Khóa luận tốt nghiệp Các dạng bài tập bồi dưỡng năng lực tư duy cho học sinh tiểu học thông qua phân môn luyện từ và câu - Pdf 30


Lêi c¶m ¬n

Là một giáo viên tiểu học trong tương lai bên cạnh việc học tập để
có kiến thức chuyên môn sâu sắc, tôi đã không ngừng tìm hiểu, học hỏi
nhằm tích lũy kinh nghiệm cho bản thân để phục vụ tốt cho công tác
giảng dạy sau này. Chính vì vậy, thực hiện đề tài khóa luận là một công
việc hết sức cần thiết và bổ ích. Đối với tôi, đây thực sự là những tháng
ngày quý giá và có ý nghĩa.
Thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với sự giúp
đỡ dù ít hay nhiều, những lời động viên dù trực tiếp hay gián tiếp. Trong
suốt quá trình thực hiện khóa luận tôi đã nhận được nhiều sự quan tâm,
giúp đỡ của quý thầy cô, gia đình và bạn bè. Với lòng biết ơn sâu sắc tôi
xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô trường Đại học Quảng Bình, Khoa sư
phạm Tiểu học - Mầm non đã tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành khóa
luận này.
Đặc biệt, em xin chân thành biết ơn cô TS. Nguyễn Thị Nga, người
đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên
cứu khóa luận.
Dù có nhiều cố gắng nhưng đề tài chắc chắn không tránh khỏi
những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự chỉ dẫn và góp ý của quý
thầy cô giáo cùng các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn.
Sau cùng, tôi xin kính chúc quý thầy cô dồi dào sức khỏe để tiếp
tục thực hiện sứ mệnh cao đẹp của mình là truyền đạt kiến thức cho thế
hệ mai sau.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Đồng Hới, tháng 6 năm 2015
Sinh viên

Dương Thị Phượng


LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Mục đích nghiên cứu. 3
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
6. Phương pháp nghiên cứu 4
7. Đóng góp của khóa luận 5
8. Cấu trúc của khóa luận 5
PHẦN NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỂN CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG NĂNG
LỰC TƯ DUY CHO HỌC SINH TIỂU HỌC QUA PHÂN MÔN 6
LUYỆN TỪ VÀ CÂU 6
1.1 Cơ sở lí luận 6
1.1.1 Một số vấn đề liên quan đến tư duy và phát triển năng lực tư duy cho học sinh
Tiểu học. 6
1.1.1.1 Khái niệm về tư duy 6
1.1.1.2 Đặc điểm của tư duy 7
1.1.1.3. Ý nghĩa và tầm quan trọng của việc phát triển tư duy cho học sinh Tiểu học. . 8
1.1.1.4 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Tiểu học với việc bồi dưỡng tư duy trong
phân môn Luyện từ và câu. 9
1.2 Cơ sở thực tiễn 11
1.2.1. Phân môn “Luyện từ và câu” trong phát triển tư duy cho học sinh Tiểu học 11
1.2.2 Vài nét về nội dung chương trình SGK phân môn Luyện từ và câu ở Tiểu học . 13
1.2.3 Thực trạng bồi dưỡng năng lực tư duy cho học sinh ở một số trường Tiểu học
tỉnh Quảng Bình 20
CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG BÀI TẬP PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU TRONG
SÁCH GIÁO KHOA TIẾNG VIỆT Ở TIỀU HỌC 29


Kí hiệu Chú giải
HS Học sinh
LTVC Luyện từ và câu
SGK Sách giáo khoa
[22; tr 33]. Tài liệu số 22 trang 33
GV Giáo viên
DT, ĐT, TT Danh từ, động từ, tính từ
VD Ví dụ
CN-VN Chủ ngữ - vị ngữ
T.G.T.H, T.G.P.L Từ ghép tổng hợp, từ ghép phân loại
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong mỗi thời đại đổi mới của đất nước yêu cầu nhiệm vụ đặt ra cho nền giáo

chưa hiểu sâu về nghĩa của từ, cấu tạo từ, vốn từ của các em còn nghèo nàn khả năng
mở rộng vốn từ còn hạn chế, chưa hệ thống hóa được kiến thức của từng chủ đề chủ
điểm, bởi vậy mà thao tác tư duy còn chậm. Vốn từ của học sinh còn nghèo nàn, vốn
ngôn ngữ Tiếng Việt còn hạn chế, nên khi gặp những dạng bài tập về đặt câu có chứa
các thành ngữ, tục ngữ và những dạng bài tập về hiểu vận dụng sáng tạo các em rất
lúng túng không giải quyết được. Khó khăn trong việc nắm từ làm cho HS gặp nhiều
trở ngại trong giao tiếp, khó khăn trong việc thể hiện tâm tư tình cảm của mình.
Là một sinh viên nghành sư phạm, tôi nhận thấy việc nghiên cứu đề tài này góp
phần phục vụ cho nhiệm vụ học tập, nhằm chuẩn bị hành trang về kiến thức, kĩ năng
để sau này dạy tốt hơn. Mặt khác tôi hiểu rằng việc bồi dưỡng năng lực tư duy cho học
sinh Tiểu học là một điều cực kì cần thiết nhằm giúp cho các em có được một vốn từ
cơ bản để nhận thức, giao tiếp mở rộng tâm hồn, nâng cao kỹ năng sống.
Xuất phát từ những lí do trên tôi chọn đề tài “Các dạng bài tập bồi dưỡng năng
lực tư duy cho học sinh Tiểu học thông qua phân môn Luyện từ và câu” làm đề tài
khóa luận của mình. Tôi muốn phân tích đi sâu tìm hiểu những dạng bài tập kích thích
sự tư duy sáng tạo, khả năng nắm từ và sử dụng từ hiệu quả trong giao tiếp cho học
sinh. Nhằm góp một phần nhỏ giúp các em học tập được phân môn “LTVC” tốt hơn,
hình thành các kĩ năng thao tác tư duy trong phân môn này nói riêng và các môn học
khác nói chung.
2. Lịch sử vấn đề
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đến vấn đề phát triển tư duy cho học sinh
tiểu học qua phân môn Luyện từ và câu. Trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi đã
tiếp cận những tài liệu của các tác giả sau:
Trần Luận với công trình “Phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh phổ thông
thông qua hệ thống bài tập” tác giả đưa ra hệ thống bài tập phong phú và đa dạng
nhằm phát triển khả năng tư duy cho học sinh, những bài tập đó đòi hỏi học sinh phải
biết suy nghĩ huy động các kiến thức đã có để giải quyết vấn đề chính là học sinh đang
bồi dưỡng tư duy.
TS. Nguyễn Thị Xuân Yến với bài viết “Phát triển tư duy cho học sinh qua dạy
học môn Tiếng Việt” đã đề cập đến phương pháp tổ chức đồng tâm và phát triển

4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài và bộ SGK Tiếng Việt lớp 2,3,4,5
NXBGD.
4
Tìm hiểu về thực trạng bồi dưỡng tư duy cho học sinh Tiểu học qua phân môn
LTVC.
Tìm
h
i
ểu
một số cơ sở lí thuyết
liên
quan đến đề tài để
làm
căn cứ xây dựng hệ
thống

i
tập tăng cường bồi dưỡng tư duy.
Tiến hành điều tra thực trạng bồi dưỡng năng lực tư duy tại Trường Tiểu học số 1
Tân Thủy, Trường Tiểu học Đồng Phú để thu thập kết quả đánh giá bước đầu về thực
tế bồi dưỡng tư duy thông qua các dạng bài tập cho HS Tiểu học trong phân môn
LTVC.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh lớp 2,3,4,5 và giáo viên tiểu học Trường Tiểu học số 1 Tân Thủy,
Trường Tiểu học Đồng Phú.
Hoạt động tư duy của học sinh Tiểu học thông qua các dạng bài tập trong phân
môn LTVC.
b. Phạm vi nghiên cứu:

8. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận được triển
khai qua 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc bồi dưỡng tư duy cho học sinh
Tiểu học qua phân môn Luyện từ và câu
Chương 2: Hệ thống bài tập phân môn Luyện từ và câu trong Sách Giáo Khoa
Tiếng Việt Tiểu học
Chương 3: Xây dựng hệ thống bài tập để bồi dưỡng năng lực tư duy cho học sinh
Tiểu học

6
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỂN CỦA VIỆC BỒI
DƯỠNG NĂNG LỰC TƯ DUY CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
QUA PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU

1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Một số vấn đề liên quan đến tư duy và phát triển năng lực tư duy cho học sinh
Tiểu học.
1.1.1.1 Khái niệm về tư duy
Tư duy là gì? Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về tư duy, đây là một vấn đề thu
hút sự quan tâm của đông đảo các ngành và nhà khoa học nghiên cứu. Mỗi ngành khoa
học lại có một gốc độ nhìn về tư duy khác nhau. Triết học nghiên cứu tư duy dưới gốc
độ lý luận nhận thức. Logic học nghiên cứu tư duy ở các quy tắc tư duy đúng. Xã hội
học nghiên cứu tư duy ở sự phát triển của quá trình nhận thức trong các chế độ xã hội
khác nhau. Sinh lý học nghiên cứu cơ chế hoạt động thần kinh cao cấp với tư cách là
nền tảng vật chất của các quá trình tư duy ở con người. Tâm lý học nghiên cứu diễn

biết.”
1.1.1.2 Đặc điểm của tư duy
- Tính có vấn đề
Khi gặp các tình huống có vấn đề tư duy con người mới nảy sinh. Và muốn tình
huống có vấn đề kích thích được ta tư duy thì tình huống có vần đề đó phải được cá
nhân nhận thức đầy đủ và chuyển thành nhiệm vụ tư duy của cá nhân.
- Tính gián tiếp
Trong quá trình tư duy con người sử dụng các phương tiện, công cụ khác nhau để
nhận thức về sự vật hiện tượng.
- Mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ:
Nhu cầu giao tiếp của con người là điều kiện cần để phát sinh ngôn ngữ. Kết quả
tư duy được ghi lại bởi ngôn ngữ. Ngay từ khi xuất hiện, tư duy đã gắn liền với ngôn
ngữ và được thực hiện thông qua ngôn ngữ. Vì vậy, ngôn ngữ chính là cái vỏ hình thức
của tư duy. “Ngôn ngữ là hiện thực của tư duy, tư duy là cái gốc của ngôn ngữ và tư
duy có quan hệ mật thiết với nhau như hai mặt của một tờ giấy” (Lê Nin)
Ở thời kì sơ khai, tư duy được hình thành thông qua hoạt động vật chất của con
người và từng bước được ghi lại bằng các kí hiệu từ đơn giản đến phức tạp, từ đơn lẻ
đến tập hợp, từ cụ thể đến trừu tượng. Hệ thống các kí hiệu đó thông qua quá trình xã
8
hội và trở thành ngôn ngữ. Sự ra đời của ngôn ngữ đánh dấu bước phát triển nhảy vọt
của tư duy và tư duy cũng bắt đầu phụ thuộc vào ngôn ngữ. Ngôn ngữ với tư cách là
hệ thống tín hiệu thứ hai trở thành công cụ giao tiếp chủ yếu giữa con người với con
người phát triển cùng với nhu cầu của nền sản xuất xã hội cũng như sự xã hội hoá lao
động.
- Mối quan hệ giữa tư duy và nhận thức
Tư duy là kết quả của nhận thức đồng thời là sự phát triển cấp cao của nhận thức.
Xuất phát điểm của nhận thức là những cảm giác, tri giác, và biểu tượng… được phản
ánh từ thực tiễn khách quan với những thông tin về hình dạng, hiện tượng bên ngoài
phản ánh một cách riêng lẻ. Giai đoạn này được gọi là tư duy cụ thể. Ở giai đoạn sau,
sự hỗ trợ của ngôn ngữ, hoạt động tư duy tiến hành các thao tác so sánh, đối chiếu,

Ví dụ: Khi học phân môn Luyện từ và câu học về phần bài tập “Mở rộng vốn từ”.
Học sinh được làm quen với các dạng bài tập để mở rộng vốn từ ngữ, nắm nghĩa của
các từ một cách chính xác. Dựa trên những kiến thức mà học sinh đã có, thông qua tư
duy sẽ giúp học sinh biết sử dụng ngôn ngữ để thể hiện suy nghĩ của mình và biết cách
thể hiện qua cách giao tiếp, cách sử dụng câu, từ của học sinh. Bồi dưỡng tư duy học
Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học qua phân môn Luyện từ và câu, chính là việc đảm
bảo mối quan hệ chặt chẽ giữa kiến thức lí thuyết và bài tập thực hành để phát triển tư
duy. Việc thực hành thường xuyên làm các dạng bài tập giúp học sinh hình thành được
tư duy hình tượng.
Thông qua việc rèn luyện bồi dưỡng và phát triển tư duy cho học sinh qua phân
môn Luyện từ và câu góp phần vào việc hình thành kỹ năng nghe, nói, đọc, viết giúp
học sinh có điều kiện và phương tiện cần thiết trong học tập. Việc hình thành kỹ năng
này là chìa khóa cho sự phát triển nhận thức đúng đắn. Nắm được ngôn ngữ lời nói
cũng là điều thiết yếu của việc hình thành tích cực xã hội hóa của nhân cách. Trên cơ
sở đó, giúp học sinh tạo cho mình có thói quen sử dụng đúng cấu trúc câu khi làm bài
tập, cũng như diễn đạt suy nghĩ bản thân một cách đa dạng. Chính vì vậy, việc bồi
dưỡng tư duy cho học sinh là một việc làm hết sức có ý nghĩa, hết sức cần thiết và
quan trọng.
1.1.1.4 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Tiểu học với việc bồi dưỡng tư duy trong
phân môn Luyện từ và câu.
+ Đặc điểm về mặt cơ thể
Hệ xương còn nhiều mô sụn, hệ xương còn yếu nên hoạt động vui chơi giáo viên
cần chú ý an toàn cho trẻ.
10
Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư duy của các
em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy trừu tượng do đó các em hứng thú
với những trò chơi trí tuệ… Dựa vào cơ sở sinh lí này mà các nhà giáo dục nên cuốn
hút các em với các câu hỏi nhằm phát triển tư duy của các em.
+ Đặc điểm về hoạt động và môi trường sống
Chuyển từ hoạt động vui chơi sang các trò chơi vận động, có ý thức tự giác thực

say mê học tập cho các em.
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Phân môn “Luyện từ và câu” trong phát triển tư duy cho học sinh Tiểu học
- Vị trí của phân môn Luyện từ và câu
Phân môn “Luyện từ và câu” chiếm một vị trí rất quan trọng trong môn Tiếng
Việt nói riêng và các môn học khác nói chung. Đây là một phân môn mới trong phân
môn Tiếng Việt ở tiểu học, phân môn này được hình thành từ hai phân môn cũ trước
đây: Từ ngữ và ngữ pháp, việc nhập hai môn này lại với nhau dựa trên quan điểm tích
hợp trong việc biên soạn SGK ở Tiểu học mới. Theo quan điểm trên, việc dạy kiến
thức Tiếng Việt không tách rời cung cấp những kiến thức của môn học khác; đồng thời
các phân môn khác trong Tiếng Việt cũng gắn bó, liên kết chặt chẽ với nhau. “Luyện
từ và câu” là một phân môn khoa học cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản
về Tiếng Việt, rèn kĩ năng dùng từ đặt câu và khả năng diễn đạt cho HS.
Việc dạy và học “Luyện từ và câu” ở Tiểu học có một tầm quan trọng rất lớn
trong việc hình thành cho HS năng lực sử dụng từ và sử dụng câu. Việc dạy từ không
thể tách rời việc dạy câu. Từ và câu có vai trò đặc biệt trong hệ thống ngôn ngữ. Từ
chỉ cho chúng ta một khái niệm, còn câu mới cho chúng ta biết một thông báo. Từ là
đơn vị trung tâm của ngôn ngữ. Câu là đơn vị nhỏ nhất có thể thực hiện chức năng
giao tiếp. Muốn hiểu rõ những đặc điểm khác nhau về từ, cần đặt từ vào trong câu.
Ngược lại câu được cấu tạo nên bởi một số lượng từ nhất định. Do đó, việc dạy từ và
câu trong phân môn “Luyện từ và câu” phải đi kèm với nhau.
Bên cạnh đó, việc dạy “Luyện từ và câu” nhằm mở rộng hệ thống hoá làm phong
phú vốn từ của HS, cung cấp cho các em những hiểu biết đơn giản, rèn cho học sinh kĩ
năng dùng từ đặt câu để thể hiện tư tưởng tình cảm của mình một cách linh hoạt.
Thông qua phân môn “Luyện từ và câu” hướng dẫn cho học sinh việc nghe, nói, đọc,
viết và phát triển ngôn ngữ trí tuệ cho trẻ.
Trong quá trình giao tiếp, một người sử dụng từ ngữ chính xác phù hợp với ngữ
cảnh, nghĩa là người đó nắm được nghĩa của từ và sử dụng đúng với các quy tắc ngữ
pháp. Một học sinh sở hữu một số lượng từ phong phú, điều đó có nghĩa là các em
12

Phân môn “Luyện từ và câu” cung cấp cho HS một số kiến thức và câu cơ bản,
sơ giản, cần thiết và vừa sức với các em. “Luyện từ và câu” trang bị cho học sinh
13
những hiểu biết về cấu trúc của từ, câu, quy luật hành chức của chúng. Cụ thể đó là các
kiến thức về cấu tạo từ, nghĩa của từ, các lớp từ, từ loại. Đồng thời cung cấp các kiểu
câu như: Câu hỏi, Câu kể, Câu cảm, Câu cầu khiến, Câu ghép, Liên kết câu…
• Bồi dưỡng cho HS thói quen dùng từ đúng khi nói và viết thành câu, có ý thức
sử dụng Tiếng Việt văn hoá trong giao tiếp.
Phân môn “Luyện từ và câu” cung cấp cho học sinh một hệ thống vốn từ đa dạng
phong phú. Thông qua dạy luyện từ và câu tạo cho HS thói quen sử dụng từ ngữ để tư
duy hình thành những hình tượng mới.
Việc dạy cho HS cách dùng từ đúng sẽ giúp HS thêm yêu ngôn ngữ mẹ đẻ, có ý
thức sử dụng tiếng Việt văn hoá trong giao tiếp.
1.2.2 Vài nét về nội dung chương trình SGK phân môn Luyện từ và câu ở Tiểu học
Chương trình môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học có các ưu điểm sau:
- Chương trình môn Tiếng Việt đã thực sự chú trọng cả 4 kĩ năng: nghe, nói, đọc,
viết cho HS. Đặc biệt là chương trình rất chú trọng việc hướng dẫn HS vào hoạt động
giao tiếp. Tạo điều kiện để HS phát triển các kĩ năng và vận dụng thực hành các kĩ
năng vào cuộc sống.
Nội dung của các phân môn trong Tiếng Việt có sự gắn kết chặt chẽ với nhau
trên quan điểm tích hợp vì thế có tác dụng hỗ trợ, bổ sung cho nhau.
Cách biên soạn chương trình giúp GV dễ tổ chức các hoạt động dạy học, tạo
điều kiện cho HS tích cực tham gia học tập.
SGK là tài liệu dạy học chính thức trong nhà trường, mỗi bộ sách giáo khoa của
chương trình Tiểu học mới đã được dạy thử nghiệm, và thẩm định kĩ càng của Hội
đồng Quốc gia thẩm định SGK.
Nội dung chương trình SGK lớp 2, 3 được phân bố như sau: Đối với phân môn
Luyện từ và câu gồm: 31 tiết (không kể những tuần ôn tập giữa kì và ôn tập cuối kì)
Học kì I có 16 tiết học kì II có 15 tiết. Mỗi tuần có 1 tiết bao gồm các nội dung sau:


Từ ngữ về tình cảm
Từ ngữ về công việc gia đình
Từ ngữ về tình cảm gia đình
Từ ngữ về vật nuôi
Từ ngữ về các mùa
Từ ngữ về thời tiết
Từ ngữ về chim chóc
Từ ngữ về loài chim
Từ ngữ về muông thú
Từ ngữ về loài thú
Từ ngữ về sông biển
Từ ngữ về cây cối
Từ ngữ về Bác Hồ
Từ ngữ chỉ nghề nghiệp
7
10

11
12
13
14
16 -17
19
20
21
22
23
24
25 -26
28 -29

Ai làm gì?
Ai thế nào?
Đặt và trả lời câu hỏi Khi nào?
Đặt và trả lời câu hỏi Ở đâu?
Đặt và trả lời câu hỏi Như thế nào?
Đặt và trả lời câu hỏi Vì sao?
3 -5 -6
13 -14
15-16 -17
19-20
21
23
25
15
Đặt và trả lời câu hỏi Để làm gì? 28-29
+ Dấu câu Dấu phẩy
Dấu chấm, dấu chấm hỏi.
8 -12
2 -10 -14
+ Lớp 3
Các dạng bài Các nội dung chính Tuần
+ Mở rộng vốn từ
HK I
HK II

34
+ Từ loại Từ chỉ sự vật
Từ chỉ hoạt động, trạng thái
Từ chỉ đặc điểm
So sánh
Nhân hóa
1
7-12
14-17
(1-5-7-12)
(19-21-23-25-
28-33
+ Câu

Ôn tập câu: Ai là gì?
Ôn tập câu: Ai làm gì?
Ôn tập câu: Ai thế nào?
Luyện đặt câu có hình ảnh so sánh
Đặt và trả lời câu hỏi:
2-4
8-11

22
30-32

Chương trình SGK lớp 4, 5 được phân bố như sau: Đối với phân môn Luyện từ
và câu gồm: 62 tiết (không kể những tuần ôn tập giữa kì và ôn tập cuối kì) (32 tiết học
kì 1- 30 tiết học kì 2) mỗi tuần 2 tiết bao gồm các nội dung sau:

Các dạng bài Các nội dung chính Tuần
+ Mở rộng vốn từ
HK I
HK II
Nhân hậu - đoàn kết
Trung thực - tự trọng
Ước mơ
Ý chí - nghị lực
Đồ chơi - trò chơi
Tài năng
Sức khỏe
Cái đẹp
Dũng cảm
Du lịch - thám hiểm
Lạc quan - yêu đời
2 – 3
5 - 6
9
12-13
15-16

Câu hỏi
Câu kể (bao gồm: Ai làm gì? ai thế
nào, ai là gì?)

Cầu khiến
Câu cảm
Thêm trạng ngữ cho câu
13-14-15
(16-17-19-20-
21-22-24-25-
26)
27-29
30
31-32-33-34
+ Dấu câu

Dấu hai chấm
Dấu ngoặc kép
Dấu chấm hỏi (tuần 13 học cùng
câu hỏi)
Dấu gạch ngang
2
8 13


Truyền thống
Nam và nữ
Trẻ em
Quyền và bổn phận
2
3
5
6
8-9
12-13
15
20-21
23-24
26-27
30-31
33
34
+ Từ vựng

+ Từ loại

Từ đồng nghĩa
Từ trái nghĩa
Từ đồng âm
Từ nhiều nghĩa
Đại từ
- Đại từ xưng hô

*Qua khảo sát nội dung chương trình chúng tôi có những nhận xét như sau:
Nội dung chương trình của phân môn luyện từ và câu ở tiểu học được xây dựng
phù hợp với yêu cầu phát triển lời nói của học sinh, giúp các em mở rộng thêm kiến
thức trong quá trình học tập, lao động và giao tiếp ngày một tốt hơn, tiến bộ hơn, đạt
kết quả cao hơn.
Ở lớp 1 chưa có tiết “Luyện từ và câu”, lớp 2 và lớp 3 mỗi tuần có một tiết, trình
bày các kiến thức HS cần làm quen và nhận biết chúng thông qua các bài tập thực
hành. Ở lớp 4 và lớp 5 có 2 tiết mỗi tuần (chưa kể các tuần ôn tập), các kiến thức lí
thuyết được học thành tiết riêng VD: Các lớp từ (đồng nghĩa, trái nghĩa, đồng âm,
nhiều nghĩa) từ loại, câu, dấu câu, biện pháp liên kết câu.
- Bài LTVC ở lớp 2, 3 trong SGK được ghi tên theo phân môn, còn nội dung các
bài học trong sách giáo khoa được được ghi ở phần mục lục. Hầu hết các bài học
LTVC ở lớp 2, 3 bao gồm cả nhiệm vụ luyện từ và luyện câu. Các tên bài thể hiện điều
này. Ví dụ: Mở rộng vốn từ: Từ ngữ về học tập – Dấu chấm hỏi (lớp 2 tuần 1); Mở
rộng vốn từ: Thiên nhiên - Ôn tập câu “Ai là gì?” (lớp 3 tuần 1) ở lớp 4,5, các bài học
đã tách thành những bài luyện từ và luyện câu riêng. Ví dụ các tên bài: Từ ghép và từ
láy (lớp 4 tuần 4), Câu ghép (lớp 5 – tuần 19).
Vốn từ phát triển cho HS tiểu học được thiết kế theo chủ đề những nội dung
được gắn liền với cuộc sống thực tại xung quanh dễ dàng quan sát được: Từ đơn giản
đến phức tạp, từ cụ thể đến trừu tượng và xuyên suốt từ lớp 2 đến lớp 5 VD: Lớp 2
Mở rộng vốn từ muông thú, chim chóc, vật nuôi…đó là những từ ngữ gần gũi, quen
thuộc với HS, nhưng lên lớp 5 thì trừu tượng, tổng quát hơn như: Tổ Quốc, Nhân dân,
Hòa bình
Việc lĩnh hội ngữ pháp của HS tăng dần từ việc nhận biết đơn giản và sử dụng tự
nhiên các điểm ngữ pháp trong ngữ cảnh ở lớp 2 và lớp 3 đến việc nhận diện và phân
tích chúng một cách có ý thức cũng như có thể cho những giải thích đơn giản về các
điểm ngữ pháp ấy ở lớp 4 và lớp 5 VD:
Dạy mẫu câu Ai là gì? Ai làm gì? Ai thế nào?:
+ Ở lớp 2 và lớp 3 trả lời cho bộ phận Ai là những từ chỉ (người, con vật, đồ vật,
cây cối) trả lời cho bộ phận Là gì?/ Làm gì?/ Thế nào? là những từ chỉ hoạt động /

Dạy “Luyện từ và câu” có nhiệm vụ trang bị cho học sinh một hệ thống khái
niệm, sự hiểu biết về cấu trúc ngôn ngữ và những quy luật hành chức của nó. Cụ thể là
“Luyện từ và câu” ở tiểu học giúp cho học sinh hiểu về cấu tạo của từ, khái niệm về từ
và câu. Những kĩ năng mà học sinh cần đạt trong giờ “Luyện từ và câu”: Biết dùng từ,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status