1
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp “Ứng dụng mô hình VNEN trong
dạy học môn Tự nhiên - Xã hội lớp 3” là công trình nghiên cứu của bản thân,
các số liệu, hình ảnh và kết quả nghiên cứu nêu trong khóa luận là trung thực,
khách quan và chưa từng công bố bất kì một công trình nào khác.
Tác giả
Đinh Thị Nga 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT Các chữ viết tắt Các chữ viết đầy đủ
1
PPDH Phương pháp dạy học
2
GV Giáo viên
3
HS Học sinh
4
SGK Sách giáo khoa
5
NXB Nhà xuất bản 4
MỤC LỤC
1.2.2.3. Việc “Ứng dụng mô hình VNEN trong quá trình dạy học môn Tự
nhiên và Xã hội lớp 3” của GV 27
CHƯƠNG II: ỨNG DỤNG MÔ HÌNH VNEN TRONG DẠY HỌC MÔN
TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 3 29
2.1. Giới thiệu chung về mô hình VNEN 29
2.2. Khái niệm về mô hình VNEN 30
2.3. Những đổi mới mô hình VNEN 30
2.3.1. Đổi mới tổ chức lớp học 30
2.3.1.1. Lập hội đồng tự quản (HĐTQ) 30
2.3.1.2. Góc học tập và góc thư viện lớp học 33
2.3.1.3. Tổ chức dạy – học theo nhóm 37
2.3.2. Đổi mới cấu trúc môn học và hoạt động giáo dục 41
2.3.3. Vị trí và vai trò của GV trong tổ chức dạy học theo mô hình VNEN 42
2.3.4. Đổi mới cách đánh giá theo thông tư 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28
tháng 8 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo 44
2.3.4.1. Đánh giá học sinh Tiểu học 37
2.3.4.2. Mục đích đánh giá 44
2.3.4.3. Nguyên tắc đánh giá 45
2.3.4.4. Nội dung đánh giá 45
2.3.4.5. Các hình thức đánh giá 45
2.3.4.6. Hồ sơ đánh giá 51
2.3.4.7. Sử dụng kết quả đánh giá 51
2.3.4.8. Tổ chức thực hiện 52
2.4. Quy trình 5 bước dạy học theo mô hình VNEN 53
2.5. Những ưu điểm và hạn chế của mô hình VNEN 56
2.5.1. Ưu điểm 56
2.5.2. Hạn chế 57
2.6. Kế hoạch bài dạy phát huy tính tích cực của học sinh trong môn Tự nhiên
- Xã hội lớp 3 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
7MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Một trong những vấn đề trọng tâm của việc đổi mới chương trình SGK ở
bậc Tiểu học nói chung, trong các môn về Tự nhiên và Xã hội nói riêng là đổi
mới PPDH. Đổi mới PPDH được hiểu là đưa các PPDH mới vào nhà trường
trên cơ sở phát huy mặt tích cực của các PPDH truyền thống nhằm nâng cao
chất lượng dạy học.
Liên quan đến việc đổi mới PPDH, đòi hỏi phải đổi mới các hình thức tổ
chức dạy học, đổi mới cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, đổi mới cách
đánh giá trong dạy học các môn về Tự nhiên và Xã hội.
Trong đổi mới phương pháp dạy học, việc phát huy tính tích cực học tập
của HS có nghĩa quan trọng. Giáo dục phải được thông qua hoạt động và hoạt
động của bản thân nên việc khơi dậy phát triển ý thức, ý chí năng lực của
người học là con đường phát triển tối ưu của giáo dục và để “Ứng dụng mô
hình VNEN trong dạy học môn Tự nhiên - Xã hội lớp 3” được nhiều trường áp
dụng nhằm phát triển tính tích cực và tư duy của người học.
Ở bậc Tiểu học, nội dung môn học phong phú, mỗi môn học đảm nhận
một vai trò khác nhau, cùng với môn Toán, Tiếng Việt thì môn Tự nhiên và
Xã hội trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản,góp phần bồi dưỡng
phẩm chất, nhân cách toàn diện cho HS.
Để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội, thì giáo dục không ngừng
được đổi mới và lần đổi mới này, tôi nghĩ là bước tiến quan trọng trong cải
cách giáo dục. Trong dạy học việc truyền thụ được kiến thức giúp cho HS lĩnh
hội được kiến thức một cách linh hoạt, sáng tạo, thì người GV cũng phải tìm
tòi, khám phá ra mọi kỹ năng nhằm giúp cho việc dạy học đạt kết quả cao.
vào thực tiễn, góp phần hình thành nhân cách. Cụ thể:
+ Về kiến thức: Giúp HS lĩnh hội những kiến thức cơ bản ban đầu về
thực tế: Con người, sức khỏe, xã hội thế giới vật chất xung quanh.
+ Về kĩ năng: Hình thành và phát triển cho học sinh những kĩ năng như:
quan sát, phân tích, so sánh,
+ Về thái độ: Hình thành và phát triển ở thái độ và thói quen: ham hiểu
biết, yêu thiên nhiên, đất nước, con người, cách ứng xử đúng đắn,
Vì vậy việc tìm hiểu nhằm đáp ứng nhu cầu về đổi mới phương pháp dạy
học với việc “Ứng dụng mô hình VNEN trong dạy học môn Tự nhiên - Xã hội
lớp 3” đã được một số tác giả đề cập đến trong nhiều chương trình nghiên cứu
khoa học với nhiều bài viết.
9
Trong cuốn “Tự nhiên và Xã hội và phương pháp dạy học Tự nhiên - Xã
hội”, tập 1 của Lê Văn Trưởng, Hoàng Thanh Hải, Nguyễn Song Hoan đã
giới thiệu khá chi tiết những kiến thức về tự nhiên, xã hội qua các chủ đề sinh
học, vật chất, năng lượng, địa lý, xã hội , lịch sử nhằm xác định hệ thống tri
thức cơ bản của từng phân môn trong chương trình. Đồng thời tác giả còn đưa
ra PPDH cụ thể cho từng chủ đề.
Nhằm nâng cao sự hiểu biết, trình độ giảng dạy cho GV, Trần Mạnh
Hưởng và Trần Thị Minh Phương biên soạn cuốn “dạy lớp 3 theo chương
trình Tiểu học mới”. Trong cuốn này tác giả đi sâu nghiên cứu về những đổi
mới của chương trình và SGK ở Tiểu học, đưa ra một số phương pháp dạy
học các môn ở Tiểu học nhằm phát huy tính tích cực của HS. Riêng môn Tự
nhiên và Xã hội lớp 3 do Nguyễn Tuyết Nga và Bùi Phương Nga biên soạn.
Ngoài ra các tài liệu trên Internet còn cung cấp cho GV nhiều kiến thức
cập nhận về mô hình VNEN giúp GV hiểu sâu hơn về mô hình và áp dụng
vào giảng dạy trong môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3 và nhiều môn học khác
một cách linh hoạt, sáng tạo.
- Phương pháp thực nghiệm.
6. Giả thuyết khoa học
Khóa luận nếu thực hiện thành công sẽ:
- Là tài liệu tham khảo cho GV dạy Tự nhiên - Xã hội lớp 3 và sinh viên
ngành Giáo dục Tiểu học.
- Các biện pháp xây dựng, đề xuất trong khóa luận sẽ góp phần nâng cao
hiệu quả giáo dục.
7. Cấu trúc khóa luận
Khóa luận có 3 phần:
Phần 1: Mở đầu:
Một số vấn đề chung của khóa luận
Phần 2: Nội dung (3 chương)
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của nghiên cứu vấn đề
Chương 2: Ứng dụng mô hình VNEN trong dạy học môn Tự nhiên - Xã
hội lớp 3
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Phần 3: Kết luận – Kiến nghị
Tài liệu tham khảo 11
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH VNEN
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Dạy học theo mô hình VNEN trong trường Tiểu học
1.1.1.1. Phương pháp dạy học
mục đích hình thành năng lực ở HS để chọn PPDH phù hợp là điều quan
trọng (thí dụ B.Bloom chia mức độ nhận thức: nhận biết, thông hiểu, vận
dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá).
PPDH gắn liền với nội dung dạy học.
PPDH gắn liền với đặc điểm đối tượng và hình thức tổ chức lớp học.
1.1.1.2. Phương pháp dạy học tích cực
Với định hướng tích cực hóa người học, lấy HS làm trung tâm, đây là
hướng đi đúng đắn góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục Tiểu học, tạo điều
kiện để cá thể hóa dạy học và khuyến khích dạy học phát triển những kiến
thức trong bài học.
Vấn đề “Dạy học lấy học sinh làm trung tâm” được hiểu đúng và đầy đủ
trong trường hợp không chỉ có người dạy mà người học thấy rõ được quá
trình dạy và học luôn gắn liền với đời sống xã hội. Ngày nay, để thích ứng với
cơ chế thị trường, thanh niên HS đã có những chuyển biến về mục đích, động
cơ học tập. Thay cho mục đích cứng nhắc trước kia, học để trở thành cán bộ
nhà nước, có việc làm ổn định suốt đời là học để chuẩn bị cho cuộc sống, cho
có việc làm ngày càng tốt hơn. Thay cho tâm lý ỷ lại là sự tháo vát, tự xoay
xở. Cùng với những điều chỉnh trong xã hội về sử dụng lao động, tiền lương,
đãi ngộ, khắc phục tiêu cực, thanh niên ngày nay đã ý thức được rằng học
giỏi trong nhà trường đồng nghĩa với thành đạt trong cuộc đời, phấn đấu trong
học tập là con đường tốt nhất để mỗi thanh niên đạt tới vị trí kinh tế, xã hội
phù hợp với năng lực của họ. Điều này đòi hỏi nhà trường phải thay đổi nhiều
về nội dung, phương pháp đào tạo để có những sản phẩm ngày càng tốt hơn
cung cấp cho thị trường lao động. Việc dạy học lấy HS làm trung tâm ngày
càng có thuận lợi để phát triển nhanh chóng.
Nói phương pháp dạy học có nghĩa là bàn đến cách thức tổ chức, điều
khiển, là con đường truyền tải nội dung, kiến thức nhằm đạt được mục tiêu
trong dạy học.
13
- Đổi mới phương tiện dạy học khuyến khích dùng phiếu học tập, đồ
dùng học tập, phuownng tiện kĩ thuật.
- Đổi mới cách đánh giá GV và HS.
14
Để đổi mới PPDH cần đưa các PPDH mới vào nhà trường trên cơ sở
phát huy mặt tích cực của các PPDH để nâng cao chất lượng dạy học, nâng
cao hiệu quả giáo dục và đào tạo. Hiểu như vậy không thể chỉ nhấn mạnh đến
một vài phương pháp mới, mà không kế thừa các phương pháp truyền thống,
cũng không chỉ cải thiện những phương pháp hiện có mà không đưa những
phương pháp mới vào nhà trường.
Đổi mới PPDH ở Tiểu học phải thực hiện đồng bộ với việc đổi mới mục
tiêu và nội dung giáo dục, đổi mới đào tạo và bồi dưỡng giáo viên, đổi mới cơ
sở và thiết bị giáo dục, sử dụng phương tiện dạy học phù hợp - và CNTT là
một trong những phương tiện quan trọng góp phần đổi mới phương pháp dạy
học, đồng thời kết hợp với việc đổi mới chỉ đạo và đánh giá ở Tiểu học. Đó là
một quá trình lâu dài, tránh nôn nóng, cực đoan, bảo thủ; phải kế thừa những
thành tựu về PPDH của đội ngũ GV Tiểu học ở nước ta và khiêm tốn học tập
những kinh nghiệm thành công của đổi mới PPDH ở Tiểu học của các nước.
Phải kế thừa và phát huy những mặt tích cực của PPDH truyền thống và vận
dụng hợp lý các PPDH mới. Mức độ thực hiện đổi mới PPDH ở Tiểu học tùy
thuộc vào từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể cũng như vào sự cố gắng của từng
địa phương, của GV từng trường, từng lớp.
1.1.1.3. Dạy học theo mô hình VNEN trong trường Tiểu học
Phương pháp dạy học theo mô hình VNEN là cách dạy hướng tới việc
học tập chủ động. Mô hình VNEN đòi hỏi phát huy tính tích cực của cả người
dạy và người học. Thực chất phương pháp này đòi hỏi người dạy phải phát
huy tính tich cực chủ động của người học.
a. Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động của học sinh
Việc học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp nhưng được sử
dụng phổ biến nhất trong dạy học là hợp tác nhóm nhỏ 4 đến 6 người.
Hoạt động tập thể nhóm, tập thể lớp sẽ làm cho từng thành viên quen dần
với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội, hiệu quả học tập sẽ tăng lên
nhất là phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện nhu cầu phối hợp
giữa các cá nhân để hoàn thành một nhiệm vụ xác định.
Trong hoạt động hợp tác, mục tiêu hoạt động là chung của toàn nhóm
nhưng mỗi cá nhân được phân công một nhiệm vụ cụ thể, trong nhóm nhỏ
mỗi cá nhân đều phải nỗ lực không thể ỷ lại cho người khác, toàn nhóm phải
phối hợp với nhau để cuối cùng đạt mục tiêu chung.
Kết quả làm việc của từng nhóm được trình bày thảo luận trước lớp sẽ
tạo một không khí thi đua giữa các nhóm, đóng góp tích cực vào kết quả
chung của bài học.
16
Trong xu hướng toàn cầu hóa, xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia,
liên quốc gia thì năng lực hợp tác thực sự trở thành một mục tiêu đào tạo của
giáo dục nhà trường.
c. Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò.
Trong mô hình VNEN, việc rèn luyện phương pháp học để chuẩn bị cho
HS khả năng học tập liên tục, suốt đời được xem như một mục tiêu giáo dục
thì GV phải hướng dẫn HS phát triển khả năng tự đánh giá để tự điều chỉnh
cách học.
Liên quan tới điều này, giáo viên phải tạo điều kiện để HS tham gia
đánh giá lẫn nhau. Việc HS tham gia tự đánh giá lẫn nhau sẽ có tác dụng tích
cực để HS tự học và điều chỉnh bản thân.
Theo hướng phát triển của mô hình VNEN là để đào tạo những con
người năng động, sớm thích ứng được với đời sống xã hội, hòa nhập và góp
của một đối tượng nào đó. Ví dụ : Trẻ khó phân biệt cây mía và cây sậy. Tri
giác thường gắn với hành động, với hoạt động thực tiễn : trẻ phải cầm nắm, sờ
mó sự vật thì tri giác sẽ tốt hơn. Tri giác và đánh giá không gian, thời gian
còn hạn chế : tri giác chưa chính xác độ lớn của những vật quá lớn hoặc quá
nhỏ, thí dụ trái đất to bằng mấy tỉnh. Tri giác thời gian còn hạn chế hơn.
- Tư duy của trẻ mới đến trường là tư duy cụ thể, mang tính hình thức,
dựa vào đặc điểm bên ngoài. Nhờ hoạt động học tập, tư duy dần mang tính
khái quát. Khi khái quát, HS Tiểu học thường dựa vào chức năng và công
dụng của sự vật hiện tượng, trên cơ sở này chúng tiến hành phân loại, phân
hạng. Hoạt động phân tích tổng hợp còn sơ đẳng. Việc học Tự nhiên và Xã
hội sẽ giúp các em biết phân tích và tổng hợp. Trẻ thường gặp khó khăn trong
việc thiết lập mối quan hệ nhân quả.
- Tưởng tượng còn tản mạn, ít có tổ chức, hình ảnh tưởng tượng thì đơn
giản, hay thay đổi. Tưởng tượng tái tạo từng bước hoàn thiện. Ngoài ra, “nói
dối” là hiện tượng gắn liền với sự phát triển tưởng tượng ở trẻ.
- Chú ý không chủ định vẫn phát triển, chú ý có chủ định còn yếu và
thiếu bền vững. Sự phát triển chú ý gắn liền với sự phát triển của hoạt động
học tập.
- Trí nhớ trực quan hình tượng phát triển hơn trí nhớ từ ngữ lôgic. Nhiều
HS tiểu học còn chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa mà có khuynh
hướng phát triển trí nhớ máy móc. Ghi nhớ gắn với mục đích đã giúp trẻ nhớ
nhanh hơn, lâu hơn và chính xác hơn.
1.1.2.2. Đặc điểm nhân cách
a. Tính cách của học sinh Tiểu học
18
Nét tính cách của HS Tiểu học mới hình thành nên chưa ổn định. Hành
vi của trẻ mang tính xung động cao (bột phát), và ý chí còn thấp. Tính cách
điển hình của trẻ là hồn nhiên và cả tin, trẻ thích bắt chước hành vi của người
19
- Đổi mới phương tiện dạy học. Tận dụng không gian lớp học để xây
dựng bộ môn để trưng bày các đồ dùng dạy học, các sản phẩm học tập của HS
- Đổi mới điều tra và đánh giá trong môn học Tự nhiên và Xã hội. Đánh
giá coi trọng thái độ và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tế. 1.2. Cở sở thực tiễn
1.2.1. Chương trình và nội dung SGK môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3
1.2.1.1. Mục tiêu
Tự nhiên và Xã hội là một môn học cung cấp cho HS những hiểu biết cơ
bản ban đầu về các sự vật, sự kiện, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội với mối
quan hệ đời sống thực tế của con người. Để đáp ứng yêu cầu phát triển của
nền giáo dục nhà nước, chương trình bậc Tiểu học đã thực hiện đổi mới SGK
và nội dung chương trình dạy học ở các lớp, các môn nói chung và môn Tự
nhiên và Xã hội nói riêng. Chương trình được xây dựng theo quan điểm tích
hợp, quan điểm này hoàn toàn phù hợp với quy luật nhận thức của con người:
“từ trực quan sinh động đến trực quan trừu tượng”.
Chương trình môn Tự nhiên và Xã hội được xây dựng theo quan điểm
sau:
- Quán triệt tư tưởng tích hợp, coi tự nhiên, con người và xã hội là một
thể thống nhất, có mối quan hệ qua lại, trong đó con người với những hoạt
động của mình vừa là cầu nối giữa Tự nhiên - Xã hội vừa là tác động mạnh
mẽ đến Tự nhiên và Xã hội.
- Quá trình được phát triển theo nguyên tắc từ gần đến xa, từ đơn giản
đến phức tạp.
- Nội dung được lựa chọn thiết thực, gần gũi và có ý nghĩa với HS, giúp
các em dễ dàng thích ứng với cuộc sống hằng ngày.
- Tăng cường tổ chức cho HS quan sát, thực hành để tìm tòi phát hiện ra
trí và sự chuyển động của Trái đất trong hệ Mặt trời; sự chuyển động của Mặt
trăng quanh Trái đất; hình dạng đặc điểm bề mặt Trái đất; biết ngày, đêm,
năm, tháng và các mùa.
Chương trình môn Tự nhiên - Xã hội được cấu trúc thành 3 chủ đề:
Con người và sức khỏe, xã hội, tự nhiên.
1.2.1.2 Nội dung
SGK Tự nhiên và Xã hội lớp 3 có 3 chủ đề, gồm 70 bài tương ứng với 70
tiết của 35 tuần. Trong đó có 63 bài học mới và 7 bài ôn tập được phân phối
như sau:
21
- Con người và sức khỏe: 16 bài mới và 2 bài ôn tập, kiểm tra.
- Xã hội: 18 bài mới và 3 bài ôn tập, kiểm tra.
- Tự nhiên: 29 bài mới và 2 bài ôn tập. Kiểm tra.
Nội dung kiến thức trong toàn bộ sách được thiết kế theo nguyên tắc từ
gần đến xa, dẫn dắt HS mở rộng vốn hiểu biết từ bản thân, đến gia đình,
trường học; từ cuộc sống xung quanh, những cây cối con vật thường gặp đến
thiên nhiên rộng lớn, Mặt Trời, Trái Đất, Mặt Trăng. Nội dung mỗi chủ đề
đều tích hợp giáo dục sức khỏe một cách hợp lý: Đi từ sức khỏe cá nhân trong
chủ đề con người và sức khỏe đến sức khỏe cộng đồng và sức khỏe liên quan
trong chủ đề tự nhiên.
Nội dung cụ thể:
TT Tên bài Trang
CON NGƯỜI VÀ SỨC KHỎE
Bài 1 Hoạt động thở và cơ qua hô hấp 4
Bài 2 Nên thở như thế nào? 6
Bài 3 Vệ sinh hô hấp 8
Bài 4 Phòng bệnh đường hô hấp 10
Bài 5 Bệnh lao phổi 12
Bài 36 Vệ sinh môi trường 68
Bài 37 Vệ sinh môi trường (tiếp theo) 70
Bài 38 Vệ sinh môi trường (tiếp theo) 72
Bài 39 Ôn tập: Xã hội 74
TỰ NHIÊN
Bài 40 Thực vật 76
23
Bài 41 Thân cây 78
Bài 42 Thân cây (tiếp theo) 80
Bài 43 Rễ cây 82
Bài 44 Rễ cây (tiếp theo) 84
Bài 45 Lá cây 86
Bài 46 Khả năng kì diệu của lá cây 88
Bài 47 Hoa 90
Bài 48 Quả 92
Bài 49 Động vật 94
Bài 50 Côn trùng 96
Bài 51 Tôm, cua 98
Bài 52 Cá 100
Bài 53 Chim 102
Bài 54 Thú 104
Bài 55 Thú (tiếp theo) 406
Bài 56- 57
Thực hành: Đi thăm thiên nhiên 108
Bài 58 Mặt Trời 110
Bài 59 Trái Đất. Quả địa cầu 112
Bài 60 Sự chuyển động của Trái Đất 114
văn hóa, y tế; làng quê và đô thị; giữ vệ sinh nơi công cộng; an toàn giao
thông (quy tắc đi xe đạp).
- Chủ đề: Tự nhiên:
Thực vật và động vật: Đặc điểm bên ngoài của cây xanh và một số con
vật (nhận biết đặc điểm chung và riêng của một số cây cối và con vật).
Mặt trời và Trái đất: Măt trời: nguồn sáng và nguồn nhiệt; vai trò của
Mặt trời đối với sự sống trên Trái đất; Trái đất trong hệ Mặt trời; Mặt trăng và
25
Trái đất. Trái đất: hình dạng, đặc điểm bề mặt và sự chuyển động của Trái
đất; ngày, đêm, năm, tháng và các mùa.
1.2.2. Thực trạng dạy học theo mô hình VNEN ở trường Tiểu học
1.2.2.1. Nhận thức của giáo viên về chương trình dạy học theo mô hình
VNEN
Tôi đã đưa ra 4 nội dung nhằm kiểm tra khả năng hiểu biết của GV về
dạy học theo mô hình VNEN.
Kết quả thu được như sau:
STT
Khái niệm Số lượng
người
tham gia
Ý kiến tán
thành
Tỉ lệ tán
thành(%)
1
Là mô hình dạy học tổ chức