Khảo sát một số hoạt động cung ứng thuốc tại bệnh viện hữu nghị và bệnh viện bạch mai - Pdf 30

^ ^ ^ ^itr ^ ịk - ^ ^ y i. ^ ^ /b - ^ /t - Jiột ^jii^ -âỢí- <s^)fe- j)(/i~ ^ -=s^^ ^ -JIC/L ~^/i- -4 /- ^ *
BỘ Y TÊ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI
NGUYỄN HỒNG ANH
KHẢO SÁT MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG CUNG ÚNG THUỐC
TẠI BỆNH VIỆN HÜU NGHỊ VÀ
BỆNH VỆN BẠCH MAI
(KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Dược
SỸ KHÓA 2001 ■ 2006)
f
f
ể Giáo viên hướng dẫn: ThS. Hoàng Thi Minh Hiền
¥
f

f
¥
Noi thực hiện
Thòi gian thực hiện
Trường Đại học Dược Hà Nội
Bệnh viện Hữu Nghị
Bệnh viện Bạch Mai
10/2005-05/2006
HÀ NỘI, THÁNG 05/2006
'Tfỉir' '-utl'tr' -Tfllr
f

¥

f

1.1. Tổng quan về bệnh viện 3
1.1.1 Khái niệm, chức năng và nhiệm vụ của bệnh viện 3
1.1.2 Vị trí, chức năng và nhiệm vụ của khoa dược bệnh viện

4
1.1.3 Hội đồng thuốc và điều tr ị
5
1.2. Hoạt động cung ứng thuốc trong bệnh viện 9
1.2.1 Lựa chọn thuốc 10
1.2.2 Mua sắm thuốc 11
1.2.3 Cấp phát thuốc
14
1.2.4 Hướng dẫn sử dụng thuốc
15
1.3. Vài nét về thực trạng cung ứng thuốc tại các bệnh viện ở nước ta 16
PHẦN 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u

20
2.1 Đối tưcmg nghiên cứu 20
2.2 Thời gian nghiên cứu 21
2.3 Phương pháp nghiên cứu
21
PHẦN 3: KẾT QUẢ NGHIÊN cứ u VÀ BÀN LUẬN

24
3.1 Khảo sát một sô yếu tô ảnh hưỏng đến hoạt động cung ứng thuốc
tại hai bệnh viện 24
3.1.1 Quy mô tổ chức và hoạt động 24
3.1.2 Kinh phí dành cho mua thuốc 26
3.1.3 Mô hình bênh tât bênh viên

BYT : Bộ Y tế
CNTT : Công nghệ thông tin
DMT : Danh mục thuốc
GMP : Good manufacture practice - Thực hành sản xuất tốt
GN : Gây nghiện
GSP : Good storage practice - Thực hành tồn trữ tốt
HĐT & ĐT : Hội đồng thuốc và điều trị
HTT : Hướng tâm thần
ICD : International Classification of Diseases
Bảng phân loại bệnh tật quốc tế
KCB : Khám chữa bệnh
NSAID : Non-steroidal anti-inflammatory drug
Thuốc chống viêm phi steroid
P.D.P : Pharmacist-Doctor-Patient
Mối quan hệ Dược sỹ-Bác sỹ-Bệnh nhân
SD : Sử dụng
STT rSốthứtự
sx : Sản xuất
TD : Tác dụng
WHO : World Health Organization - Tổ chức y tế thế giới
Bảng
Tên bảng
Trang
1.1
Một số văn bản pháp quy chính yếu về quản lý, hướng dẫn
sử dụng thuốc trong bệnh viện
8
1.2
Tỷ lệ tiền thuốc so vói tiền chi phí chung
18

của BV Hữu Nghị và BV Bạch Mai năm 2005
40
3.9
Kết quả đấu thầu thuốc quý I & II năm 2006 của hai BV
44
3.10
Một số tiêu chí xét chọn thuốc dự thầu tại hai BV
50
Hình
Tên hình Trang
1.1
Sơ đồ chu trình hoạt động cung ứng thuốc
9
1.2
Các yếu tố ảnh hưởng đến Danh mục thuốc bệnh viện
11
1.3
Các yếu tố cơ bản trong hoạt động Cấp phát thuốc 15
3.1
Biểu đồ về số lượt bệnh nhân điều trị nội trú và khám ngoại
trú tại bệnh viện Hữu Nghị và bệnh viện Bạch Mai năm 2005
26
3.2
Biểu đồ cơ cấu nguồn kinh phí mua thuốc tại BV Hữu Nghị và
BV Bạch Mai năm 2005
27
3.3
Biểu đồ về mô hình bệnh tật BV Bạch Mai và BV Hữu Nghị
năm 2005
31

lý là một khó khăn đặt ra cho ngành Dược nói riêng và ngành Y tế nói chung.
Hiện nay, ở Việt Nam hệ thống các bệnh viện công vẫn đóng một vai
trò lớn bên cạnh sự tăng lên của dịch vụ y tế tư nhân và các nhà thuốc tư. Vói
tình trạng các bệnh viện hiện nay đều quá tải bệnh nhân, công tác dược bệnh
viện càng cần phải thể hiện được vai trò của mình. Hoạt động cung ứng thuốc
trong bệnh viện hiện nay không còn chỉ gói gọn trong việc mua thuốc và cấp
phát thuốc mà bên cạnh đó còn phải đảm bảo thuốc được cung ứng đầy đủ, kịp
thời và được hướng dẫn sử dụng an toàn, hợp lý. Với sự phát triển mạnh của
ngành kinh doanh dược phẩm; sự tham gia của hàng trăm công ty dược lớn
nhỏ trên thị trường; sự đa dạng trong hoạt động kinh doanh, tiếp thị, nhập
khẩu, phân phối thuốc; cũng như những điều kiện thuận lợi hơn dành cho
công tác dược bệnh viện, hoạt động cung ứng thuốc tại bệnh viện gặp phải
không ít những đòi hỏi và thách thức trong việc lựa chọn, mua sắm, phân phối
và sử dụng thuốc.
Việc nghiên cứu, khảo sát hoạt động cung ứng thuốc tại bệnh viện là rất
cần thiết cho việc triển khai và hoàn thiện những lý thuyết cơ bản nhằm góp
phần nâng cao hiệu quả hoạt động của khoa Dược trong bệnh viện. Do đó, tôi
xin chọn đề tài nghiên cứu “Khảo sát một sô hoạt động cung ứng thuốc tại
bệnh viện Hữu Nghị và bệnh viện Bạch Mai” với các mục tiêu sau:
1. Sơ bộ khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động cung ứng thuốc
tại bệnh viện Hữu Nghị và bệnh viện Bạch Mai.
2. Phân tích, đánh giá danh mục thuốc tại hai bệnh viện.
3. Khảo sát và so sánh hoạt động đấu thầu thuốc tại hai bệnh viện.
4. Đưa ra một số đề xuất nhằm cải thiện hoạt động cung ứng thuốc tại
bệnh viện.
PHẦN 1 - TỔNG QUAN
1.1. TỔNG QUAN VỂ BỆNH VIỆN
1.1.1. Khái niệm, chức năng và nhiệm vụ của bệnh viện
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa: **Bệnh viện là một bộ phận
không thể tách rời của tổ chức xã hội y tếy chức năng của nó là chàm sóc

bệnh viện về mọi hoạt động của khoa, phòng mình.
1.1.2. Vị trí, chức năng và nhiệm vụ của khoa Dược bệnh viện [3] [6]
Khoa Dược là một khoa chuyên môn thuộc sự quản lý, điều hành trực
tiếp của giám đốc bệnh viện. Trong mỗi bệnh viện chỉ có một khoa Dược đảm
nhận mọi công tác dược trong bệnh viện về chuyên môn, kỹ thuật kinh tế,
quản lý; có vai trò và trách nhiệm trong công tác điều tiỊ. Khoa Dược nằm
trong khối cận lâm sàng và là nơi thực thi chính sách quốc gia về thuốc.
Chức năng cơ bản của khoa Dược là đảm bảo cung ứng thuốc, hóa chất
và vật liệu y tế một cách hợp lý và hiệu quả cho các viện, trung tâm, khoa,
phòng trong bệnh viện.
Các nhiệm vụ của một khoa Dược bệnh viện nhằm thực hiện được chức
năng cung ứng của mình là:
> Mua sắm và/hoặc pha chế thuốc, hóa chất, vật liệu y tế có chất lượng tốt
theo đúng tiêu chuẩn hoặc yêu cầu, phù hợp với nhu cầu sử dụng và khả năng
tài chính của bệnh viện.
> Kiểm soát chất lượng, kiểm nghiệm thuốc và hóa chất trước khi nhập kho.
> Tổ chức và quản lý hệ thống kho đảm bảo các điều kiện cần thiết để bảo
quản thuốc tốt.
> Quản lý cấp phát thuốc đúng, đủ theo các quy chế, quy định của ngành.
> Kiểm tra, giám sát, hướng dẫn việc thực hiện các quy chế dược để đảm bảo
kê đcfn và sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả.
> Thống kê, lưu trữ các thông tin về tình hình tiêu thụ, sử dụng thuốc tại các
khoa phòng trong bệnh viện. Đồng thời thu thập các thông tin về ADR.
Thường xuyên báo cáo lên giám đốc bệnh viện.
> Quản lý nhà thuốc.
1.1.3. Hội đồng thuốc và điều trị
Sau khi triển khai thí điểm xây dựng Hội đồng thuốc và điều trị (HĐT
& ĐT) tại 4 bệnh viện vào năm 1996, BYT ra Chỉ thị 03/CT-BYT (ngày
25/02/1997) về việc chấn chỉnh công tác cung ứng, quản lý và sử dụng thuốc
tại các cơ sở khám chữa bệnh. Ngày 04/07/1997, BYT tiếp tục ban hành

Hội đồng tiến hành họp định kỳ mỗi tháng một lần và những khi cần
thiết do giám đốc bệnh viện yêu cầu và chủ tịch Hội đồng triệu tập. Phó chủ
tịch Hội đồng chuẩn bị nội dung họp và gửi tài liệu đến các thành viên trong
Hội đồng trước khi diễn ra cuộc họp. Trên cơ sở đó, Hội đồng sẽ thảo luận,
phân tích các ý kiến đề xuất, uỷ viên thường trực tổng hợp trình lên giám đốc
bệnh viện phê duyệt và quyết định thực hiện. Sau 3-6-9-12 tháng làm báo cáo
sơ kết và tổng kết một lần.
Sự có mặt của các HĐT & ĐT tại các bệnh viện đã bước đầu nâng cao
vai trò của khoa Dược bệnh viện và hỗ trợ nhiều cho Ban Giám đốc trong việc
tăng cường sử dụng thuốc an toàn, hợp lý. Báo cáo về hoạt động của HĐT &
ĐT trong năm 2005 của Vụ điều trị cho biết: 97% HĐT & ĐT đã xây dựng
DMT dùng trong bệnh viện; 62% đã tiến hành bình đơn, bình bệnh án tại các
khoa lâm sàng. Tuy nhiên, trên thực tế nhiều bệnh viện thực hiện chưa thường
xuyến, chỉ tập trung khi có kiểm tra của cấp trên, hoặc làm hình thức, mới chỉ
là kiểm tra các thủ tục hành chính của đơn thuốc và bệnh án, chưa thực sự đi
sâu vào điều chỉnh sử dụng thuốc hợp lý trong bệnh viện. Một số bệnh viện
chỉ báo cáo lấy thành tích.
Ví du:
Trong 4 tháng đầu năm 2005, có bệnh viện báo cáo bình được 400
bệnh án trong một tháng đầu năm 2005, như vậy bình quân mỗi
ngày bình được 15,5 bệnh án. Đây là số liệu chưa chính xác.
Có bệnh viện khác báo cáo mỗi tháng bình 50 bệnh án và tổ chức
bình một lần trong một tháng, như vậy mỗi lần bình 50 bệnh án.
Đây là điều không thể thực hiện được.
Trích Báo cáo năm 2005 của Vụ điều trị
Trong giai đoạn 2005 - 2010, BYT có các định hướng nâng cao năng
lực hoạt động cho các HĐT & ĐT tại các cơ sở khám chữa bênh bằng các hoạt
động cụ thể sau:
• Tổ chức lớp dược lâm sàng cung cấp cán bộ cho đơn vị tháo gỡ khó khăn
về nhân lực và hạn chế về tập huấn tản mạn,

Ban hành quy chế quản lý thuốc gây nghiện
7
1442/2002/QĐ-BYT
Sửa đổi bổ sung một số điều về quy chế Quản lý thuốc GN
8 2032/1999/QĐ-BYT
Ban hành quy chế quản lý thuốc độc
9
3046/2001/QĐ-BYT
Bổ sung DMT độc và DMT giảm độc
10 3047/2001/QĐ-BYT
Ban hành quy chế quản lý thuốc hướng tâm thần và tiền chất
11 71/2004/QĐ/BYT
Bổ sung một số chất vào DMT hướng tâm thần và tiền chất
12
2701/2001/QĐ-BYT
Triển khai áp dụng nguyên tắc GSP
13
1847/2003/QĐ-BYT
Ban hành quy chế kê đoín và bán thuốc theo đoíi
14 03/2005/QĐ-BYT
Ban hành DMT chủ yếu sử dụng tại các cơ sở KCB
15 17/2005/QĐ-BYT
Ban hành danh mục thuốc thiết yếu lần V
1.2. HOẠT ĐỘNG CUNG ÚNG THUỐC TRONG BỆNH VIỆN [23]
Mục tiêu của công tác cung ứng thuốc trong bệnh viện là cung cấp cho
bệnh nhân những thuốc đúng, có chất lượng tốt, đầy đủ, kịp thời, an toàn và
hợp lý. Để thực hiện được tốt công tác cung ứng thuốc cần có sự hỗ trợ của
hoạt động quản lý, đặc biệt là quản lý thông tin và quản lý nguồn nhân lực.
Bên cạnh đó, những ứng dụng của công nghệ thông tin trong quản lý dược
bệnh viện đóng một vai trò không thể phủ nhận.

rất quan trọng để có được một bộ máy hoạt động hài hòa, linh hoạt và phát
huy được tối đa hiệu quả các nguồn lực. [3]
1.2.1. Lựa chọn thuốc
Lựa chọn thuốc là công việc đầu tiên một khoa Dược bệnh viện phải
làm và nó có ảnh hưởng lớn đến chất lượng và chi phí điều trị. Vói sự phát
triển của ngành Dược, sự tăng lên không ngừng của các loại thuốc cả về số
lượng, chủng loại, dạng bào chế cũng như sự ra đời của hàng loạt các thuốc
điều trị mới, các bác sỹ và dược sỹ gặp phải nhiều khó khăn trong việc cập
nhật thông tin và lựa chọn những loại thuốc nào phù hçfp cho bệnh nhân của
mình. Bên cạnh đó, một số lượng lớn các nhà cung cấp dược phẩm với sự đa
dạng trong marketing làm ảnh hưởng không nhỏ đến danh mục thuốc bệnh
viện.
CÁC TIỀU CHÍ ĐÁNH GĨẮ LƯA CHON THUỔC TỔT ri41
> Đảm bảo phù hợp với mô hình bệnh tật bệnh viện,
> Thuốc có chất lượng tốt, an toàn, kinh tế,
> Thích hợp với các phác đồ điều trị chuẩn,
> Đáp ứng tốt trong thực tê điểu trị,
> ưu tiên sử dụng thuốc thiết yếu và thuốc theo tên gốc.
Có nhiều yếu tố khác nhau ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc
lựa chọn và xây dựng danh mục thuốc điều trị tại bệnh viện:
• Mô hình bệnh tật bệnh viện
• Nhu cầu thuốc bệnh viện
• Các phác đồ điều trị chuẩn
• Kinh phí của bệnh viện
• Danh mục thuốc thiết yếu
• Danh mục thuốc chữa bệnh chủ yếu
sử dụng tại các cơ sở khám chữa bệnh
• Các thuốc lưu hành trên thị trường
• Thực tế điều trị
Hình 1.2: Các yếu tô ảnh hưởng đến Danh mục thuốc bệnh viện

sở y tế công lập là Thông tư liên tịch số 20/2005/TTLT-BYT-BTC do BYT
và BTC kết hợp ban hành. Từ tháng 04/2006, các hoạt động đấu thầu phải thực
hiện đúng Luật Đấu thầu đã được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005.
(Xin xem Phụ lục 2 về các văn bản pháp luật liên quan)
Đấu thầu, theo luật Đấu thầu, là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng
các yêu cầu của bên mời thầu trên cơ sở đảm bảo tính cạnh tranh,
công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế.
Các hình thức lựa chọn nhà thầu: [18]
Đấu thầu rộng rãi: là hình thức đấu thầu không hạn chế số lượng nhà thầu
tham gia. Bên mời thầu phải thông báo công khai về các điều kiện, thời
gian dự thầu trên các phưcmg tiện thông tin đại chúng trước khi phát hành
hồ sơ mời thầu. Đấu thầu rộng rãi là hình thức chủ yếu được áp dụng trong
đấu thầu.
Đấu thầu hạn chế: là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu mời một số nhà
thầu (tối thiểu là năm) có đủ năng lực tham dự. Danh sách nhà thẩu tham
dự phải được người có thẩm quyền hoặc cấp có thẩm quyền chấp thuận.
Chỉ định thầu: là hình thức chọn trực tiếp nhà thầu đáp ứng yêu cầu của
gói thầu để thương thảo hợp đồng.
Chào hàng cạnh tranh: là hình thức bên mời thầu gửi yêu cầu chào hàng
cho các nhà thầu. Nhà thầu gửi báo giá đến bên mời thầu một cách trực
tiếp, bằng fax, qua đường bưu điện hoặc bằng các phương tiện khác. Mỗi
gói thầu phải có ít nhất ba chào hàng của ba nhà thầu khác nhau. Gói thầu
áp dụng hình thức này thường có sản phẩm cụ thể, đofn vị trúng thầu
thường là đơn vị đưa ra giá thấp nhất, không thương thảo về giá.
• Mua sắm trực tiếp: được áp dụng trong trường hợp bổ sung hợp đồng cũ
đã thực hiện xong (dưói một năm) hoặc hợp đồng đang thực hiện với điều
kiện bên mua có nhu cầu tăng thêm số lượng hàng hóa mà trước đó đã tiến
hành đấu thầu, nhưng phải đảm bảo không vượt mức giá hoặc đcfn giá
trong hợp đồng đã ký trước đó. Trước khi thực hiện hợp đồng, nhà thầu
phải chứng minh có đủ năng lực về kỹ thuật và tài chính để thực hiện gói

nhằm cung cấp thuốc đầy đủ theo kê đofn của bác sỹ nữa, mà còn phải đảm
bảo sử dụng thuốc trong bệnh viện an toàn và hợp lý. Mặc dù công tác Dược
lâm sàng trong bệnh viện nước ta hiện nay còn yếu kém, vai trò của người
dược sỹ chưa được coi trọng xứng đáng, nhưng đây là một nhiệm vụ góp phần
hoàn thiện một hệ thống cung ứng thuốc có thể đáp ứng yêu cầu điều trị ngày
càng cao của bệnh nhân.
Tại Hội nghị của các chuyên gia về sử dụng thuốc hợp lý do Tổ chức Y
tế thế giới WHO tổ chức tại Nairobi năm 1985, khái niệm ""sử dụng thuốc hợp
lỷ' được định nghĩa như sau; [23]
“Việc sử dụng thuốc hợp lý đòi hỏi bệnh nhân phải nhận được
những thuốc điều trị phù hợp với yêu cầu lâm sàng của họ, với liều lượng
đúng với nhu cầu của riêng từng cá nhân, với thòi gian sử dụng đầy đủ, và
với mức giá thấp nhất dành cho họ và cộng đồng của họ. **
Như vậy mục tiêu của Hướng dẫn sử dụng thuốc của dược sỹ tại bệnh
viện nói riêng và của các dược sỹ nói chung là đảm bảo bệnh nhân nhận được
đúng thuốc, đủ thuốc, thuốc có chất lượng đảm bảo và đáp ứng được nhu cầu
điều trị. Tham gia công tác này có vai trò lớn của đội ngũ Dược lâm sàng và
đơn vị Thông tin thuốc. Tuy nhiên các bộ phận khác như Dược chính, Kho
dược cũng góp phần nhất định để thực hiện mục tiêu nêu trên.
1.3. VÀI NÉT VỂ THỰC TRẠNG CUNG ÚNG THUỐC TẠI CÁC
• • •
BỆNH VIỆN ở NƯỚC TA [10][14]
Từ khi chúng ta bước vào đổi mới đất nước, sự phát triển về mọi mặt đời
sống xã hội đã dẫn đến những thay đổi trong mô hình bệnh tật cũng như đưa
đến nhiều biến đổi diễn ra liên tục trên thị trường dược phẩm nước ta. Đây là
hai nguyên nhân chính ảnh hưởng đến hoạt động cung ứng thuốc của các bệnh
viện mà trong đó khối bệnh viện công lập vẫn đóng một vai trò quan trọng
trong hệ thống khám chữa bệnh trên toàn quốc.
Mô hình bệnh tật ngày càng mở rộng cộng với sự cải thiện về chất lượng
cuộc sống của người dân làm cho số lượng bệnh nhân không ngừng tăng lên.

• 90 % bệnh viện quản lý sử dụng thuốc độc, gây nghiện và hướng tâm thần
theo đúng quy chế
• 94 % thực hiện kiểm kê định kỳ, không để thuốc thừa, quá hạn, thống kê
theo báo cáo theo quy định.
• 81 % bệnh viện đảm bảo thực hành tốt bảo quản thuốc
• 79 % nhà thuốc bệnh viện hoặc nhà thuốc của các công ty dược trong
khuôn viên bệnh viện hoạt động đúng quy chế hiện hành.
• 93 % bệnh viện có theo dõi báo cáo ADR
• 79 % bệnh viện có hoạt động thông tin thuốc trong bệnh viện
Một số thống kê khác về kết quả hoạt động cung ứng thuốc trong bệnh
viện năm 2005:
Bảng 1.2 ; Tỷ lệ tiền thuốc so vói tiền chi phí chung (N=592)
Đơn vị: 1.000 đ
Tuyến
Năm 2004
Năm 2005
Số tiền
chi cho 1
GB/năm
Sô tiền
thuốc
cho 1
GB/năm
Tỷ lệ %
tiền
thuốc/chi
phí
chung
Sô tiền
chi cho 1


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status