như đôi chim hạc kêu nơi xa thẳm
Tiếng mạnh như sét đánh tan bia Tiến Phúc
Tiếng buồn như Trang Tích lúc ốm ngâm rên tiếng Việt
(Long Thành cầm giả ca)
Nàng đã làm rung động những trái tim hào hoa phong nhã. Tiếng đàn của
nàng làm say sưa lòng người. Tiếng đàn là một âm thanh khó cảm nhận. Tiếng đàn
không như lời hát. Người nghe lời hát có thể hiểu và cảm nhận dễ dàng hơn. Nhưng
tiếng
đàn, để cảm thụ nó không phải là điều dễ dàng. Để có thể hiểu nhau, cả người
đánh đàn và người nghe đều phải có cùng tâm tư, tình cảm mới có thể đồng cảm và
thấu hiểu.
西山諸臣滿座盡傾倒
徹夜追歡不知飽
左拋友擲争纏頭
Tây Sơn chư thần mãn tọa tận khuynh đảo
Triệt dạ truy hoan bất tri bão
Tả phao hữu trịch tranh triền đầu
Các quan Tây Sơn trong tiệc rượu đều nghiêng ngả
Mả
ng vui suốt đêm không biết chán
Phía tả phía hữu tranh nhau gieo thưởng
(Long Thành cầm giả ca)
Ta có thể thấy rõ sự ngưỡng mộ của Nguyễn Du đối với các vị tướng triều
Tây Sơn. Đó là một tấm lòng trân trọng với những con người hào hoa, biết quý trọng
cái đẹp, thưởng thức cái hay.
五陵少年不足道
Nê thổ kim tiền thù thảo thảo
Hào hoa ý khí lăng vương hầu
Ngũ Lăng thiếu niên bất túc đạo
Tiền bạc coi rẻ như
đất bùn
Vẻ hào hoa át cả các bậc vương hầu
Còn bọn thiếu niên đất Ngũ Lăng thì không đáng kể.
(Long Thành cầm giả ca)
Cô gái gảy đàn tài hoa của ngày xưa giờ đã không còn nữa, chỉ còn lại những
cánh hoa tàn úa, chẳng ai đoái hoài, cũng như triều đại Tây Sơn đã tiêu vong, chẳng để
lại dấu vết gì. Không còn lẫy lừng như xưa nữa, tất cả chỉ để lạ
i sự nuối tiếc xót xa cho
những giá trị tốt đẹp đã không còn nữa trong lòng nhà thơ.
17
西山基業盡消亡
歌舞空遺一人在
Tây Sơn cơ nghiệp tận tiêu vong
Ca vũ không di nhất nhân tại
Cơ nghiệp Tây Sơn tiêu vong đâu hết
Mà còn sót lại một người trong làng ca múa
(Long Thành cầm giả ca)
Trong lòng vẫn chưa nguôi nỗi xót xa cho cảnh cũ người xưa ở đất Long
Thành thì Nguyễn Du đã phải đối mặt với những nỗi sợ hãi khác khi rời Thăng Long
lên biên giới, qua những địa hình hiểm trở của vùng núi phía Bắc, Nguyễn Du đ
ã kinh
sợ trước địa thế hiểm trở nơi đây. Cửa ải quỷ môn đúng như tên gọi của nó.
塞途叢莽藏蛇虎
布野烟嵐聚鬼神
buồn của mái tóc pha sương mà vẫn còn lận đận. Cảnh vật vô tình nhưng người hữu
tình, một mình một bóng sao khỏi buồn tủi.
無限傷心一夜中
Vô hạn thương tâm nhất dạ trung
Trong một đêm xiết bao nỗi lòng
(Sơ thu cảm hứng I)
衷情無限憑誰訴
Trung tình vô hạn bằng thùy tố
Mối tình chan chứa biết ngỏ cùng ai
(Hoàng hạc lâu)
Chẳng có ai để tâm sự, trò chuyện, Nguyễn Du chỉ có thể làm bạn với bóng
đên cô đơn.
孤燈相对到天明
Cô đăng tương đối đáo thiên minh
Ngồi bên ngọn đèn cô đơn cho đến sáng
(Mạc phủ tức s
ự)
Ẩn phía sau những nỗi cơ đơn ấy là nỗi nhớ quê hương cách xa nghìn dặm.
Nguyễn Du xa quê hơn hơn một năm trường. Đường dài xa xăm, trắc trở, nguy hiểm
rình rập càng làm gợi lên trong lòng nhà thơ nỗi nhớ quê hương da diết. Quê hương
luôn hiện hữu trong lòng nhà thơ, có đôi lúc nỗi nhớ ấy tạm lắng đi, có đôi lúc lại bùng
19
lên dữ dội. Ấy là khi gặp những ánh mắt mừng vui của những người đi chung thuyền
sắp về đến nhà.
舟人爭指家鄉近
惱殺殊方老使臣
Chu nhân tranh chỉ gia hương cận
Não sát thù lai lão sứ thần
Người trong thuyền tranh nhau chỉ trỏ gần đến quê nhà
Tiếng vượn hú ấy không chỉ làm nhà thơ chua xót, day dứt trong phút chốc
mà nó còn dai dẳng triền miên. Nghe âm thanh ấy, suốt đêm chẳng thể ngủ được.
莫近蒼崖宿
啼猿撤夜悲
Mạc cận thương nhai túc
Đề viên triệt dạ bi
Chớ đỗ thuyền gần mái núi xanh
Tiếng vượn hú sẽ gợi nỗi buồn suốt đêm
(Sơn đường dạ bạc)
Tiếng vượn hú như một ám ảnh trong lòng nhà thơ. Mỗi lầ
n nghe tiếng vượn
hú là mỗi lần lòng ông quặn thắt. Đi xa chẳng có gì vui, chỉ có nỗi nhớ nhà cồn cào
đến xót xa. Cách biệt quan sơn, một mình một thân chẳng ai chuyện trò tâm sự, làm
nỗi cô đơn càng tăng thêm. Bất cứ rung động nào cũng làm quan chánh sứ phải xúc
động bồi hồi. Cả tiếng thổi sáo cũng làm người xa xứ chạnh lòng. Không chỉ có
Nguyễn Du, mà cả đoàn đi sứ đều cùng chung tâm trạng.
二十一人共回首
故鄉已隔萬重山
Nh
ị thập nhất nhân cộng hồi thủ
Cố hương dĩ cách vạn trùng sơn
Hai mươi bảy người cùng ngoảnh đầu lại
Nhưng cố hương đã cách muôn trùng núi non
(Thái Bình thành hạ văn xuy địch)
Nỗi nhớ ấy là nỗi nhớ chung, chẳng phải của riêng ai.
秋風落日皆鄉望
Thu phong lạc nhật giai hương vọng
Buổi chiều gió thu nổi lên, ai cũng nhớ nhà
(Sở vọng)
Càng đi về phía Bắ
quê người.
笑我白頭忙不了
Tiếu ngã bạch đầu mang bất liễu
Cười cho mình đã bạc đầu còn lận đận chưa thôi
(Đông A sơn lộ hành)
Cũng như các nhà nho khác, Nguyễn Du cũng muốn tìm kiếm cái công danh
giúp ích cho đời. Nhưng mãi đến khi tuổi già, ông vẫn chưa làm được đ
iều mình
muốn. Đó cũng giống như là một sự thất bại của đời người.
22
碌碌功名一片塵
Lục lục công danh nhất phiến trần
Công danh lận đận mãi trong đám bụi
(An Huy đạo trung)
Len lỏi trong Bắc hành tạp lục là những vần thơ đầy tâm trạng của Nguyễn
Du. Công việc đi sứ quan trọng và nặng nề, nhưng cũng có lúc chúng bị quên đi,
nhường chỗ cho những suy tư, nỗi niềm của một tâm hồn cô đơn, khắc khoải. Những
tâm tư tình cả
m ấy luôn dâng trào mỗi khi Nguyễn Du tạm quên đi việc nước. Đường
xa xôi, cách trở, chẳng biết bày tỏ cùng ai, nhà thơ chỉ có thể lấy thơ làm bạn, mượn
thơ bày tỏ nỗi lòng.
2.3 Ngộ sự
Nguyễn Du luôn có một trái tim yêu thương những con người đau khổ bất
hạnh dù trong bất cứ hoàn cảnh nào. Ông luôn quan tâm đến họ, dành cho họ những
tình cảm đặc biệt. Vì thế, khi gặp những cảnh đời ấy trong chuyến đi sứ, nhà thơ
không khỏi xót xa. Xót xa vì ông không thể ngờ, trên đất nước Trung Hoa giàu có, ấm
no này lại xuất hiện những cảnh đời đáng thương đến như thế. Xót xa vì sự đối lập cay
đắng giữa một bên là rượu thịt ê hề, ăn không hết phải đem đổ xuống sông, với một
bên là những con người áo rách, đầu trần, ăn không đủ no, mặc không đủ ấm, làm việc
Đàn tận tâm lực cơ nhất canh
Sở đắc đồng tiền cận ngũ lục
Tiểu nhi dẫn đắc há thuyền lai
Do thả hồi cố đảo đa phúc
Gắng hết tâm sức gầ
n một trống canh
Mà chỉ được năm sáu đồng tiền
Em bé dắt ra khỏi thuyền
Còn ngoảnh lại ngỏ lời chúc tụng
(Thái Bình mại ca giả)
Ai thấy cảnh ấy mà chẳng xót xa. Xót xa cho những con người thấp cổ bé
họng, cho những con người long đong mãi trong cảnh thiếu thốn đói khát mà chẳng
thoát ra được. Hay hình ảnh người phụ nữ dắt con đi xin ăn ngồi bên vệ đường, trông
thật là
đáng thương.
筐中何所盛
藜藿雜枇糠
日晏不得食
衣裙何框禳
24
Khuông trung hà sở thịnh?
Lê hoắc tạp tì khang
Nhật án bất đắc thực
Y quần hà khuông nhương!
Trong giỏ đựng những gì?
Rau cỏ lẫn tấm cám
Trưa rồi vẫn chưa có gì ăn
Áo quần thật lam lũ
(Sở kiến hành)