1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN LÂM THANH TOÁN
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG THAY THẾ ĐẠM BỘT CÁ
BẰNG ĐẠM ARTEMIA SINH KHỐI
LÀM THỨC ĂN CHO TÔM SÚ (Penaeus monodon) GIỐNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH BỆNH HỌC THỦY SẢN
2013 3
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1. Giới thiệu
Trong những năm gần đây nghề nuôi trồng thuỷ sản ở nước ta phát triển rất
mạnh, không những về qui mô diện tích mà còn ở sự đa dạng hoá các mô hình nuôi.
Đặc biệt tôm sú (Penaeus monodon) đã trở thành đối tượng nuôi chính ở hầu hết các
loại hình thủy vực nước lợ ven biển và là đối tượng tôm nuôi có sản lượng cao nhất.
Theo Bộ Nông nghiệp - Phát triển Nông thôn, năm 2012 có 30 tỉnh thành nuôi
657.500 ha, sản lượng 476.400 tấn. So với năm 2011, diện tích nuôi tôm tăng 0,2%,
nhưng sản lượng giảm 3,9% do dịch bệnh. Trong đó, diện tích tôm sú là 619.300 ha
với 298.600 tấn (giảm 7,1% diện tích, giảm 6,5% về sản lượng); tôm chân trắng là
38.100 ha, đạt 177.800 tấn (tăng 15,5% diện tích, 3,2% sản lượng). Đồng bằng sông
Cửu Long là vùng nuôi tôm nước lợ chủ yếu của cả nước, với diện tích nuôi tôm là
595.700 ha, sản lượng 358.400 tấn (chiếm 90,6% diện tích, 75,2% sản lượng nuôi
tôm cả nước).
Ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi (TACN) ở nước ta càng phát triển thì càng
phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu do chưa có kế hoạch sản xuất nguồn
nguyên liệu TACN, nước ta vẫn thiếu 30-40% các loại nguyên liệu giàu năng lượng
(bắp, cám, lúa mì…), thiếu 70-80% thức ăn giàu đạm (bột cá, bột đậu nành…). Kết
quả điều tra ở ĐBSCL của Võ Nam Sơn và ctv., (2011) cho biết mô hình nuôi tôm
sú thâm canh và bán thâm canh, thức ăn chiếm đến 60-70% tổng chi phí trong một
vụ nuôi. Do đó, giá thức ăn ngày càng tăng ảnh hưởng đến lợi nhuận người nuôi
tôm. Vì thế, nhiều nghiên cứu đã được tiến hành nhằm tìm các nguồn nguyên liệu
khác rẽ tiền và sẵn có ở địa phương (bột xương hay các phụ phẩm từ chế biến hoặc
nuôi trồng thủy sản ) làm nguyên liệu để thay thế một phần hoặc hoàn toàn bột cá
trong phối chế thức ăn cho tôm, cá sẽ giúp giảm được chi phí thức ăn (Glencross et
Địa điểm: Trại giống Khoa thủy sản, trường Đại Học Cần Thơ
5
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Tổng quan Artemia
2.1.1. Sơ lược về Artemia
Artemia là tên Latin của một loài giáp xác nhỏ chuyên sống ở những vùng
nước mặn có biên độ muối rộng (từ vài phần ngàn đến 250 phần ngàn như ở ruộng
muối). Trong tự nhiên người ta thấy có sự hiện diện của quần thể Artemia ở những
hồ nước mặn. Tuy nhiên, Artemia không xuất hiện tự nhiên ở khu vực Đông Nam Á
nói chung và Việt Nam nói riêng do ảnh hưởng của chế độ gió mùa, thuỷ vực không
có độ mặn cao lại có nhiều địch hại (Nguyễn văn Hòa và ctv., 2007).
Theo nghiên cứu của Sorgeloos (1980), Artemia được phân loại như sau:
Ngành: Arthropoda
Lớp: Crustacea
Lớp phụ: Branchiopoda
Bộ: Anostraca
thu trứng bào xác, có thể tận thu một lượng lớn sinh khối Artemia (200-300 kg/ha)
sau khi kết thúc chu kỳ hoặc vụ nuôi (Nguyễn Thị Ngọc Anh, 2009). Các hoạt động
nuôi tôm sú lợ, mặn thường gần với vùng nuôi Artemia rất thuận lợi cho việc sử
dụng nguồn sinh khối này.
2.1.2. Giá trị dinh dưỡng của sinh khối Artemia
Artemia là loài có tập tính ăn lọc không chọn lựa nên sự khác biệt về thành
phần sinh hóa ở các dòng khác nhau rất rõ rệt do sự khác biệt về thành phần thức ăn
ở các vùng địa lý khác nhau (Dhont and Van Stappen, 2003). Thành phần dinh
dưỡng của Artemia thay đổi theo các giai đoạn phát triển. Thành phần sinh hóa
Artemia có thể khác nhau từ các mẻ nuôi khác nhau hay thu hoạch ở các mùa khác
nhau.
Thành phần các chất dinh dưỡng có trong Artemia phụ thuộc nhiều vào thành
phần dinh dưỡng có trong môi trường nuôi Artemia. Việc ổn định chất lượng dinh 7
dưỡng của sinh khối Artemia trong điều kiện nuôi trên ruộng muối là hoàn toàn có
thể, việc sử dụng kết hợp các loài vi tảo khác nhau để làm thức ăn cho Artemia đã
góp phần nâng cao giá trị các thành phần dinh dưỡng của sinh khối Artemia. Nhiều
nghiên cứu trước đây trên Artemia cho rằng thành phần acid béo của trứng và sinh
khối của chúng bị ảnh hưởng nhiều bởi môi trường hơn là mang tính di truyền và
phổ acid béo của chúng phản ánh thành phần acid béo của nguồn thức ăn mà chúng
ăn (Luong Van Thinh et al., 1999).
Giá trị dinh dưỡng của Artemia sẽ được nâng lên đáng kể nếu được làm giàu
để bổ sung các acid béo thiết yếu như axit eicosapentaenoic (EPA: 20:5n-3) và axit
docosahexaenoic (DHA: 22:n-3). Artemia tuy có hàm lượng EPA thấp nhưng có thể
cải thiện thành phần lipit bằng cách cho Artemia ăn các thức ăn giàu HUFA. Do
Artemia có đặc tính ăn lọc không chọn lựa nên khi nauplius của Artemia lột xác
chuyển sang giai đoạn ấu trùng Instar II (khoảng 8 giờ sau khi nở), người ta sử dụng
một đơn vị thời gian để đáp ứng nhu cầu thức ăn của chúng. Do đó chúng có thể
sinh trưởng tốt hơn, có tốc độ phát triển nhanh hơn và hoặc là điều kiện sinh lý học
được cải thiện như đã được chứng minh trong việc ương nuôi ấu trùng của tôm hùm,
tôm biển, cá Mahi-mahi, cá bơn và cá chẽm. Đối với ấu trùng cá chẽm (Lates
calcarifer) việc sử dụng sinh khối Artemia làm thức ăn trong trại giống và trại ương
đã tiết kiệm được lượng trứng Artemia lên tới 60% và do vậy giảm tổng chi phí về
thức ăn cho ấu trùng (Sorgeloos et al., 2001).
Sinh khối Artemia tươi sống là thức ăn lý tưởng cho sự thành thục của tôm biển
(Naessens và ctv, 1997; Wouter và ctv, 1999) và là thức ăn tươi sống phổ biến trong
công nghiệp nuôi cá cảnh nhiệt đới (Lim và ctv, 2001). Ngoài ra sinh khối Artemia
sấy khô còn là thức ăn tốt cho postlarvae của tôm thẻ chân trắng (Naegel, 2004).
Trần Hữu Lễ và ctv. (2008) nghiên cứu sử dụng sinh khối Artemia tươi sống
để ương nuôi cá chẽm (Lates calcarifer) trong ao đất tại Sóc Trăng với 3 nghiệm
thức thức ăn gồm 100% Artemia sinh khối tươi sống; 50% Artemia sinh khối tươi
sống và 50% cá tạp; 100% cá tạp. Mật độ ương là 20 con/m
2
với khối lượng cá ban
đầu là 0,3±0,1g/con. Kết quả sau 30 ngày ương cho thấy Artemia sinh khối tươi
sống là loại thức ăn rất được ưa thích của cá chẽm biểu thị sự tăng trưởng của cá
chẽm cao nhất khi cho ăn hoàn toàn bằng sinh khối Artemia.
Nguyễn Thị Hồng Vân và ctv. (2009) đánh giá ảnh hưởng của chất lượng sinh
khối Artemia từ các nguồn khác nhau (sinh khối cuối mùa, sinh khối tiêu chuẩn,
sinh khối nuôi cho ăn cám gạo và sinh khối nuôi cho ăn tảo Chaetoceros) lên tỷ lệ
sống, tăng trưởng…của đối tượng nuôi thuỷ sản như tôm sú và cá cảnh ở giai đoạn
giống. Tác giả kết luận rằng tất cả các loại sinh khối đều đáp ứng tốt về mặt dinh
dưỡng cho ương nuôi thuỷ sản. Sinh khối Artemia đông lạnh có thể sử dụng tốt để
ương tôm sú giống nhưng đối với cá lia thia Xiêm (Betta splendes) thì không thích
hợp.
ngày tôm thường vùi mình trong nền đáy, ít di động nhưng ban đêm thì đi tìm mồi;
giai đoạn ấu trùng sống trôi nổi tới các giai đoạn sau đần thích nghi sống đáy; giai
đoạn tôm giống thường tập hợp thành quần đàn sống ở vùng cửa sông, rừng ngập
mặn và giai đoạn trưởng thành thì chúng di chuyển ra vùng khơi nơi có mực nước
sâu và mặn hơn để thành thục và đẻ trứng. 10
Các giai đoạn phát triển tôm sú
Tôm trưởng thành thường sống dọc theo bờ biển, mực nước sâu khoảng 10 m
chúng giao vĩ và đẻ trứng ở vùng này, sau 12-14 giờ trứng nở thành Nauplius và
biến thái theo các giai đoạn sau:
Nauplius (N): giai đoạn này trải qua 5 lần biến thái (N1-N6) và dinh dưỡng
bằng noãn hoàng trong cơ thể.
Zoea (Z): bao gồm 3 giai đoạn phụ (Z1-Z3), ở giai đoạn này ấu trùng ăn lọc,
thức ăn chủ yếu là tảo.
Mysis (M): có 3 giai đoạn phụ (M1-M3), ở giai đoạn này ấu trùng dần dần
chuyển sang ăn phiêu sinh động vật, bơi ngửa và giật về phía sau.
Postlavae (PL): (hậu ấu trùng) ở giai đoạn này PL có hình dạng như tôm
trưởng thành, giai đoạn đầu một số còn bơi trong cột nước, phần lớn bắt đầu sống
đáy, từ giai đoạn PL6 tôm bắt đầu sống đáy.
Khi sang giai đoạn hậu ấu trùng tôm trải qua nhiều lần lột xác trở thành tôm
tiền trưởng thành và bắt đầu di cư ra vùng có độ sâu, độ mặn thích hợp và bắt đầu
tham gia sinh sản (Dall et al., 1990).
2.2.3. Đặc điểm môi trường sống
Các yếu tố môi trường nước có ảnh hưởng rất lớn đến sự phân bố, sinh sống,
bắt mồi, tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm giống đến tôm trưởng thành. Chất lượng
nước cho sản xuất giống tôm sú cần đảm bảo như sau (FAO, 2007):
Độ mặn: 29-34‰
Thức ăn tôm phải đảm bảo các thành phần dinh dưỡng để giúp tôm phát triển
tốt: tăng trưởng, tỷ lệ sống cao. Thành phần dinh dưỡng của thức ăn tôm bao gồm:
protein, lipid, carbohydrat, vitamin và khoáng. Thức ăn có thể được phối chế từ
nhiều nguồn nguyên liệu khác nhau. Ngoài ra khi phối chế thức ăn phải có kích cỡ
phù hợp, đồng thời thức ăn phải được tạo mùi hấp dẫn để kích thích sự bắt mồi của
tôm và chậm tan trong nước (Akiyama et al., 1992; Wouter et al., 2001).
2.2.5.1. Nhu cầu về protein và axit amin
Protein (chất đạm) là thành phần quan trọng nhất trong thức ăn, có vai trò
quan trọng trong việc xây dựng cơ thể, cung cấp năng lượng và axit amin thiết yếu.
Khi thức ăn thiếu protein thì động vật chậm sinh trưởng, chậm phát dục, sức sinh
sản giảm. Tôm giống có nhu cầu chất đạm khoảng 40%. Tôm thịt thì thức ăn có hàm
lượng đạm thích hợp khoảng 35-40%. Trong khi đó tôm bố mẹ cần thức ăn có hàm
lượng đạm cao khoảng 45-50%. Có khoảng 10 axits amin cần thiết cho tôm đã được
nghiên cứu bao gồm methionine, arginine, threonine, tryptophan, histidine,
osoleusine, leusine, valine, phenylanine. Tỉ lệ các axit amin trong thức ăn càng gần
với tỉ lệ các axit amin của cơ thể sẽ cho kết quả tăng trưởng tốt hơn (Akiyama et al.,
1992; Wouter et al., 2001).
2.2.5. 2. Nhu cầu Lipid
Lipid (chất béo) cung cấp nhiều năng lượng cho tôm, axit béo cao phân tử
không no, photpholipit và vitamin. Hàm lượng chất béo trong thức ăn cần thiết cho
tôm khoảng 6-7,5%. Lipid còn là một dung môi tốt để hòa tan các vitamin A, D, E.
Nguồn chất béo tốt nhất cho tôm sú là từ động vật biển như dầu mực, dầu cá,…
ngoài ra thức ăn có hàm lượng cholesterol 1% sẽ giúp tôm lớn nhanh, chuyển hóa
thức ăn tốt, hiệu quả hấp thụ thức ăn cao và năng cao tỷ lệ sống. Ngoài ra, lecithin
cũng rất cần thiết cho tôm, thức ăn có hàm lượng lecithin 4% từ đậu nành giúp tôm
lớn nhanh. Đặc biệt lecithin cũng rất cần thiết cho nuôi vỗ tôm mẹ (Akiyama et al.,
1992; Wouter et al., 2001).
12
sống. Nhu cầu vitamin ở tôm tùy thuộc vào kích cỡ, tuổi, tốc độ sinh trưởng, điều
kiện dinh dưỡng, nhu cầu từng loại vitamin thực tế cho từng loài tôm, cho từng giai
đoạn vẫn chưa được biết nhiều. Vì thế trong thức ăn, lượng vitamin bổ sung thường
vượt quá nhu cầu thực tế của tôm nhằm bù đắp lượng mất đi do hòa tan trong nước, 13
do phân hủy trong quá trình sản xuất thức ăn và bảo quản. Vitamin nhóm B, C và E
được cho là cần thiết phải cho vào thức ăn. Vitamin D, C khi dùng với số lượng
nhiều đã cho thấy phản ứng đối kháng, dẫn đến bệnh thừa vitamin. Trong thành
phần các premix vitamin dùng cho tôm luôn có vitamin A và K (Nguyễn Trọng Nho
và ctv., 2006). Nếu thức ăn không được bổ sung đầy đủ vitamin thì động vật thủy
sản sẽ sinh trưởng chậm, tỷ lệ sống thấp, khả năng chịu đựng với sự biến động của
môi trường kém và dễ bị nhiễm bệnh.
Chất khoáng là thành phần cấu tạo của cơ thể, có vai trò là chất xúc tác cho
phản ứng sinh hóa và tham gia vào cấu tạo máu. Nhu cầu khoáng cho tôm biển là
Ca, P, Mn, K, Cu, Zn, Mn. 14
CHƯƠNG 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Sinh khối Artemia
Tôm sú (Penaeus monodon)
3.2. Vật liệu nghiên cứu
3.2.1. Nguồn gốc Artemia và tôm sú thí nghiệm
Sinh khối Artemia được tận thu từ ao nuôi Artemia thu trứng bào xác sau khi
kết thúc chu kỳ nuôi ở trại thực nghiệm Vĩnh Châu, Sóc Trăng.
15
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Phương pháp chế biến thức ăn
Sinh khối Artemia được thu từ ao nuôi thu trứng bào xác (kết thúc chu kỳ
nuôi) ở trại thực nghiệm Vĩnh Châu, Sóc Trăng. Sinh khối được rửa sạch, để ráo
nước, trải lớp mỏng (3-5 mm) trên lưới nhựa và phơi dưới ánh nắng mặt trời trong
1-2 ngày. Sinh khối Artemia khô được nghiền thành bột để phối chế thức ăn.
Các nguyên liệu dùng phối chế thức ăn gồm bột Artemia, bột cá, bột đậu
nành, bột mì và cám gạo sẽ được phân tích thành phần sinh hóa trước khi phối chế
thức ăn. Các nguyên liệu khác gồm dầu mực, premix vitamin-khoáng, gelatin (chất
kết dính), lecithin.
Công thức phối chế thức ăn thí nghiệm được được thiết lập dựa trên chương
trình Solver trong chương trình Excel theo mục tiêu thí nghiệm. Thức ăn sau khi
phối chế sẽ được phân tích thành phần sinh hóa cơ bản (ẩm độ, protein, lipid, tro,
xơ, carbohydrate) theo phương pháp AOAC (1995).
Các nguyên liệu được phân tích thành phần sinh hóa trước khi thiết lập công
thức thức ăn (Bảng 3.1).
Bảng 3.1. Thành phần sinh hóa (% khối lượng khô) của nguyên liệu
Nguyên liệu Độ ẩm
Protein
Lipid
Tro
Xơ
Cám gạo
9,86
8,52
8,15
21,32
2,33
59,68
Bột khoai m
ì
10,87
5,14
1,77
0,69
0,87
91,53
16
Bảng 3.2. Thành phần nguyên liệu trong công thức thức ăn thí nghiệm (% khối
lượng khô)
Nguyên liệu 0%ART 20%ART 40%ART 60%ART 80%ART 100%ART
Bột cá 44,50
26,56
35,42
44,26
Cám gạo 3,80
3,65
3,50
3,80
2,90
2,90
Bột khoai mì
16,85
17,14
17,44
17,30
18,28
2,00
2,00
2,00
2,00
2,00
Gelatin
2,00
2,00
2,00
2,00
2,00
2,00
Tổng
100,00
100,00
100,00
100,00
100,00
100,00
Bảng 3.3. Thành phần sinh hóa (% khối lượng khô) thức ăn thí nghiệm đạm sinh
khối Artemia thay thế đạm bột cá
Nghiệm
thức
0%ART 20%ART 40%ART 60%ART 80%ART 100%ART
Độ ẩm 10,16
10,54
11,09
Tro 14,28
14,15
14,06
14,20
14,07
14,19
Xơ 2,92
2,52
2,36
2,18
2,27
2,19
NFE 35,13
35,94
36,39
Thí nghiệm : Đánh giá ảnh hưởng của việc thay thế đạm bột cá bằng đạm
sinh khối Artemia trong thức ăn đến tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của
tôm sú (Penaeus monodon ) giống.
Thí nghiệm gồm 6 nghiệm thức, được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên, mỗi
nghiệm thức được lặp lại 3 lần. Thức ăn thí nghiệm có cùng hàm lượng đạm (40%)
và lipid (7%) và cùng mức năng lượng. Nghiệm thức đối chứng (nghiệm thức 1)
không chứa bột sinh khối Artemia. 5 nghiệm thức còn lại đạm bột cá được thay thế
bằng đạm bột sinh khối Artemia theo các mức tăng dần 20%, 40%, 60%, 80% và
100%.
- Nghiệm thức 1: 0% đạm sinh khối Artemia (0%ART)
- Nghiệm thức 2: 20% đạm sinh khối Artemia (20%ART)
- Nghiệm thức 3: 40% đạm sinh khối Artemia (40%ART)
- Nghiệm thức 4: 60% đạm sinh khối Artemia (60%ART)
- Nghiệm thức 5: 80% đạm sinh khối Artemia (80%ART)
- Nghiệm thức 6: 100% đạm sinh khối Artemia (100%ART)
3.3.3. Hệ thống thí nghiệm
Hệ thống thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên gồm 18 bể composite vuông 250
L, thể tích nước ương là 160 L, với mật độ nuôi là 30 con/bể. Bể nuôi được bố trí
trong nhà, sục khí nhẹ và liên tục. Tôm thí nghiệm có khối lượng trung bình ban đầu
là 0,03 g/con. Thời gian thí nghiệm được tiến hành trong 45 ngày.
Hình 3.1. Hệ thống thí nghiệm
18
có cùng nhiệt độ và độ mặn với bể nuôi và sục khí liên tục. Số tôm chết được theo
dõi 10 phút/lần.
Chỉ số gây sốc (Cumulative Mortality Index=CMI) được tính bằng tổng số
con chết của mỗi lần quan sát. CMI = N
x1
+ N
x2
+ N
x3
+ N
x6
.
Trong đó N là số cá thể chết ở thời gian x
1,
x
2,
x
3
x
6
.
Giá trị của chỉ số CMI càng cao biểu thị tôm có sức chịu đựng kém đối với stress và
ngược lại.
19
3.5 . Phương pháp tính toán số liệu
Độ kiềm
(mg CaCO
3
/l)
0%ART 25,8±0,8
26,8±0,8
7,7±0,2
7,8±0,2
91±13,1
20%ART 25,7±0,8
26,7±0,7
7,8±0,2
7,9±0,2
92±12,2
40%ART 25,8± 0,8
26,9±0,7
7,8±0,2
8,0±0,1
95±10,3
4.1.2. pH
pH trung bình giữa các nghiệm thức tương tự nhau và ít biến động trong suốt
thời gian nuôi. pH trong ngày đạt giá trị từ 7,8 đến 8,0. Theo Trần Ngọc Hải và
Nguyễn Thanh Phương (2009), nhiệt độ thích hợp nhất cho tôm sú sinh trưởng dao
động trong khoảng 25-30
o
C và pH là 7-9. Vì vậy, khoảng nhiệt độ và pH trong thí
nghiệm này là thích hợp cho tôm sú thí nghiệm.
4.1.3. Độ kiềm
Độ kiềm trung bình của các nghiệm thức tương tự nhau, dao động trung bình
trong khoảng 91-95 mg CaCO
3
/l (Bảng 4.2). Vũ Thế Trụ (2001) thì độ kiềm tốt nhất
cho tôm phát triển là 80-150 mg CaCO
3
/l. Điều này cho thấy các nghiệm thức có độ
kiềm nằm trong khoảng thích hợp cho tôm sú phát triển tốt.
4.1.4. Hàm lượng NH
4
+
/NH
3
(TAN)
Hàm lượng TAN trong các bể ương trong suốt quá trình thí nghiệm dao động
trung bình từ 0,3-0,5 ppm (Hình 4.1). Theo nghiên cứu của Thạch Thanh (2005), chỉ
80%ART
100%ART
Hình 4.1. Biến động nồng độ TAN (ppm) trong suốt thời gian thí nghiệm
4.1.5. Hàm lượng NO
2
-
Hàm lượng NO
2
-
ở tất cả các nghiệm thức tăng dần theo thời gian nuôi với giá
trị trung bình từ 0,67- 0,96 ppm (Hình 4.2). Theo Thạch Thanh và ctv. (2005) thì đối
với sản xuất giống tôm sú, hàm lượng NO
2
-
từ 0,05-0,1 mg/L là thích hợp. Nguyễn
Thanh Phương (2004) cho rằng nếu Nitrite >0,1-1 mg/L ảnh hưởng đến sinh trưởng
của tôm. Do đó sự gia tăng hàm lượng NO
2
-
trong thí nghiệm vẫn nằm trong khoảng
thích hợp cho tôm sú phát triển. Điều này cho thấy yếu tố đạm Nitrite (NO
2
-
) không
ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm.
22
ở nghiệm thức không chứa đạm
Artemia sinh khối cao hơn các nghiệm thức có chứa đạm Artemia sinh khối vì thức
ăn chứa Artemia sinh khối có mùi vị hấp dẫn hơn, tôm bắt mồi nhanh hơn nên thức
ăn ít bị tan rã. Trương Quốc Phú (2006) cho rằng thức ăn thừa phân hủy trong nước
kết hợp với sản phẩm thải của tôm là nguyên nhân chính làm cho nồng độ ammonia
trong môi trường nuôi tăng.
4.2. Ảnh hưởng của việc thay thế đạm bột cá bằng đạm sinh khối Artemia lên tỉ
lệ sống của tôm sú
Hình 4.3 biểu thị tỉ lệ sống của tôm khi kết thúc thí nghiệm vào 45 ngày nuôi.
Tỉ lệ sống của tôm dao động trung bình trong khoảng 81,1 đến 86,7%, trong đó
nghiệm thức 0%ART đạt tỉ lệ sống khá thấp hơn so với nghiệm thức thay thế 80%
và 100% đạm bột cá bằng đạm sinh khối Artemia. Tuy nhiên, sự khác biệt không có
ý nghĩa thống kê (p>0,05).
Kết quả này khá phù hợp với nghiên cứu Naegel and Rodriguez-Astudillo
(2004), tác giả báo cáo rằng hậu ấu trùng tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus
vannamei) được cho ăn thức ăn chứa bột sinh khối Artemia khô có tỉ lệ sống cao
hơn so với nhóm tôm được cho ăn thức ăn thương mại và thức ăn chứa bột giáp xác.
Phạm Thị Ngọc Bích (2005), sử dụng sinh khối Artemia khô và tươi phối chế
thức ăn để ương ấu trùng tôm sú. Kết quả cho thấy tỉ lệ sống tôm sú đến giai đoạn
PL15 ở nghiệm thức thức ăn Artemia tương tự với nghiệm thức thức ăn thương mại
Lansy và Frippak. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của Nguyen Thi Ngoc Anh et al. 23
(2009), sử dụng sinh khối tươi và khô thay đạm bột cá trong khẩu phần ăn cho tôm
càng xanh giống. Sau 1 tháng ương, kết quả tỉ lệ sống ở nghiệm thức có chứa đạm
Artemia cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức đối chứng không chứa đạm
sinh khối Artemia.
86.7a
24
0.0
0.2
0.4
0.6
0.8
1.0
1.2
15 30 45
Thời gian nuôi (ngày)
Khối lượng (g)
0%ART
20%ART
40%ART
60%ART
80%ART
100%ART
Hình 4.4 Khối lượng tôm qua các đợt thu mẫu
Bảng 4.2. Tăng trưởng khối lượng của tôm ở các nghiệm thức sau 45 ngày
Nghiệm
thức
Khối lượng
cuối (g)
Tăng trọng (g)
SGR
(%/ngày)
DWG
(g/ngày)
0,020±0,004
bcd
80%ART 0,99±0,12
bc
0,96±0,12
cd
7,54±0,21
bc
0,021±0,003
cd
100%ART 1,03±0,10
c
1,00±0,10
d
7,64±0,22
c
0,022±0,002
d
Giá trị trên cùng một cột có chữ cái khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
SGR: tốc độ tăng trưởng tương đối, DWG: Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối
4.3.2. Tăng trưởng về chiều dài
Chiều dài của tôm sú sau 45 ngày nuôi đạt trung bình từ 4,33-4,65 cm (Hình
4.5). Tăng trưởng chiều dài của tôm sú đạt cao nhất ở nghiệm thức 100%ART, kế
đến là 80%ART và khác biệt có ý nghĩa với 3 nghiệm thức còn lại (0%, 20%,
40%ART) (p<0,05). 25
4.33a
đạm bột cá trong thức ăn cho tôm càng xanh.
Nhiều nghiên cứu đã khẳng định sinh khối Artemia có giá trị dinh dưỡng cao
(50-60% đạm theo trọng lượng khô), giàu acid béo mạch cao không no (HUFA) và
axit amin thiết yếu (Lim et al., 2001) và giàu các acid amin thiết yếu như: axit
glutamic (12% tổng lượng axit amin), axit aspactic (11,2%), lysin (8,9%) các