TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
KHÓA 36 (2010 – 2014)
ĐỀ TÀI
KIỂM SOÁT HÀNH VI ẤN ĐỊNH GIÁ
THEO PHÁP LUẬT CẠNH TRANH
Giảng viên hướng dẫn:
ThS. Nguyễn Mai Hân
Bộ môn: Luật Thương mại
Sinh viên thực hiện:
Ngô Thành Duy
MSSV: 5105946
Lớp: Luật Thương mại 1 – K36
C
ần Th
ơ, tháng 11
/2013
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN Kiểm soát hành vi ấn định giá theo Pháp luật Cạnh tranh
GVHD: ThS. Nguyễn Mai Hân SVTH: Ngô Thành Duy
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 2
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Phạm vi nghiên cứu 2
4. Phương pháp nghiên cứu 2
5. Kết cấu luận văn 3
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VÀ HÀNH
VI ẤN ĐỊNH GIÁ 4
1.1 Khái quát chung về cạnh tranh và pháp luật cạnh tranh 4
1.1.1 Khái quát về cạnh tranh 4
26
2.1.1.1 Chủ thể thực hiện hành vi 27
2.1.1.2 Nội dung của thỏa thuận 27
2.1.2 Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị
trường hoặc phát triển kinh doanh 29
2.1.2.1 Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm không cho doanh nghiệp khác tham gia thị
trường 29
2.1.2.2 Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm không cho doanh nghiệp khác phát triển
kinh doanh 31
2.1.3 Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các
bên của thỏa thuận 33
2.2 Những quy định về lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc
quyền nhằm kiểm soát hành vi ấn định giá 34
2.2.1 Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối
thủ cạnh tranh 38
2.2.2 Áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý 39
2.2.3 Ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng 41
2.2.4 Áp đặt các điều kiện thương mại khác nhau trong các giao dịch như nhau
nhằm tạo sự bất bình đẳng trong luật cạnh tranh 45
2.2.5 Ngăn cản việc tham gia thị trường của đối thủ cạnh tranh mới 46
2.3 Những quy định của pháp luật xử lý vi phạm hành vi ấn định giá 49
2.3.1 Nguyên tắc và hình thức xử lý vi phạm hành vi ấn định giá 49
2.3.2 Xử lý hành vi vi phạm quy định về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng
vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền 51
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN NHẰM NÂNG CAO VAI
TRÒ CỦA LUẬT CẠNH TRANH TRONG VIỆC KIỂM SOÁT HÀNH VI ẤN
ĐỊNH GIÁ 54
3.1 Thực tiễn áp dụng Luật Cạnh tranh ở Việt Nam 54
3.1.1 Những thành tựu đã đạt được 54
3.1.2 Những mặt hạn chế 58
bao cấp. Trong giai đoạn này không có sự hiện diện của nền kinh tế tư nhân, chế độ công
hữu được thiết lập trên hầu hết các lĩnh vực kinh doanh. Chính cơ chế quản lý này đã thủ
tiêu quá trình cạnh tranh, kìm hãm sự phát triển của các đơn vị sản xuất kinh doanh, hạn
chế óc sáng tạo khoa học kỹ thuật. Mô hình kinh tế tập trung không phản ánh đúng yêu
cầu khách quan của các quy luật kinh tế thị trường. Giá cả hàng hóa gần như không có
mối quan hệ nào với giá trị hàng hóa và quan hệ cung cầu. Việc ấn định giá hàng hóa
không dựa trên một sự tính toán nào cả mà chỉ mang tính chất chủ quan làm mất đi động
lực phát triển kinh tế, tạo rào cản trong việc phát huy tính năng động sáng tạo vốn có của
nền kinh tế. Bước ngoặt năm 1986 đánh dấu một tiến bộ quan trọng trong nền kinh tế
Việt Nam, đại hội lần VI của Đảng cộng sản đã quyết định chuyển từ nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần góp phần thay đổi sâu
sắc bộ mặt kinh tế xã hội nước nhà. Từ đó mầm móng của quá trình cạnh tranh bắt đầu
xuất hiện giữa các cơ sở kinh doanh cùng một hàng hóa và cung ứng cùng một dịch vụ.
Cơ chế thị trường đặt ra nhu cầu phải thiết lập và duy trì môi trường cạnh tranh công
bằng cho các chủ thể kinh doanh. Chính sự gia tăng không ngừng cả về số lượng lẫn quy
mô của các doanh nghiệp đã thúc đẩy cạnh tranh trên thương trường ngày càng trở nên
gay gắt quyết liệt. Sự kiện năm 2007 Việt Nam trở thành thành viên WTO đã đưa kinh tế
nước ta bước vào giai đoạn hội nhập kinh tế thế giới. Vì vậy, yêu cầu xây dựng một hành
lang pháp lý vững chắc cho các doanh nghiệp cạnh tranh công bằng là vô cùng cần thiết.
Cạnh tranh là một động lực to lớn góp phần giúp cho các chủ thể kinh doanh tự
đổi mới, tự sáng tạo nhằm nâng cao năng lực của mình trên thương trường. Tuy nhiên
cần phải có sự can thiệp của nhà nước vào các mặt trái của hành vi cạnh tranh. Quốc hội
Khóa XI, kỳ họp thứ 6 đã ban hành Luật Cạnh tranh năm 2004 có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng đối với sự điều tiết kinh tế thị trường ở nước ta. Để tồn tại được các doanh nghiệp
đã sử dụng rất nhiều phương thức khác nhau để cạnh tranh nhưng không phải phương
thức nào cũng lành mạnh. Có những hành vi tiêu cực gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế,
gây thiệt hại cho người tiêu dùng và các đối thủ cạnh tranh. Trong đó, hành vi ấn định giá
được các doanh nghiệp sử dụng phổ biến để cạnh tranh với nhau. Bởi hành vi này tác
động trực tiếp đến người tiêu dùng. Nhà nước luôn khuyến khích các doanh nghiệp xây
dựng một khung giá cả hợp lý với người tiêu dùng. Nhưng liệu giá cả trên thị trường hiện
thời tham khảo các tình huống thực tế phát sinh. Bên cạnh đó kết hợp với các phương
pháp phân tích luật viết, liệt kê, tổng hợp các nguồn tài liệu hiện có để làm sáng tỏ vấn
đề.
Kiểm soát hành vi ấn định giá theo Pháp luật Cạnh tranh
GVHD: ThS. Nguyễn Mai Hân Trang 3 SVTH: Ngô Thành Duy
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục thì kết cấu
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về pháp luật cạnh tranh và hành vi ấn định giá.
Chương 2: Những quy định của pháp luật cạnh tranh về kiểm soát hành vi ấn
định giá.
Chương 3: Thực tiễn và hướng hoàn thiện nhằm nâng cao vai trò của luật
cạnh tranh trong việc kiểm soát hành vi ấn định giá.
quan.
1.1 Khái quát chung về cạnh tranh và pháp luật cạnh tranh
1.1.1 Khái quát về cạnh tranh
1.1.1.1 Khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một khái niệm có
nhiều cách hiểu khác nhau. Khái niệm này được sử dụng cho cả phạm vi doanh nghiệp,
phạm vi ngành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc gia. Điều này chỉ khác
nhau ở chỗ mục tiêu được đặt ra ở quy mô doanh nghiệp hay ở quốc gia mà thôi. Trong
khi đối với một doanh nghiệp mục tiêu chủ yếu là tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở
cạnh tranh quốc gia hay quốc tế, thì đối với một quốc gia mục tiêu là nâng cao mức sống
và phúc lợi cho nhân dân.
1
Sau công cuộc đổi mới năm 1986, Việt Nam đã bắt đầu thực thi những nguyên lý
cơ bản của thị trường. Trong đó điển hình là việc vận dụng quy luật cạnh tranh góp phần
thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển. Diện mạo nền kinh tế nước nhà đã có những bước tiến
mới linh hoạt và đa dạng hơn, cùng với những thuận lợi nhiều vấn đề xã hội mới cũng
dần nảy sinh như phá sản, kinh doanh gian dối, cạnh tranh không lành mạnh. Luật pháp
Việt Nam cũng có những tiến bộ mới trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh
trong quá trình cạnh tranh nhưng so với các nước trên thế giới kinh nghiệm lập pháp của
nước ta vẫn còn trong giai đoạn thai nghén.
1
Trang thông tin điện tử chống hàng giả, Khái niệm cạnh tranh và các loại hình cạnh tranh,
http://bsm.vn/ArticleDetail.aspx?ID=2203&CatID=532&t=info&Lang=VI [truy cập ngày 20-06-2013].
Kiểm soát hành vi ấn định giá theo Pháp luật Cạnh tranh
GVHD: ThS. Nguyễn Mai Hân Trang 5 SVTH: Ngô Thành Duy
nhất”. ThS. Nguyễn Văn Cương cũng đưa ra quan điểm của mình trong việc định nghĩa
thuật ngữ này theo ông “Cạnh tranh là sự ganh đua, giành giật các điều kiện ưu đãi trên
thị trường của các doanh nghiệp”.
6
Cạnh tranh là sự ganh đua giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm
giành lấy những điều kiện, cơ hội thuận lợi nhất trong nền sản xuất, tiêu thụ hay tiêu
dùng hàng hóa để từ đó thu lợi cho bản thân những lợi ích to lớn. Quá trình cạnh tranh có
thể xảy ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng, người sản xuất muốn bán giá cao
2
Bryan A.Garmer, Black’ Law Dictionary, St. Paul, 1999, trang 278.
3
Đặng Vũ Huân, Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam, Nxb. Chính
trị quốc gia, 2004, trang 19.
4
OECD & WB - Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế và Ngân hàng Thế giới, Khuôn khổ cho việc xây dựng và
thực thi luật và chính sách cạnh tranh, Hoàng Xuân Bắc dịch, 2004, trang 17.
5
Nguyễn Hữu Huyên, Luật cạnh tranh của Pháp và Liên minh Châu Âu, Nxb. Tư pháp, 2004, trang 11.
6
Nguyễn Văn Cương, Tiêu chí đánh giá tính cạnh tranh bất hợp pháp của một số nước và một số bình luận về Luật
Cạnh tranh của Việt Nam, Nxb. Tư pháp, 2006, trang 8.
Kiểm soát hành vi ấn định giá theo Pháp luật Cạnh tranh
GVHD: ThS. Nguyễn Mai Hân Trang 6 SVTH: Ngô Thành Duy
nhưng người tiêu dùng lại muốn mua với giá rẻ, người tiêu dùng cũng tranh giành nhau
doanh. Trên phương diện là một hiện tượng xã hội, cạnh tranh chỉ xuất hiện khi tồn tại
những điều kiện sau đây:
Kiểm soát hành vi ấn định giá theo Pháp luật Cạnh tranh
GVHD: ThS. Nguyễn Mai Hân Trang 7 SVTH: Ngô Thành Duy
Phải có sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và các
hình thức sở hữu khác nhau. Theo kinh tế học, cạnh tranh là hoạt động của các chủ
thể kinh doanh nhằm tranh giành hoặc mở rộng thị trường, đòi hỏi cần phải có
nhiều doanh nghiệp cùng tồn tại trên thị trường. Nếu chỉ có duy nhất một doanh
nghiệp trên một thị trường thì chắc chắn rằng nơi đó không có cạnh tranh. Ngược
lại mặc dù có nhiều doanh nghiệp trên một thị trường mà các doanh nghiệp này
cùng thuộc về một thành phần kinh tế thì sự cạnh tranh cũng chẳng có ý nghĩa gì
cả. Cạnh tranh chỉ thực sự trở thành động lực thúc đẩy các doanh nghiệp kinh
doanh tốt hơn nếu các doanh nghiệp thuộc về các thành phần kinh tế khác nhau
với những lợi ích và những toan tính khác nhau.
Muốn cạnh tranh có thể tồn tại được thì các chủ thể kinh doanh phải có quyền tự
do hành xử trên thị trường. Cụ thể các doanh nghiệp có quyền lựa chọn, tự do khế
ước, tự do lập hội và tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình. Điều này giúp
cho các doanh nghiệp chủ động tiến hành các cuộc tranh giành để tìm kiếm cơ hội
phát triển trên thương trường. Việc áp đặt trong kinh doanh sẽ làm mất đi sự sáng
tạo, hạn chế việc tìm kiếm những nguồn lực, cơ hội phát triển của doanh nghiệp.
Các chủ thể kinh doanh không phát huy hết tiềm năng sẵn có của mình làm hoang
phí các nguồn tài nguyên kinh tế.
Thứ hai, về mặt hình thức, cạnh tranh là sự ganh đua, kình địch giữa các doanh
nghiệp. Nói cách khác, cạnh tranh suy cho cùng là phương thức giải quyết mâu thuẫn về
lợi ích tiềm năng giữa các nhà kinh doanh với vai trò quyết định là người tiêu dùng.
7
Cạnh tranh chỉ xảy ra trên thị trường giữa các doanh nghiệp có cùng lợi ích tiềm
năng và nguồn nguyên liệu đầu vào (cạnh tranh mua); hoặc thị trường đầu ra của sản
phẩm (cạnh tranh bán) của quá trình sản xuất. Việc có chung lợi ích đã đưa các doanh
nghiệp trở thành đối thủ cạnh trạnh của nhau. Dựa trên lý thuyết cạnh tranh, việc xác định
cạnh tranh giữa các doanh nghiệp phải xác định thị trường liên quan. Có cùng thị trường
liên quan làm cho họ có cùng mục đích và trở thành đối thủ cạnh tranh của nhau. Theo
quy định của Luật Cạnh tranh Việt Nam và các nước trên thế giới, thị trường liên quan
bao gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan.
Xác định thị trường liên quan là việc đánh giá khả năng thay thế cho nhau giữa
những sản phẩm của các doanh nghiệp ở một khu vực nhất định. Thị trường sản phẩm
liên quan là thị trường của những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau cả về đặc
tính, mục đích sử dụng và giá cả. Thị trường địa lý liên quan là một khu vực địa lý cụ thể
trong đó các hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh
tương tự và có sự khác biệt so với các khu vực lân cận. Cùng một khu vực địa lý nhưng
hàng hóa, dịch vụ khác nhau về ba dấu hiệu đặc tính, mục đích sử dụng, giá cả thì sẽ
không thể thay thế cho nhau và tất nhiên không nằm trên một thị trường liên quan. Ngược
lại các sản phẩm tương tự nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả nhưng lại nằm ở
những khu vực địa lý khác nhau thì cũng không thể thay thế cho nhau được. Tóm lại, để
xác định các doanh nghiệp có cùng nằm trên một thị trường liên quan hay không cần phải
thỏa mãn điều kiện là có cùng thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên
quan. Khi có chung thị trường liên quan ta có thể kết luận các doanh nghiệp đó là đối thủ
cạnh tranh của nhau. Đó cũng là nguyên nhân làm nảy sinh sự ganh đua quyết liệt của các
chủ thể kinh doanh.
Kiểm soát hành vi ấn định giá theo Pháp luật Cạnh tranh
GVHD: ThS. Nguyễn Mai Hân Trang 9 SVTH: Ngô Thành Duy
1.1.1.3 Vai trò và ý nghĩa của cạnh tranh
Cạnh tranh là một quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường. Dựa trên nền tảng
8
Bùi Ngọc Cương, Đồng Ngọc Ba, Lê Đình Vinh, Đoàn Trung Kiên, Giáo trình Luật thương mại, Nxb. Giáo dục
Việt nam, 2010, trang 67-68.
Kiểm soát hành vi ấn định giá theo Pháp luật Cạnh tranh
GVHD: ThS. Nguyễn Mai Hân Trang 10 SVTH: Ngô Thành Duy
Không chỉ đổi mới về kỹ thuật, công nghệ là đủ mà các doanh nghiệp cần phải
hoạch định cho mình những chiến thuật kinh doanh sao cho tiến bộ hơn và đi trước đối
thủ của mình. Sức ép cạnh tranh đã giúp các nhà kinh doanh sáng tạo, đổi mới về ý tưởng
và phương thức kinh doanh. Xây dựng một mô hình quản trị hiệu quả, đồng bộ góp phần
tiết kiệm chi phí nhân công, chi phí điều hành. Mặc dù có nhiều thế mạnh về công nghệ
hơn đối thủ cạnh tranh nhưng nếu không điều hành tốt thì doanh nghiệp cũng không phát
huy được hết sức mạnh tổng lực của mình.
Cạnh tranh là nhân tố phân bổ lại các nguồn lực theo hướng có hiệu quả hơn.
Cạnh tranh là một quy luật đào thải tự nhiên cho nên những doanh nghiệp hoạt
động yếu kém sẽ dần biến mất nhường chỗ cho những kẻ mạnh. Đào thải có thể qua
nhiều hình thức khác nhau như phá sản, giải thể,… Nhưng thông thường phá sản xảy ra
nhiều hơn, nhưng chưa hẳn nó đã là tiêu cực. Phá sản góp phần phân bổ lại các nguồn lực
để các doanh nghiệp sử dụng có hiệu quả hơn thay vì lãng phí cho những nhà kinh doanh
yếu kém.
1.1.2 Khái quát về pháp luật cạnh tranh
1.1.2.1 Lịch sử ra đời của pháp luật cạnh tranh
Lịch sử ra đời của Luật Cạnh tranh trên thế giới
Để đảm bảo quyền tự do kinh doanh của các doanh nghiệp pháp luật cạnh tranh đã
ra đời. Ở giai đoạn sơ khai nó được xây dựng dựa trên các nguyên tắc cơ bản trong Luật
Dân sự và được bảo đảm thực hiện bằng trách nhiệm dân sự. Trong Bộ luật Dân sự của
Chính sự ra đời của Luật Sherman đã đánh dấu một bước phát triển mạnh về pháp luật
cạnh tranh. Nhà nước đã nhận thức được vai trò lớn lao của mình trong việc điều tiết thị
trường, đảm bảo trật tự kỷ cương trong kinh doanh. Cùng với sự phát triển của thị trường,
pháp luật cạnh tranh ngày càng được vận hành ổn định và hiệu quả. Đạo luật Sherman
được coi là Đạo luật đầu tiên trên thế giới về chống độc quyền. Sau đó hàng loạt các Đạo
luật khác của các Bang khác trên nước Mỹ ra đời điển hình là Đạo luật Clayton năm
1914. Ngoài các văn bản pháp luật trên, Mỹ còn sử dụng các án lệ để điều chỉnh hiện
tượng độc quyền.
Pháp luật về cạnh tranh được chia làm hai lĩnh vực là pháp luật về chống cạnh
tranh không lành mạnh và pháp luật về chống hạn chế cạnh tranh và kiểm soát độc quyền.
Cả hai lĩnh vực pháp lý đều hướng tới một lợi ích chung là tạo lập và thúc đẩy môi
trường kinh doanh bình đẳng tự do; bảo vệ, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh để đảm
bảo cho hoạt động cạnh tranh được diễn ra bình thường và đúng pháp luật; bảo vệ lợi ích
chính đáng cho các chủ thể kinh doanh, của người tiêu dùng, và của nhà nước; góp phần
thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội đất nước. Pháp luật về chống hạn chế cạnh tranh và
kiểm soát độc quyền có vai trò xóa bỏ những cản trở để hoạt động cạnh tranh diễn ra bình
thường. Trong khi đó pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh sẽ xử lý hành vi tiêu
cực trong cạnh tranh. Hai lĩnh vục này bổ sung cho nhau hợp thành khung pháp luật về
cạnh tranh. Từ đó hầu hết các quốc gia đều đã có Luật Cạnh tranh mặc dù tên gọi có thể
khác nhau nhưng cùng chung một mục tiêu và ý nghĩa. Năm 2007, theo thống kê của Hội
nghị Liên hiệp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) đã có 113 nước và vùng
lãnh thổ có luật điều tiết hoạt động cạnh tranh và kiểm soát độc quyền.
1010
Bùi Ngọc Cương, Đồng Ngọc Ba, Lê Đình Vinh, Đoàn Trung Kiên, Giáo trình Luật thương mại, Nxb. Giáo dục
Việt nam, 2010, trang 70.
Kiểm soát hành vi ấn định giá theo Pháp luật Cạnh tranh
Ngoài ra Luật Thương mại 1997 cũng có những quy định cấm các hành vi cạnh
tranh không lành mạnh xâm hại đến lợi ích của người tiêu dùng.
Hội nhập với kinh tế toàn cầu Việt Nam đã ký kết và gia nhập nhiều hiệp định
thương mại, đầu tư song phương hoặc đa phương. Nước ta cũng chính thức trở thành viên
của nhiều tổ chức diễn đàn trong khu vực như ASEAN, AFTA, ASEM, APEC, WTO.
Kinh tế nước ngoài bắt đầu du nhập vào Việt Nam mang lại nhiều thuận mới nhưng cũng
tạo ra không ít khó khăn cho các doanh nghiệp trong nước. Đứng trước yêu cầu cấp thiết
cần phải có một hành lang pháp lý cho xây dựng cơ chế thị trường và thực thi chính sách
11
Xem Điều 8 Luật Thương mại 1997.
Kiểm soát hành vi ấn định giá theo Pháp luật Cạnh tranh
GVHD: ThS. Nguyễn Mai Hân Trang 13 SVTH: Ngô Thành Duy
cạnh tranh, ngày 03/12/2004 kỳ họp thứ VI Quốc hội khóa XI thông qua Luật Cạnh tranh
nhằm điều chỉnh hành vi hạn chế cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh, trình
tự thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh và biện pháp xử lý vi phạm pháp luật cạnh tranh.
Luật Cạnh tranh có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm 2005.
1.1.2.2 Vai trò của pháp luật cạnh tranh
Sự ra đời của pháp luật cạnh tranh góp phần bảo vệ tự do cạnh tranh và loại bỏ
những quyền lực kinh tế có thể ảnh hưởng tiêu cực đến tác dụng của cạnh tranh, ảnh
hưởng đến xu thế cạnh tranh hiệu quả, ảnh hưởng đến khả năng cung ứng cho xã hội
những hàng hóa, dịch vụ tốt nhất. Từ những tác động đó, pháp luật cạnh tranh có vai trò
sau đây:
Thứ nhất, tạo lập môi trường kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng tự do.
Quy định về tự do kinh doanh và quyền được tồn tại bình đẳng của các doanh
nghiệp góp phần tạo điều kiện và đảm bảo cho cạnh tranh tồn tại. Các chủ thể kinh doanh
khi tham gia vào thị trường có đủ năng lực để quyết định phương thức kinh doanh của
phóng các nhà kinh doanh hợp pháp khỏi những biểu hiện tiêu cực. Bên cạnh đó, pháp
luật còn động viên, khích lệ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các doanh nghiệp.
Thứ ba, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.
Người tiêu dùng được xem là “thượng đế” là vị trí trung tâm của thị trường mà bất
kỳ doanh nghiệp nào cũng muốn hướng đến. Lợi nhuận của nhà kinh doanh xuất phát từ
việc thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng. Để đạt được mục tiêu của mình các doanh
nghiệp không từ mọi thủ đoạn để lôi kéo khách hàng về phía mình. Số lượng doanh
nghiệp thì rất ít so với lượng người tiêu dùng và họ chính là người chịu ảnh hưởng trực
tiếp từ những hành vi bất chính. Trình độ của người tiêu dùng lại chưa đồng đều không
phải ai cũng nhận thức được rằng bản thân mình đang bị thiệt hại. Với lại thủ đoạn thì
ngày càng tinh vi, sắc sảo khó mà phát hiện bằng mắt thường. Chính vì lẽ đó pháp luật
cạnh tranh ra đời kịp thời lại một lần nữa bảo vệ người tiêu dùng khỏi thủ đoạn phi pháp
của doanh nghiệp.
Thứ tư, thúc đẩy tiến trình toàn cầu hóa diễn ra nhanh chóng và có hiệu quả.
Xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra trên diện rộng, các rào cản thuế quan cũng dần
xóa bỏ. Việc tự do hóa thương mại đã kéo các quốc gia lại gần nhau hơn. Có nhiều cơ hội
giao thoa, tiếp cận với những công nghệ, nguồn lực kinh tế mới. Song song đó cũng phải
đối mặt với những khó khăn, cạnh tranh ngày càng diễn ra quyết liệt. Những thế lực kinh
tế quốc tế luôn tìm mọi cách để chiếm đoạt và thôn tính thị trường của những nước đang
phát triển. Từ đó chi phối cả một nền kinh tế của một quốc gia. Pháp luật cạnh tranh tạo
cơ hội, và điều kiện để các doanh nghiệp có cơ hội phát huy hơn nữa. Đồng thời bảo vệ
doanh nghiệp khỏi những hành vi tiêu cực, giúp nhà kinh doanh nhanh chóng hòa nhập
vào thị trường thế giới nhưng không hòa tan.
12
12
Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc, Nguyễn Ngọc Sơn, Pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam, Nxb. Tư pháp, 2006,
mạnh thị trường để gây ảnh hưởng cho doanh nghiệp khác sẽ không được chấp nhận. Các
doanh nghiệp, công ty có quyền tự do kinh doanh của họ và được thực hiện quyền đó
nhưng họ không bao giờ được trở thành người ép buộc người khác. Quyền lực của một
công ty không thể vượt quá phạm vi hoạt động của công ty, chi phối công ty khác. Sự can
thiệp của cơ quan nhà nước vào cạnh tranh phần nào đã hạn chế việc lạm dụng thị trường
từ đó bảo vệ tự do kinh tế. Kiểm soát hành vi ấn định giá theo Pháp luật Cạnh tranh
GVHD: ThS. Nguyễn Mai Hân Trang 16 SVTH: Ngô Thành Duy
Bảo vệ đối thủ cạnh tranh và cạnh tranh bình đẳng.
Pháp luật cạnh tranh góp phần hạn chế sức mạnh thị trường của các doanh nghiệp
lớn, tìm cách bảo vệ các doanh nghiệp vừa và nhỏ trước những khó khăn. Các tập đoàn
lớn chắc chắn sẽ có tiềm lực mạnh có thể nuốt chửng các doanh nghiệp nhỏ nhằm chiếm
giữ vị thế độc quyền chi phối toàn bộ nền kinh tế. Chỉ khi pháp luật cạnh tranh ra đời mới
tạo được một môi trường cạnh tranh bình đẳng để hỗ trợ những doanh nghiệp nhỏ có thể
tồn tại được trên thị trường. Đảm bảo cho người tiêu dùng có vô số sự lựa chọn, được thụ
hưởng thành quả tốt nhất.
Phục vụ các vấn đề chính trị, xã hội
Pháp luật cạnh tranh cũng góp phần hỗ trợ nhà nước thực hiện các chính sách kinh
tế, xã hội. Hạn chế tình trạng tập trung kinh tế làm sa thải hàng loạt người lao động. Hoặc
cũng có thể cho phép các doanh nghiệp thỏa thuận hạn chế để bảo vệ những ngành nghề
đang thua lỗ, đứng trước nguy cơ phá sản. Đóng góp quan trọng vào thực hiện các chính
sách phúc lợi xã hội, tạo thêm việc làm, gia tăng thu nhập cho người lao động.
1.2 Khái quát về giá và hành vi ấn định giá
1.2.1 Khái quát về giá
1.2.1.1 Khái niệm giá
cầu mua sản phẩm ấy thì quá trình trao đổi diễn ra giữa bên mua và bên bán thông qua đó
giá hàng hóa được hình thành. Việc trao đổi dựa trên giá trị của hàng hóa mà ta đem đi
trao đổi. Trước khi thực hiện trao đổi phải trải qua bước thẩm định giá trị của hàng hóa từ
đó hình thành nên khung giá cả. Mức giá đưa ra chỉ được chấp nhận nếu nó thỏa mãn lợi
ích của hai bên mua và bán. Tuy nhiên trong một số trường hợp chỉ cần thỏa mãn lợi ích
của một bên giá cả vẫn được hình thành. Đứng trước nguy cơ phá sản, doanh nghiệp có
thể hạ giá bán đến mức thấp để thu hồi vốn của mình.
Với người bán “Giá cả một hàng hóa, dịch vụ là khoản thu nhập người bán nhận
được về việc tiêu thụ sản phẩm”. Trong hoạt động trao đổi, người bán đóng vai trò cung
ứng hàng hóa, dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu và ước muốn của người mua. Tâm lý
chung của nhà kinh doanh là mong muốn bán được hàng hóa với giá cao, giá cả cao hơn
giá trị của hàng hóa. Nếu bán giá càng cao thì lợi nhuận thu về càng nhiều đây là mục
tiêu mà các doanh nghiệp luôn hướng đến. Tuy nhiên không phải lúc nào mục đích này
cũng được thực hiện bởi vì nếu mức giá bất hợp lý sẽ không được sự chấp nhận của dư
luận xã hội. Dù cho giá cả có biến động thế nào thì nó vẫn vận động xoay quanh trục giá
trị của hàng hóa.
Với người mua “Giá cả của một sản phẩm hoặc dịch vụ là khoản tiền mà người
mua phải trả cho người bán để được quyền sở hữu, sử dụng sản phẩm hay dịch vụ đó”.
Trong trao đổi hàng hóa, dịch vụ, người mua là người có tiếng nói cuối cùng về một mức
giá được thực hiện. Người mua tham gia trao đổi nhằm tìm kiếm những lợi ích mà hàng
hóa và dịch vụ có thể thỏa mãn nhu cầu và mục đích của họ. Số tiền mà người mua phải
trả cho hàng hóa, dịch vụ để được quyền sở hữu, sử dụng chúng chính là giá cả của hàng
hóa, dịch vụ đó.
13
Trang thông tin điện tử của học liệu mở Việt Nam, Khái niệm và đặc trưng của giá
http://old.voer.edu.vn/module/kinh-te/khai-niem-va-dac-chung-cua-gia.html [truy cập ngày 14-7-2013].