Khóa luận tốt nghiệp Khảo sát việc ứng dụng biện pháp dạy tập đọc lớp 3 theo hướng đổi mới hiện nay ở trường tiểu học đức ninh đông - Pdf 30


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và
kết quả nghiên cứu nêu trong khóa luận là trung thực, khách quan và chưa từng
được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác.
Đồng Hới, ngày 20 tháng 5 năm 2015
Tác giả

Lê Thị Thanh Trang
L
LL
LỜ

Lê Thị Thanh Trang

NHỮNG KÝ HIỆU DÙNG TRONG KHÓA LUẬN

TT KÝ HIỆU CHÚ THÍCH
1 GV Giáo viên
2 HS Học sinh
3 SGK Sách giáo khoa
4 Tr Trang

1.5.2 Nguyên tắc giao tiếp ( nguyên tắc phát triển lời nói) 18
1.5.3 Nguyên tắc hướng tới những phương pháp và dạy học tích cực 19
2. Cơ sở thực tiễn 20
2.1 Nội dung và chương trình dạy học trong phân môn Tập đọc lớp 3: 20
2.2 Một số phương pháp dạy Tập đọc ở lớp 3: 26
2.3 Những yêu cầu và trình tự lên lớp về kỹ năng đọc trong phân môn Tập đọc
lớp 3 29
2.4 Các kiểu dạng bài tập dạy học Tập đọc 34
2.5 Thực trạng dạy học của Trường Tiểu học Đức Ninh Đông 35
Chương 2. ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP DẠY TẬP ĐỌC LỚP 3 Ở TRƯỜNG
TIỂU HỌC ĐỨC NINH ĐÔNG THEO HƯỚNG ĐỔI MỚI HIỆN NAY 37
2.1 Những lỗi thường gặp trong việc dạy và học Tập đọc của học sinh lớp 3
Trường Tiểu học Đức Ninh Đông 38
2.2 Những biện pháp dạy học Tập đọc lớp 3 cho học sinh ở Trường Tiểu học
Đức Ninh Đông 38
2.2.1 Luyện đọc đúng và khắc phục lỗi phát âm từ địa phương của vùng Đức
Ninh Đông 39
2.2.2 Luyện đọc nhanh và khắc phục lỗi đọc lướt, đọc tắt từ của học sinh vùng
Đức Ninh Đông. 40
2.2.3 Luyện đọc thầm, đọc hiểu. 44
2.2.4 Luyện đọc diễn cảm và khắc phục các âm đọc trại vùng Đức Ninh Đông.47
2.2.5 Luyện đọc thuộc lòng 51
2.2.6 Tổ chức giờ học thân thiện - học sinh tích cực 54
2.2.7 Kết hợp với chuyên môn nhà trường và học hỏi ở đồng nghiệp 58
2.2.8 Kết hợp giữa gia đình và nhà trường 61
Chương 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 66
1. Mục đích, nhiệm vụ thực nghiệm 66
1.1 Mục đích 66
1.2 Nhiệm vụ 66
2. Kế hoạch thực nghiệm 66

đọc có nhiệm vụ cơ bản là luyện kỹ năng đọc cho học sinh. Năng lực đọc được
tạo nên từ bốn kỹ năng cũng là bốn yêu cầu về chất lượng đọc là đọc đúng, đọc
nhanh (đọc lưu loát, trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được nội dung những
điều mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm. Khi học sinh đọc tốt,
viết tốt thì các em mới có thể tiếp thu được môn học khác một cách chắc chắn.
Từ đó học sinh mới hoàn thiện được năng lực giao tiếp bằng ngôn ngữ của chính
bản thân mình. Vì vậy việc nghiên cứu tìm hiểu về tập đọc ở góc độ nào cũng có
ý nghĩa quan trọng và cấp bách. Hiện nay ở trường Tiểu học, kỹ năng đọc của
học sinh chưa đồng đều, một số học sinh đọc còn yếu, một số giáo viên chưa chú
trọng đến việc dạy cho học sinh tiểu học, chưa tìm ra biện pháp dạy môn Tập
đọc để nâng cao hiệu quả giờ dạy. Nguyên nhân của đọc yếu và đọc chưa tốt của
học sinh là do nhiều tác động như: phương pháp giảng dạy của giáo viên, ngôn
ngữ địa phương, do tài liệu, sách giáo khoa, câu hỏi còn chung chung, chưa đi
sâu vào nội dung bài, cách kết hợp các phương pháp dạy còn hạn chế Do vậy
giờ dạy chưa đạt kết quả cao, dẫn đến việc học tốt phân môn Tập đọc còn hạn
chế. Ở lớp 3, nội dung hướng dẫn đọc ở một số bài mới chỉ dừng lại những lưu ý
phát âm đúng các từ ngữ hoặc âm thanh của Tiếng Việt, chưa chú ý đầy đủ đến
các phương diện (thao tác) khác nhằm tái hiện các tác phẩm hoặc khắc sâu kiến
thức. Trong khi đó đối với học sinh lớp 3, ngoài việc phát âm đúng học sinh phải
đọc lưu loát từng đoạn và từng bài, biết ngắt nghỉ cho phù hợp theo thể thơ hay
nội dung đọc. Bước đầu đọc diễn cảm được bài có cảm xúc, biết nhấn giọng ở 2

những từ biểu cảm, gợi tả, biết đọc rõ lời tác giả và nhân vật. Chính vì vậy cần
có biện pháp dạy học tập đọc theo hướng đổi mới nhằm góp phần nâng cao chất
lượng môn Tiếng Việt nói riêng cũng như chất lượng giáo dục nói chung. Là một
giáo viên tiểu học tương lai, tôi thấy mình phải tự tìm tòi, nghiên cứu để tìm ra
những phương pháp và cách dạy tốt nhất với môn tập đọc giúp các em học tốt


lĩnh vực và mọi giai đoạn phát triển của cá nhân, từ lúc còn thơ ấu cho đến khi
nhắm mắt xuôi tay, và nó quyết định phần lớn sự thành đạt trong cuộc sống.
Càng ngày càng có thêm nhiều người nhận thức rằng, đọc sách là một việc phải
làm suốt đời".
Đọc cũng là một dạng lao động hàm chứa nhiều đặc điểm, đòi hỏi phải
quan tâm nghiên cứu. Với mỗi độc giả, nghiên cứu việc đọc là để tìm ra những
cách đọc tốt nhất, giúp đọc nhanh, hiểu sâu, nhớ lâu, vận dụng có hiệu quả
những điều đã đọc. Trong lĩnh vực thư viện, nghiên cứu việc đọc trước hết là
nhằm mục đích tìm hiểu hứng thú và nhu cầu của độc giả, để trên cơ sở đó mà
tiến hành đổi mới, hoàn thiện phương pháp công tác, nâng cao chất lượng phục
vụ về sách cho bạn đọc, góp phần tạo dựng hình ảnh tốt của thư viện, đảm bảo
và nâng cao uy tín của thư viện. Ngoài ra, nghiên cứu việc đọc được tiến hành
còn nhằm vào nhiều mục đích khác. Kết quả nghiên cứu việc đọc, trong nhiều
trường hợp, đã góp phần không nhỏ vào việc cung cấp những dữ liệu phong phú,
những đánh giá xác đáng về trình độ văn hóa, trình độ dân trí của một cộng
đồng, một khu vực, có khi cả một quốc gia… Tìm hiểu tình hình nghiên cứu về
vấn đề dạy học tập đọc, đến nay chúng tôi được biết đến cuốn sách “Một số vấn
đề về dạy hội thoại cho học sinh tiểu học” của tác giả Nguyễn Trí. Tác giả đã cố
gắng chọn lọc những kiến thức cơ bản, tối thiểu về hội thoại dựa theo chương
trình môn Tiếng Việt tiểu học ban hành năm 2001 và 2006 và lựa chọn cách
trình bày các kiến thức dựa trên sự phân tích một số dẫn chứng cụ thể để người
mới tiếp cận lí thuyết hội thoại dễ hiểu, dễ nhớ, dễ vận dụng. Bên cạnh đó, cuốn
sách còn giới thiệu các kiểu bài tập dạy học luyện nói trong bộ sách giáo khoa
Tiếng Việt tiểu học.Trong đề tài Khoa học & Công nghệ “Một số biện pháp nâng
cao hiệu quả rèn kĩ năng nói cho học sinh tiểu học ở môn Tiếng Việt” của Viện
Khoa học Giáo dục Việt Nam, tác giả Trần Thị Hiền Lương đã xác định được
các biện pháp dạy học rèn kĩ năng nói cho học sinh xuất phát từ đặc điểm lứa
tuổi học sinh tiểu học, từ lý luận dạy học hiện đại, theo hướng tăng cường thực
hành, luyện tập. Trong đề tài này, tác giả đã đưa ra các biện pháp rèn luyện kĩ

4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể
Những bài tập đọc của học sinh lớp 3.
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Học sinh lớp 3 ở Trường Tiểu học Đức Ninh Đông.
5. Giả thuyết khoa học
Nếu đưa những biện pháp dạy học tập đọc lớp 3 theo hướng đổi mới vào
chương trình học của học sinh thì sẽ giúp các em nâng cao kỹ năng đọc của
mình, từ đó học tốt phân môn Tập đọc. 5

6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu các vấn đề lí luận, kỹ năng đọc của học sinh Trường Tiểu học
Đức Ninh Đông.
- Đánh giá thực trạng dạy tập đọc cho học sinh lớp 3 ở Trường Tiểu học
Đức Ninh Đông.
- Đề xuất một số biện pháp dạy tập đọc lớp 3 theo hướng đổi mới hiện nay
cho học sinh ở Trường Tiểu học Đức Ninh Đông.
7. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu biện pháp dạy học tốt ở môn Tập đọc lớp 3 thuộc phân môn
Tập đọc lớp 3 ở Trường Tiểu học Đức Ninh Đông.
8. Đóng góp của đề tài
Thông qua tìm hiểu thực tế dạy học tập đọc, khảo sát những biện pháp dạy
học tập đọc theo hướng đổi mới ở Trường Tiểu học Đức Ninh Đông. Từ đó
chúng tôi có nhận xét, đánh giá và định hướng đúng trong quá trình dạy học Tập
đọc ở Tiểu học. Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng là một tài liệu tham khảo
hữu ích cho sinh viên và giáo viên nghành giáo dục Tiểu học.
9. Phương pháp nghiên cứu

NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ DẠY TẬP ĐỌC THEO HƯỚNG ĐỔI
MỚI HIỆN NAY
1. Cơ sở lý luận
1.1 Cơ sở tâm lý học và ngôn ngữ học
1.1.1 Cơ sở tâm lý học
Đọc được xem như là một hoạt động có hai mặt quan hệ mật thiết với nhau,
là việc sử dụng một bộ mã gồm hai phương diện. Thứ nhất, đó là quá trình vận
động của mắt, sử dụng bộ mã chữ-âm để phát ra một cách trung thành những
dòng văn tự ghi lại lời nói âm thanh. Quá trình này gọi là quá trình đọc thành
tiếng. Thứ hai, đó là sự vận động của tư tưởng, tình cảm, sử dụng bộ mã chữ-
nghĩa, tức là mối liên hệ giữa các con chữ và ý tưởng, các khái niệm chứa đựng
bên trong để nhớ và hiểu được nội dung những gì được đọc [10, trang 141]. Quá
trình này gọi là quá trình đọc hiểu. Mục đích của đọc thành tiếng là chuyển đổi
chính xác và ngày càng nhanh các kí hiệu văn tự thành kí hiệu âm thanh. Khi đọc
hiểu, mục đích của người đọc là làm rõ nghĩa các kí tự, làm rõ nội dung và đích
thông báo của văn bản. Lúc này quá trình đọc không chỉ là sự vận động của trí
tuệ. Nên đọc có ý thức là một yêu cầu quan trọng của đọc, trở thành một kỹ năng
của đọc. Đọc được xem như là một hoạt động có hai mặt quan hệ mật thiết với
nhau, là việc sử dụng một bộ mã gồm hai phương diện. Thứ nhất, đó là quá trình
vận động của mắt, sử dụng bộ mã chữ-âm để phát ra một cách trung thành những
dòng văn tự ghi lại lời nói âm thanh. Quá trình này gọi là quá trình đọc thành
tiếng. Thứ hai, đó là sự vận động của tư tưởng, tình cảm, sử dụng bộ mã chữ-
nghĩa, tức là mối liên hệ giữa các con chữ và ý tưởng, các khái niệm chứa đựng
bên trong để nhớ và hiểu được nội dung những gì được đọc. Quá trình này gọi là
quá trình đọc hiểu. Mục đích của đọc thành tiếng là chuyển đổi chính xác và
ngày càng nhanh các kí hiệu văn tự thành kí hiệu âm thanh. Khi đọc hiểu, mục
đích của người đọc là làm rõ nghĩa các kí tự, làm rõ nội dung và đích thông báo
của văn bản. Lúc này quá trình đọc không chỉ là sự vận động của trí tuệ. Nên đọc

+ Chuyển dạng thức chữ viết thành âm thanh, nghĩa là phát âm các từ theo
từng chữ cái (đánh vần) hay là đọc thành từng tiếng tùy thuộc vào trình độ nắm
kỹ thuật đọc.
+ Thông hiểu những gì được đọc (từ, cụm từ, câu, bài) kỹ năng đọc là một
kỹ năng phức tạp, đòi hỏi một quá trình rèn luyện lâu dài, chia việc hình thành
kỹ năng này ra làm 3 giai đoạn: phân tích tổng hợp (còn gọi là giai đoạn phát
sinh, hình thành một cấu trúc chỉnh thể của hành động) và giai đoạn tự động hóa.
Giai đoạn dạy học vần là sự phân tích các chữ cái và đọc từng tiếng theo các âm.
Giai đoạn tổng hợp thì đoc thành cả từ trọn vẹn, trong đó có sự tiếp nhận từ bằng 9

thị giác và phát âm hầu như trùng với nhận thức ý nghĩa. Tiếp theo sự thông hiểu
ý nghĩa của “từ” trong cụm từ hoặc câu đi trước sự phát âm, tức là đọc được thực
hiện trong sự đoán các nghĩa. Bước sang lớp 2, lớp 3 học sinh bắt đầu đọc tổng
hợp. Trong những năm cuối cấp, đọc càng ngày càng tự động hóa, nghĩa là
người đọc ngày càng ít quan tâm đến quá trình đọc mà chú ý nhiều đến việc
chiếm lĩnh văn hóa, nội dung của sự kiện, cấu trúc chủ đề, các phương tiện biểu
đạt của nó. Thời gian gần đây, người ta đã chú trọng hơn đến những mối quan hệ
quy định lẫn nhau của việc hình thành kỹ năng đọc và hình thành kỹ năng làm
việc với văn bản. Nghĩa là đòi hỏi giáo viên tổ chức giờ học đọc sao cho việc
phân tích nội dung của bài đọc đồng thời hướng dẫn đọc có ý thức bài đọc. Việc
đọc như thế nhằm vào sự nhận thức. Đọc là hiểu nghĩa chữ viết. Nếu trẻ không
hiểu được những từ ta đưa cho chúng đọc, chúng sẽ không có hứng thú học tập
và không có khả năng thành công. Do đó hiểu những gì được đọc sẽ tạo động cơ,
hứng thú cho việc đọc. Để có giờ tập đọc đạt hiệu quả tốt, người giáo viên phải
nắm được đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, nắm được các đặc điểm, yêu cầu,
bản chất, kỹ năng, cơ chế, mục đích cần đạt được của tiết dạy tập đọc.Trên cơ sở
đó sử dụng phương pháp cho phù hợp.

sinh biết làm chủ những yếu tố này
1.2 Các khái niệm công cụ
1.2.1 Biện pháp dạy học
a. Dạy học là một quá trình dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của
người giáo viên, người học tự giác, tích cực, chủ động, biết tự tổ chức, tự điều
khiển hoạt động nhận thức-học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ
dạy học.
b. Biện pháp dạy học là những cách thức làm việc giữa thầy, cô giáo và học
sinh, nhờ đó mà học sinh nắm vững được kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, hình thành
được thế giới quan và năng lực [10,trang122].
1.2.2 Điều chỉnh
Điều chỉnh là sự thay đổi mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện,
dạy hoc nhằm giúp học sinh phát triển tốt nhất phù hợp với những năng lực và
trình độ của học sinh.
1.2.3 Chính âm
Chính âm là các chuẩn mực phát âm của một ngôn ngữ có giá trị và hiệu
lực về mặt xã hội [10, trang 140].
1.2.4 Ngữ điệu
Ngữ điệu là sự thay đổi giọng nới, giọng đọc, là sự lên cao hay hạ thấp
giọng nói, giọng đọc [10, trang 140]. 11

Ngữ điệu là sự hòa phối của chỗ ngừng, tốc độ, chỗ nhấn giọng, cao độ…
tạo nên âm hưởng, giọng điệu của bài học. Nội dung của bài văn, bài thơ sẽ quy
định ngữ điệu đọc.
1.2.5 Kỹ năng đọc
a) Kỹ năng:
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về kỹ năng. Những định nghĩa này

dân tộc Việt Nam…).
Nội dung này được xếp theo hai giai đoạn phát triển:
Ở giai đoạn 1 (lớp 1, 2, 3) nội dung dạy học có nhiệm vụ hình thành những
cơ sở ban đầu cho việc học đọc, học viết, định hướng việc học nghe, học nói trên
cơ sở vốn Tiếng Việt mà các em đã có. Học đọc, học viết có vị trí đặc biệt quan
trọng ở giai đoạn này.Yêu cầu cơ bản ở giai đoạn này là đọc thông thạo và hiểu
đúng một văn bản ngắn, rõ ràng, đúng chính tả, nghe chủ động, nói chủ động,
rành mạch. Những bài học ở giai đoạn này chủ yếu là những bài thực hành đọc,
viết, nghe, nói. Tri thức tiếng Việt không được dạy thành bài riêng mà được rút
ra từ những bài thực hành, được học sinh tiếp thu một cách tự nhiên qua hoạt
động thực hành. Những tri thức về âm, chữ cái, tiếng (âm tiết) - chữ, thanh điệu
– dấu ghi thanh đều được học qua những bài dạy chữ. Tri thức về câu trong hội
thoại (câu hỏi – đáp và dấu câu) cũng không được dạy qua bài lí thuyết mà
chúng được hình thành ở học sinh qua việc hình dung cụ thể thế nào là câu hỏi,
câu đáp và dấu biểu thị chúng trong một văn bản có thực. Ở giai đoạn này, việc
nắm tri thức của học sinh chỉ yêu cầu dừng ở mức nhận diện và sử dụng được
các đơn vị tiếng Việt, các quy tắc sử dụng tiếng Việt khi tiến hành hoạt động
nghe, nói, đọc, viết. Phần tri thức có trong nội dung chương trình các lớp 1, 2, 3
vì vậy chỉ có giá trị xác định những tri thức cần cho học sinh làm quen, giúp các
tác giả sách giáo khoa có cơ sở để soạn thảo.
Ở giai đoạn 2 (lớp 4, 5) nội dung chương trình nhằm phát triển các kĩ năng
nghe, nói, đọc, viết ở một mức cao hơn, hoàn thiện hơn. Trong đó yêu cầu đọc
hiểu và viết một văn bản hoàn chỉnh được đặc biệt coi trọng. Ở giai đoạn này,
học sinh đã bước đầu được cung cấp những khái niệm cơ bản về một số đơn vị
ngôn ngữ và quy tắc sử dụng tiếng Việt làm nền móng vững chắc cho các kĩ
năng tiếng Việt. Bên cạnh những bài học thực hành (như ở giai đoạn trước) các
em còn học những bài về tri thức tiếng Việt (từ vựng, ngữ pháo, văn bản, phong
cách…). Những bài học này không được trình bày dưới dạng lí thuyết đơn thuần,
không phải được tiếp nhận hoàn toàn bằng tư duy trừu tượng mà chủ yếu vẫn
bằng cách nhận diện, phát hiện trên những ngữ liệu đã được đọc, viết, nghe, nói

Lựa chọn các phương pháp dạy học tương thích với nội dung học tập.
Giữa nội dung và phương pháp dạy học có mối quan hệ tác động lẫn nhau, trong
nhiều trường hợp quy định lẫn nhau. Ở bình diện kĩ thuật dạy học, phương pháp
dạy học cần tương thích với nội dung dạy học. Mỗi nội dung dạy học đều liên hệ
mật thiết với những hoạt động nhất định.
Lựa chọn phương pháp dạy học cần chú ý đến hứng thú, thói quen của học
sinh, kinh nghiệm sư phạm của giáo viên. Cần chuẩn đoán nhu cầu, hứng thú của
học sinh khi lựa chọn các phương pháp dạy học. Đối với việc trình bày thông tin 14

cần ưu tiên lựa chọn các phương pháp sử dụng phương tiện nghe nhìn, sử dụng
truyền thông đa phương tiện càng tốt. Đối với các hoạt động chế biến thông tin
cần tổ chức các hoạt động tự phát hiện, phối hợp với làm việc theo nhóm, phát
huy càng tối đa tính tích cực, sáng tạo của học sinh càng tốt. Chú ý thay đổi
phương pháp dạy học và hình thức tổ chức dạy học tránh nhàm chán, gây hứng
thú cho học sinh. Cần thay đổi phương pháp dạy học sau 15, 20 phút. Ưu tiên lựa
chọn các phương pháp dạy học mà học sinh, giáo viên đã thành thạo. Với các
phương pháp dạy học có ưu điểm tương đương, cần ưu tiên lựa chọn phương
pháp dạy học mà giáo viên và học sinh đã thành thạo, bởi thực hiện dễ dàng hơn.
Hiện nay, rất cần thiết phải cho giáo viên và học sinh trở nên quen thuộc với các
kĩ thuật dạy học mới có hiệu quả cao trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục.
Để nâng cao tay nghề cần:

Nghiên cứu các vấn đề đổi mới phương pháp dạy học qua sách, vở, giáo
trình, tạp chí chuyên môn, các lớp tập huấn

Rút kinh nghiệm các giờ dạy của bản thân kết hợp với tiến hành dự giờ,
trao đổi chuyên môn với đồng nghiệp

khả năng chế ngự một phương tiện văn hóa cơ bản giúp họ giao tiếp được với thế
giới bên trong của người khác, thông hiểu được tư tưởng tình cảm của người
khác, đặc biệt khi đọc các tác phẩm văn chương, con người không chỉ thức tỉnh
về nhận thức mà còn rung động tình cảm, nảy nở những ước mơ tốt đẹp, được
khơi dậy năng lực hành động sức mạnh sáng tạo cũng như được bồi dưỡng tâm
hồn. Không biết đọc, con người sẽ không có điều kiện hưởng thụ sự giáo dục mà
xã hội dành cho họ, không thể hình thành một nhân cách toàn diện. Đặc biệt
trong thời đại bùng nổ thông tin thì biết đọc ngày càng quan trọng vì nó sẽ giúp
con người sử dụng các nguồn thông tin, đọc chính là học, học nữa, học mãi, đọc
để tự học, học cả đời. Vì những lẽ trên, dạy đọc có vị trí rất quan trọng ở Tiểu
học. Đọc trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với những người đi học. Đầu
tiên trẻ phải học đọc, sau đó trẻ phải đọc để học. Đọc giúp các em chiếm lĩnh
được một ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và học tập. Nó là công cụ để học tập
môn học khác. Nó tạo ra hứng thú và động cơ học tập. Nó tạo ra điều kiện để học
sinh có khả năng tự học và tinh thần học tập cả đời. Nó là một khả năng không
thể thiếu được của một con người văn minh. Đọc một cách có ý thức cũng sẽ có
tác động tích cực tới trình độ ngôn ngữ cũng như tư duy của người đọc. Việc dạy
đọc sẽ giúp học sinh hiểu biết hơn, bồi dưỡng ở các em lòng yêu cái thiện và cái
đẹp, dạy cho các em biết suy nghĩ một cách logic cũng như biết tư duy có hình
ảnh. Như vậy đọc có một ý nghĩa to lớn và vị trí hết sức quan trọng vì nó bao
gồm các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển [10,trang 146].
Tập đọc với tư cách là một phân môn Tiếng Việt, tiếp tục những thành tựu
dạy học mà học vần đạt được, nhưng nâng lên một mức đầy đủ hơn, hoàn chỉnh 16

hơn. Tính đa nghĩa của “đọc” kéo theo tính đa nghĩa của “ biết đọc”. “Biết đọc”
được hiểu theo nhiều mức độ. Một em bé mới đi học biết đánh vần “ cờ - o –
co”, ngập ngừng đọc từng tiếng một, thế cũng gọi là biết đọc. Đọc thâu tóm được
17

Đối với phân môn Tập đọc, nhiệm vụ rèn luyện các kỹ năng cho học sinh
được đưa lên hàng đầu. Nhiệm vụ rèn luyện các kỹ năng trong giờ tập đọc có 2
kỹ năng chính: kỹ năng ngôn ngữ và kỹ năng nghe. Xét đến kỹ năng ngôn ngữ
có 4 kỹ năng cơ bản là nghe, nói, đọc, viết. Đối với phân môn Tập đọc chủ yếu
là 3 kỹ năng nghe, nói, đọc.Trong đó: Kỹ năng nghe bao gồm: nghe bạn đọc,
nghe giáo viên đọc,nghe chính mình đọc để phân biệt, tiếp nhận, nghe để thu
nhận thông tin. Nghe rất nhạy cảm bởi vì văn bản mang giá trị nghệ thuật nên
phải nghe để lựa chọn nhận biết những cái hay, cái đẹp trong văn bản. Kỹ năng
nói: Nói trước tập thể, nói lưu loát, rành mạch, tóm tắt được ý đoạn văn, ý câu
chuyện, bày tỏ được thái độ của mình, không nói lí nhí, rời rạc. Kỹ năng đọc :
Nếu phân biệt theo số lượng thì có đọc đồng thanh và đọc cá nhân. Đọc đồng
thanh nhằm giúp học sinh yếu dựa vào để đọc và làm thay đổi không khí giờ
học. Đọc cá nhân: nếu dựa vào âm phát ra ta có đọc to, đọc nhỏ, đọc nhẩm, đọc
thầm.Trong giờ tập đọc chủ yếu đọc to và đọc thầm. Nếu căn cứ vào trình độ đọc
thì chia làm 2 loại đó là đọc có nhẩm vần, đọc trơn, đọc nhanh, đọc lướt và đọc
đúng, đọc hiểu, đọc diễn cảm, đọc nghệ thuật.
1.4.2 Mục tiêu của phân môn Tập đọc ở Tiểu học:
Việc giảng dạy bộ môn Tập đọc trong nhả trường nhằm tạo cho các em
năng lực sử dụng tiếng Việt, văn hóa để suy nghĩ, giao tiếp và học tập phát triển
các kỹ năng đọc và nghe cho học sinh, trau dồi vốn tiếng việt, vốn văn học để
phát triển tư duy, mở rộng sự hiểu biết của học học sinh về cuộc sống cụ thể.
Làm giàu và tích cực hóa vốn từ, vốn diễn đạt. Bồi dưỡng vốn văn học ban đầu,
mở rộng hiểu biết về cuộc sống cung cấp mẫu để hình thành một số kĩ năng để
phục vụ cho đời sống và việc học tập của bản thân như điền vào các tờ khai (đơn
giản), làm đơn, viết thư, phát biểu trong cuộc họp, giới thiệu hoạt động của lớp.
Phát triển một số tư duy cơ bản như: phân tích, tổng hợp, phán đoán… Bồi

phát triển và ngược lại. Mối quan hệ này có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình dạy
tập đọc cho học sinh tiểu học.
Mục tiêu đầu tiên của phân môn Tập đọc trong nhả trường nhằm tạo cho
các em năng lực sử dụng tiếng Việt, văn hóa để suy nghĩ, giao tiếp và học tập
phát triển các kỹ năng đọc và nghe cho học sinh, trau dồi vốn tiếng việt, vốn văn
học để phát triển tư duy, mở rộng sự hiểu biết của học học sinh về cuộc sống cụ
thể. Để giờ học đạt kết quả cao thì phải đảm bảo nguyên tắc phát triển tư duy,
phát huy tính tích cực chủ đạo của học sinh. Do vậy, phần luyện đọc giáo viên
cần gợi mở, hướng dẫn học sinh những chỗ cần ngắt giọng, hạ giọng ở những
câu thơ, những đoạn văn trong bài để từ đó tìm ra cách đọc hay hơn.
1.5.2 Nguyên tắc giao tiếp ( nguyên tắc phát triển lời nói)
Để hình thành các kĩ năng, kĩ xảo ngôn ngữ, học sinh phải được hoạt động
trong các môi trường giao tiếp cụ thể, đặc biệt là môi trường văn hóa ứng xử.
Chỉ có trong môi trường giao tiếp, môi trường văn hóa ứng xử, học sinh mới 19

hiểu lời nói của người khác, đồng thời vận dụng ngôn ngữ sáng tạo, để người
khác hiểu được tư tưởng tình cảm của các em. Bởi lẽ ngôn ngữ có quan hệ chặt
chẽ với văn hóa của một dân tộc, nhất là văn hóa ứng xử. Chúng ta ai cũng biết,
trẻ em không thể lĩnh hội được lời nói nếu chúng không nắm được lời miệng. Do
vậy khi giảng dạy, cần đảm bảo nguyên tắc này. Điều này được thể hiện rõ hơn ở
phần luyện đọc, ở phần này học sinh được rèn luyện về cách phát âm, cách ngỉ
hơi đúng chỗ, cách đọc đúng ngữ điệu.
1.5.3 Nguyên tắc hướng tới những phương pháp và dạy học tích cực
Nguyên tắc này thể hiện sự kế thừa và phát huy những phương pháp và
hình thức tổ chức dạy học, phát huy tính tích cực của người học đã được vận
dụng trong dạy tập đọc từ lâu nay. Đưa vào những yếu tố mới ( những phương
pháp, kỹ thuật dạy học mới) để giúp người học phát huy tính tích cực trong học


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status