I/ Tên đề tài: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP BỒI DƯỠNG
HỌC SINH GIỎI VĂN LỚP 4, LỚP 5 ĐẠT HIỆU QUẢ
II/ Đặt vấn đề
Bồi dưỡng học sinh giỏi là việc làm hết sức cần thiết và có tầm quan
trọng. Bởi lẽ nó giúp đào tạo con người học sinh trở thành “hiền tài” cho đất
nước. Nói như hiện nay, “chiến lược con người” có mục tiêu là “ Nâng cao dân
trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” thì Bồi dưỡng học sinh giỏi là nhiệm
vụ cấp thiết, phù hợp xu thế thời đại.
Việc Bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 4, lớp 5 từ trước đến nay được trường
tiểu học Đoàn Trị tiến hành hằng năm ( kể từ ngày thành lập trường đến nay),
nhưng kết quả đạt được thì chưa như mong muốn. Nhìn chung, một số em đạt
điểm thì bình quân lấy điểm Toán bù vào điểm Văn, do vậy, hướng Bồi dưỡng
Văn lớp 4, lớp 5 cần phải tìm ra con đường đi để đạt hiệu quả. Chính vì vậy mà
chúng tôi từ thực tiễn bồi dưỡng văn lớp 4, lớp 5 nhiều năm qua, đã nảy ra ý định
đúc kết lại một số biện pháp nên viết đề tài: “Một số biện pháp giúp bồi dưỡng
học sinh giỏi văn lớp4, lớp 5 đạt hiệu quả”, mong góp một phần nhỏ vào hướng
đi chung cùng trường Đoàn Trị trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi.
III/ Cơ sở lí luận
“Khái niệm “giỏi văn” và khái niệm “có năng khiếu” không phải là một.
Có năng khiếu văn nhưng nếu không được bồi dưỡng chăm sóc chu đáo thì năng
khiếu ấy cũng có thể bị thui chột, bị tàn lụi”. Đó là ý kiến của tác giả Trịnh Mạnh
(Chuyên viên Ngữ văn ở Viện Khoa học Giáo dục Bộ GD) và Trần Mạnh Hưởng
(Chuyên viên Ngữ văn ở Vụ Các trường phổ thông cơ sở Bộ Giáo dục).
Do vậy, người giáo viên tiểu học cần phải làm cho năng khiếu của học
sinh tiểu học phát triển. Mà muốn cho các em trở thành giỏi văn thì phải nắm rõ
1
cơ sở tâm lí học sinh tiểu học, đó là đặc điểm nhận thức của học sinh (bao gồm
sự chú ý, trí nhớ, tưởng tượng và tư duy), để có cơ sở vận dụng các phương
pháp, biện pháp làm cho các em chiếm lĩnh được kiến thức văn học. Cũng bài
tập đó, cũng là lời giảng đó nhưng đặt vào đúng tâm lí, không làm học sinh bị ức
chế thì rõ ràng các em tiếp thu nhanh và tốt hơn. Ở lớp 2,3 tư duy hình tượng bắt
khái quát hóa. Biết khơi nguồn cho rung cảm ở học sinh là điều kiện thành công
trong dạy văn, bởi lẽ nó sẽ làm cho học sinh nảy nở các loại tình cảm có sẵn
trong các em như tình cảm đạo đức, tình cảm trí tuệ, tình cảm thẩm mĩ, tình cảm
hoạt động. Và đây chính là điều cốt lõi để các em thành người.
IV/ Cơ sở thực tiễn
Từ cơ sở lí luận trên, chúng ta đối chiếu với thực tiễn dạy học văn lớp 4,5
hiện nay tại trường tiểu học Đoàn Trị. Cơ sở tâm lí chắc chắn là mỗi giáo viên
đều được trang bị nhưng không mấy ai “đào sâu, xới kĩ” để làm cơ sở xây dựng
một kế hoạch bài dạy nhằm chăm sóc, nuôi dưỡng các học sinh có năng khiếu
phát triển thành giỏi văn. Thực tế khi dạy Tập đọc, giáo viên chúng ta chưa
truyền được ngọn lửa vào tâm hồn các em thông qua cách đọc diễn cảm như nhà
văn Marquez đã nói, mà chúng ta còn cứng nhắc, rập khuôn, gò mình theo một
hướng có sẵn, thậm chí từ khó đọc cũng không dám lấy thực tế từ học sinh. Bởi
vậy nên không giúp cho học sinh cảm nhận được một cách tự nhiên cái hay cái
đẹp của bài văn em học, dần dần các em chai cứng coi học văn như một nghĩa vụ
mà không có cái hứng thu coi nó như một quyền lợi. Về dạy Tập làm văn, chúng
ta còn thiên về kĩ thuật làm bài, đòi hỏi ở kiểu bài này là vậy, kiểu kia là thế mà
không xây dựng cái hồn trong cái vỏ bọc kiểu này cách nọ. Cái túi thì học sinh
nhận ra nhưng phải giúp các em biết bên trong cái túi và mỗi loại túi thì đựng
3
được cái gì, đựng như thế nào, đấy mới là cơ bản. Ở lớp 4,5 văn miêu tả được
chọn dạy với nhiều thời lượng và bài văn mang tính quy phạm. Tuy có nhiều thời
gian cho loại văn này nhưng hạn chế thì cả học sinh và giáo viên vẫn còn tồn tại.
Chúng ta chưa làm rõ đặc điểm của văn miêu tả là mang tính thông báo, thẩm
mĩ, chứa đựng tình cảm của người viết; chúng ta chưa chỉ ra được ở bài viết các
em hạn chế này. Nhất là khâu trả bài, hầu như chúng ta còn chung chung, hời
hợt. Một hạn chế nữa là bài các em còn mờ nhạt, vô vị bởi lẽ trong bài làm của
các em thiếu tính sinh động, tạo hình. Đồng thời ngôn ngữ miêu tả không giàu
cảm xúc, hình ảnh do vốn từ ngữ không đủ sức diễn đạt. Vậy nên, cả ba đặc
mạch lạc; đồng thời các em nhớ nhiều chuyện kể, thuộc nhiều bài thơ hơn các
em khác.
- Khi chấm bài của các em, ta thấy bài của các em có năng khiếu thường có
nhiều ý hay, chân thực, có sáng tạo, có cá tính. Mà làm được bài như thế là do
các em biết rung cảm, nhạy bén trước hiện thực. Tâm hồn nhạy cảm mới diễn đạt
được nhiều tình, nhiều ý trong bài văn.
- Phát hiện trong bài làm của các em có năng khiếu văn thường thể hiện khả
năng quan sát tinh vi, giàu trí tưởng tượng và tư duy hình tượng; có sự kết hợp
hài hòa giữa tư duy lôgich và tư duy hình tượng. Đồng thời đọc bài văn của các
em, ta thấy vốn từ ngữ của các em khá phong phú, các em giàu vốn từ hơn các
em khác, biết dùng từ chính xác, nhiều em đã đạt mức dùng từ bóng bẩy, ngôn
ngữ hình tượng và biết dùng các biện pháp tu từ.
Sau khi phát hiện học sinh có năng khiếu, vấn đề đặt ra là: Bồi dưỡng cái
gì ? Bồi dưỡng như thế nào ? Chúng tôi xin nêu tiếp biện pháp.
5
2/ Biện pháp 2: Làm giàu vốn từ ngữ cho các em
a) Mặc dù học sinh có năng khiếu văn có vốn từ khá phong phú nhưng
không phải như vậy mà ta bỏ hoang mảnh đất này mà không khai phá (nghĩa là
không cần làm giàu thêm vốn từ ngữ cho các em). Chúng ta cần giúp cho các em
phát triển vốn từ, nhất là những từ tượng hình, tượng thanh, từ chỉ màu sắc rất
cần thiết trong văn miêu tả.
b) Cách tiến hành:
-Trong lớp học, giáo viên cho học sinh tìm các từ có khái niệm đẹp. Các
em đã làm được: xinh, xinh xinh, xinh đẹp, duyên dáng, kháu khỉnh, điển trai,
kẻng, khôi ngô, tuấn tú, đĩnh ngộ, …Hoặc tìm các từ chỉ màu xanh, các em đã
làm: xanh biếc, xanh lơ, xanh thẳm, xanh ngắt, xanh nước biển, xanh da trời,
xanh lá mạ, xanh lá cây, xanh hoa lý, xanh rì, xanh um, xanh rờn, xanh xanh,
xanh xao, xanh bủng, xanh rớt,…
- Tương tự như vậy, ta có thể gợi cho học sinh tìm từ qua rất nhiều đề tài
nhỏ mà các em gặp hằng ngày. Các đề tài nhỏ này cần gắn chặt với các thể văn
c) Ở giữa bồn hoa có một tượng là tượng anh Trỗi.
d) Thỉnh thoảng có những chiếc xe đạp lướt trên mặt phố.
Khi chữa câu, cần tiến hành 2 bước. Bước thứ nhất cho học sinh phát hiện
chỗ sai, sai về mặt nào, bước thứ hai tập chữa lại theo ý của em, sau đó giáo viên
gợi ý chung về cách đúng nhất.
Ví dụ Câu a): Câu này là câu rườm, cần bỏ bớt một số từ. Chữa lại: Trong
vườn nhà em có một cây mít rất to.
7
Câu b): Câu này tối nghĩa. Chữa lại: Em thích nuôi lợn vì nó cung
cấp thức ăn cho ta.
Câu c): Câu này rườm. Chữa lại: Ở giữa bồn hoa có tượng anh Trỗi.
Câu d): Câu này sai ý. Chữa lại: Thỉnh thoảng có những chiếc xe
đạp lướt trên mặt đường (hoặc lướt trên đường phố)
3.3/ Tập gộp câu và chia câu
a) Gộp các câu ngắn thành câu dài
Ví dụ: Mặt biển mênh mông. Trời đã về chiều. Từng đoàn ghe mành đang
lướt sóng ra khơi.
Từ 3 câu trên, các em có thể gộp lại thành một câu mà nội dung không
khác 3 ý trên, còn cách diễn đạt lại rõ ràng hơn: Trên mặt biển mênh mông, dưới
ánh chiều tà, từng đoàn ghe mành đang lướt sóng ra khơi.
b) Chia câu dài thành nhiều câu ngắn
Ví dụ: Hôm nay là ngày khai giảng, sau ba tháng nghỉ hè xa nhau, mọi
người đều sung sướng túm tụm lại chuyện trò vui vẻ vì bây giờ mới gặp nhau
đông đủ.
Học sinh có thể chia ra như sau: Hôm nay là ngày khai giảng. Sau ba
tháng hè bây giờ mới gặp nhau đông đủ, mọi người đều vui vẻ. Họ túm tụm lại
chuyện trò.
Vậy tập gộp câu và chia câu đòi hỏi tư duy cao ở HS và GV cũng phải
chuẩn bị các câu văn trong đoạn văn cho các em làm bài tập rất công phu, tốn
nhiều thời gian suy nghĩ.
6.3/ Tập mở rộng câu bằng cách thêm thành phần phụ
Ví dụ: Mặt trời mọc.
Học sinh hiểu được đây là một câu có đầy đủ thành phần chính chủ ngữ và
vị ngữ. Bây giờ để làm cho câu văn hay thì phải thêm các thành phần phụ ( Cho
các em tham gia mở rộng cho đến khi nào đủ các thành phần và câu văn trở nên
hay hơn)
- Phía đông, mặt trời đang mọc.
- Mặt trời đang mọc sau lũy tre làng.
- Phía đông, mặt trời mọc làm đỏ ửng cả một góc trời.
- Mặt trời đang từ từ mọc lên từ phía biển làm cho những đợt sóng cũng
pha màu hồng nhạt.
7.3/ Bài tập diễn đạt ý bằng nhiều cách khác nhau
Ví dụ: Trời hôm nay đẹp.
Đòi hỏi các em tư duy cao, các em phải giữ nguyên cái ý trời nắng đẹp
nhưng phải diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau.
Các em có thể làm:
- Hôm nay hửng nắng, trời quang mây tạnh.
- Bầu trời hôm nay trong vắt, không một gợn mây.
- Sau mấy ngày mưa rả rích, hôm nay mặt trời tươi cười nhô lên như
cùng vui với mọi cảnh vật.
- Bầu trời cao xanh, mấy đám mây xốp như bông vờn quanh đỉnh núi
màu tím sẫm.
- Giữa mùa đông thế mà hôm nay nắng hoe vàng như nắng đầu thu.
8.3/ Bài tập luyện viết câu sinh động
Luyện viết câu sinh động bao gồm các dạng bài tập như: Tập viết câu văn
gợi tả, tập viết câu văn gợi cảm, tập viết câu văn vừa gợi tả vừa gợi cảm. Đây là
10
bài tập khó đòi hỏi nhiều công sức của giáo viên và cần có nhiều nỗ lực của học
sinh.
Cách tiến hành dạng bài này cần nhẹ nhàng, từng bước một. Trước hết đưa
Ví dụ: Mùa thu, trời như một chiếc dù xanh bay mãi lên cao. Các hồ nước
quanh làng như mỗi lúc một sâu hơn. Chúng không còn là hồ nước nữa, chúng là
những cái giếng không đáy, ở đó ta có thể nhìn thấy bầu trời bên kia trái đất.
Những con nhạn bay thành đàn trên trời cao, như một đám mây
mỏng lướt qua thôn làng, gieo xuống những tiếng kêu mát lành, trong veo sương
sớm, khiến tim tôi vang lên dịu dàng những câu thơ không nhớ đã thuộc tự bao
giờ. (Tiết 7, Bài luyện tập, tr.103 SGK Tiếng Việt 5/Tập 2)
Ghi để rồi các em đọc, đọc để rồi các em nghe tiếng nhạc lòng rung lên
những cung bậc đồng cảm với câu văn câu thơ đó, và không biết tự lúc nào nó
trở thành người bạn thân thiết của ta làm cho tâm hồn ta thêm phong phú. Như
vậy, trong sách Tiếng Việt lớp 4,5 có rất nhiều hình ảnh văn học không thể bỏ
qua, giáo viên chúng ta cần giúp các em nhìn thấy và cùng rung cảm trong quá
trình học với sách.
5/ Biện pháp 5: Nâng cao năng lực cảm thụ văn học
a) Cảm thụ văn học tức là cảm xúc thẩm mĩ trong văn học (thuộc phạm trù
mĩ học). Trong nhà trường, các môn học đều có thể giáo dục thẩm mĩ cho học
sinh, mà môn văn là môn có điều kiện thuận lợi nhất. Ở tiểu học giáo dục thẩm
12
mĩ chủ yếu là giáo dục cho học sinh rung cảm với cái đẹp ( cái đẹp trong thiên
nhiên và cái đẹp trong xã hội)
b) Cách tiến hành:
Khi dạy tập đọc, kể chuyện giáo viên phải gợi ý, hướng dẫn để bản thân
học sinh tự khám phá ra cái hay cái đẹp mà lúc đầu các em chưa thấy. Chú ý
quyết không nên cảm thụ hộ rồi áp đặt cho các em.
Khi hướng dẫn học sinh quan sát để làm văn miêu tả, tường thuật giáo
viên cũng phải dẫn dắt để học sinh tự khám phá ra các nét đẹp, các nét tiêu biểu
và tạo cho bản thân có rung động thẩm mĩ thì bài văn mới hay, mới thể hiện bản
sắc riêng của mình.
Vậy trong quá trình soạn giảng cần nhiều thời gian đầu tư, nghiên cứu mới
b) Tự trả lời những câu hỏi đã nêu ra.
Đối với yêu cầu bài trên, học sinh có thể nêu các câu hỏi như:
-Bài “Quê cát” tả ở vùng nào ?
-Vùng này khí hậu có gì nổi bật ?
-Những từ ngữ nào tả cái nóng ở vùng này ?
-Tại sao tác giả lại viết “Những thân tre thắp lửa” ?
-Những cây dừa ở đây có gì nổi bật ?
-Khổ 3 nói lên thành tích gì của vùng “Quê cát” ?
-Bài này thuộc thể thơ gì ?
-Tìm vần ở mỗi khổ thơ ?
-Đại ý bài này nói gì ?
Cũng có thể các câu hỏi của các em nêu còn vụng về, thậm chí ngây ngô, nhưng
chúng ta cần khuyến khích, tránh cười chế giễu làm cho các em nhụt chí. Sau vài
bài tập, các em đã thành thạo trong loại bài tập này và có những em đã nêu được
14
những câu hỏi rất hay, rất tinh tế và điều đó chứng tỏ trình độ cảm thụ của các
em ngày càng sâu.
6/ Biện pháp 6: Bồi dưỡng kĩ năng quan sát, tìm ý
a) Khi làm văn miêu tả và tường thuật, nếu học sinh không quan sát mà
chỉ ngồi tưởng tượng ra thì dù trí tưởng tượng phong phú đến đâu, bài văn vẫn
nghèo ý. Quan sát trong văn miêu tả, tường thuật đều phải nhằm mục đích tìm
được nét tiêu biểu về màu sắc, hình dáng, âm thanh,…lẽ tất nhiên nét tiêu biểu
đó gắn với sự quan sát và cá tính mỗi người. Học sinh tiểu học chưa có thói quen
quan sát toàn diện một đối tượng nếu không có sự hướng dẫn của giáo viên. Bởi
vậy, muốn cho các em làm văn tốt người giáo viên phải tích cức hướng dẫn các
em quan sát một cách toàn diện.
b) Cách tiến hành:
Giáo viên cho học sinh xác định đối tượng quan sát và hướng dẫn học sinh
quan sát bằng nhiều hình thức như hướng dẫn quan sát trực tiếp hoặc gợi ý cho
học sinh tự quan sát. Chú ý xác định rõ mục đích và trọng tâm quan sát.
Bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung và học sinh giỏi văn lớp 4, lớp 5 nói
riêng ở trường tiểu học Đoàn Trị là một quá trình lâu dài không phải một sớm
một chiều. Theo thời gian, từng biện pháp cũng dần được hình thành trên cơ sở
áp dụng thử nghiệm qua từng năm và từng lứa học trò. Điều chúng tôi nhận thấy
ở đây là các biện pháp đưa đến con đường đi đúng hướng cho kế hoạch dạy học
của bản thân của người giáo viên dạy bồi dưỡng, tạo cho học sinh nắm chắc
được kiến thức văn học cơ bản và đồng thời phong phú thêm cho tâm hồn. Thực
nghiệm cho thấy, khi sử dụng các biện pháp nghiên cứu trong đề tài để dạy, các
em học sinh càng về sau càng tiến bộ hơn nhiều so với các em khi chưa áp dụng
16
đề tài. Mặc dù kết quả học sinh giỏi trường tiểu học Đoàn Trị đạt được hết sức
khiêm tốn nhưng chúng tôi cũng mạnh dạn nói rằng cái vốn quý là các em có
một nền móng vững chắc trong tâm hồn qua các biện pháp bồi dưỡng văn trên;
các em sẽ giữ được trong lòng mình ngọn lửa tình yêu văn học và đến một lúc
nào đó nó sẽ cháy lên. Thực tế một số em học sinh khi đi học ở các trường khác
vẫn không phụ công sức dạy dỗ của thầy cô ở trường Đoàn Trị, đó là các em vẫn
giữ vững ngôi vị học tốt, là học sinh giỏi và chắc hẳn cái hạt giống ấy sẽ tồn tại
mãi ở mai sau.
Đưa ra một con số thống kê ư, thật khó nói ! Như vậy, nói các biện pháp
này là mơ hồ ư ? Không phải vậy. Nó rất cụ thể, nó rất thực, tuy nhiên để phát
huy tối đa biện pháp thì phải chờ thực nghiệm nhiều hơn và cần phải có lực
lượng thầy cô ở trường “ đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”. Điều cốt
lõi chúng tôi muốn nói là các biện pháp chắc chắn khơi gợi trong lòng học sinh
sự rung cảm trước cái đẹp cái hay của văn học cũng như cuộc sống.
VII/ Kết luận
Như trên đã trình bày, đề tài “Một số biện pháp giúp bồi dưỡng hoc sinh
giỏi văn lớp 4, lớp 5 đạt hiệu quả” đạt được kết quả là do:
• Giáo viên trang bị cho mình vững về kiến thức, kĩ năng thực hành
Tiếng Việt, có vốn sống, vốn cảm xúc phong phú.
• Phát huy năng lực và sở trường, phải yêu nghề, gần gũi, thân thiện học
Đề nghị dùng biện pháp 1 trong đề tài để áp dụng cho khối lớp 1,2,3.
Cũng có thể lựa chọn một số biện pháp trong đề tài áp dụng cho học sinh lớp
18
1,2,3 cơ bản cách tiến hành còn phần kiến thức thì linh hoạt giáo viên sửa đổi
nhẹ hơn trên cơ sở các dạng bài tập của đề tài.
Người viết
Trần Khánh
19
IX/ Phần phụ lục
Một số dạng bài tập điển hình (minh họa mẫu) dùng trong các biện pháp:
* Bài tập mở rộng vốn từ
1) Tìm từ chỉ đặc điểm ngoại hình, nội tâm và trí tuệ của người. Đặt câu với
các từ đó.
2) Tìm các từ nói về các dạng mây. Viết một đoạn văn ngắn tả cảnh mây trời
trong một ngày nắng đẹp.
* Bài tập về nghĩa từ
3) Tìm các nghĩa của từ “đánh”. Tìm những thành ngữ có từ “đánh”.
* Bài tập về thành ngữ, quán ngữ
4) Tìm những thành ngữ so sánh chỉ màu sắc, chỉ cảm giác của lưỡi, cảm giác
của mũi, cảm giác của da (Ví dụ: đen như than, cay như ớt, thơm như hoa, nóng
như lửa,…)
* Bài tập phát hiện từ sai thay thế từ đúng
5) Hãy tìm trong câu văn (hoặc đoạn văn) từ nào (những từ nào) chưa hợp, vì
sao ? Tìm từ thích hợp thay thế.
Quê quán em có con sông chảy qua gồ ghề khúc khuỷu
20
* Bài tập tìm các bộ phận của câu đơn (chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ)
6) Xe chúng tôi bon bon chạy trên con đường nhựa giữa cánh đồng.
* Bài tập về cảm thụ văn học (đã gợi ý ở phần biện pháp 5)
* Bài tập về đọc diễn cảm có sáng tạo (Sử sụng các bài văn, bài thơ trong
SGK) Ví dụ: Bài “Tiếng đàn ba-la-lai-ca trên sông Đà” SGK Tiếng Việt 5/T1
trang 69.
Sau khi tìm hiểu bài thơ theo câu hỏi và bài tập SGK, em chép lại bài thơ
có ghi kí hiệu đọc về phía tay trái, phần trống phía tay phải ghi nhiệm vụ đọc ở
từng đoạn thơ ( đoạn 1 cần diễn tả cho người nghe thấy được điều gì ? đoạn 2 ?,
đoạn 3….?). Em tập đọc theo sự chuẩn bị của mình.
22
X/ Tài liệu tham khảo
Stt Tên tác giả Tên tài liệu tham khảo Nhà XB Năm XB
1
Tạ Đức Hiền - Nguyễn
Việt Nga - Phạm Minh
Tú
Yêu văn và học văn /Tập
1
Hà Nội 2001
2 Bùi Văn Huệ Tâm lí tiểu học Giáo dục 1997
3 Trần Mạnh Hưởng
Luyện tập về cảm thụ
văn học ở tiểu học
Giáo dục 2002
4
Trần Mạnh Hưởng –
Lê hữu Tỉnh
Bồi dưỡng học sinh giỏi
Tiếng Việt lớp 4
Bồi dưỡng học sinh giỏi
Tiếng Việt lớp 5
Biện pháp 1: Phát hiện học sinh có năng khiếu văn 3
24
Biện pháp 2: Làm giàu vốn từ ngữ cho các em
4
Biện pháp 3: Luyện viết câu văn sáng sủa, ngắn gọn,
biết dùng tốt các dấu ngắt câu,diễn đạt bằng những câu sinh
động có hình ảnh.
5
Biện pháp 4: Tích lũy các hình ảnh văn học
8
Biện pháp 5: Nâng cao năng lực cảm thụ văn học
9
Biện pháp 6: Bồi dưỡng kĩ năng quan sát, tìm ý
10
Biện pháp 7: Bồi dưỡng tình cảm và mĩ cảm
11
4 Kết quả nghiên cứu 11
5 Kết luận 12
6 Đề nghị 13
7 Phụ lục 14-15
8 Tài liệu tham khảo 16
9 Mục lục 17
PHIẾU CHẤM ĐIỂM, XẾP LOẠI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2011 – 2012
25