TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
O
TRẦN MINH TRÍ
ẢNH HƢỞNG CỦA MẬT ĐỘ SẠ ĐẾN NĂNG SUẤT
GIỐNG LÚA OM 2517 VỤ HÈ THU NĂM 2012 TẠI
HUYỆN VĨNH THẠNH, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƢ NÔNG HỌC
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
GS.TS. Nguyễn Bảo Vệ Trần Minh Trí
ThS. Trần Thị Bích Vân MSSV: 3103533
Lớp: Nông Học K36 Cần Thơ - 2013
i
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
O Luận văn tốt nghiệp kỹ sƣ ngành Nông Học
ĐỀ TÀI:
ẢNH HƢỞNG CỦA MẬT ĐỘ SẠ ĐẾN NĂNG SUẤT
GIỐNG LÚA OM 2517 VỤ HÈ THU NĂM 2012 TẠI
HUYỆN VĨNH THẠNH, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
………………………………………………………………………………………
… ……………………………………………………………………………….….
………….…… ……… ……………………………………………………… …
……….…………….…………………………………………………………… …
………………………….
Luận văn đã đƣợc hội đồng đánh giá ở mức: ……………
Cần Thơ, ngày……tháng… năm 2013
Thành viên Hội đồng DUYỆT KHOA
Trƣởng Khoa Nông Nghiệp & SHƢD iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu,
kết
quả đƣợc trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chƣa từng
đƣợc ai
công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trƣớc đây.
v
LÝ LỊCH CÁ NHÂN
1. LÝ LỊCH
Họ và Tên: Trần Minh Trí.
Giới tính: Nam.
Ngày sinh: 15//09/1992.
Nơi sinh: Vĩnh Thạnh-Cần Thơ.
Dân tộc: Kinh.
Quê quán: Ấp D1, xã Thạnh Thắng, huyện Vĩnh Thạnh, TP. Cần Thơ.
2. QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
Năm 1998-2003: Trƣờng Tiểu Học Thạnh Thắng 1.
Năm 2003-2010: Trƣờng Trung Học Phổ Thông Thạnh An.
Năm 2010-2013: Trƣờng Đại Học Cần Thơ, khoa Nông Nghiệp và Sinh
Học Ứng Dụng, ngành Nông Học, khóa 36.
vi
TRẦN MINH TRÍ. “Ảnh hƣởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa OM 2517
vụ Hè Thu năm 2012 tại huyện Vĩnh Thạnh, TP Cần Thơ”. Luận văn tốt nghiệp
kỹ sƣ ngành Nông Học, khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trƣờng Đại
Học Cần Thơ. Cán bộ hƣớng dẫn: GS.TS. Nguyễn Bảo Vệ và ThS. Trần Thị
Bích Vân.
TÓM LƢỢC
Đề tài “Ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa OM 2517 vụ
Hè Thu năm 2012 tại huyện Vĩnh Thạnh, Thành Phố Cần Thơ” nhằm tìm ra
CHƢƠNG 1 2
LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1.1 Giới thiệu về đặc điểm thực vật của cây lúa 2
1.1.1 Rễ lúa 2
1.1.2 Thân lúa 2
1.1.3 Lá lúa 3
1.1.4 Hoa lúa 4
1.1.5 Bông lúa 4
1.2 Các giai đoạn sinh trƣởng của cây lúa 4
1.2.1 Giai đoạn tăng trƣởng 4
1.2.2 Giai đoạn sinh sản 5
1.2.3 Giai đoạn chín 5
1.3 Thành phần năng suất 6
1.3.1 Số bông trên đơn vị diện tích 6
1.3.2 Số hạt trên bông 7
1.3.3 Tỉ lệ hạt chắc 7
1.3.4 Trọng lƣợng hạt 7
1.4 Một số yếu tố ảnh hƣởng tới cây lúa 8
1.4.1 Nhiệt độ 8
1.4.2 Ánh sáng 8
1.4.3 Lƣợng mƣa 9
1.4.4 Gió 9
1.4.5 Đất đai 10
viii
1.4.6 Dinh dƣỡng 10
1.5 Phƣơng pháp gieo sạ 12
1.6 Những nghiên cứu về mật độ gieo sạ 13
1.7 Một số sâu bệnh hại chính trên lúa 15
3.4 Ảnh hƣởng của mật độ sạ đến hiệu quả kinh tế 33
ix
CHƢƠNG 4 35
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 35
4.1 Kết luận 35
4.2 Đề nghị 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO 36
PHỤ CHƢƠNG x
DANH SÁCH BẢNG
Bảng
Tựa bảng
Trang
3.1
Ghi nhận tổng quan thí nghiệm giống lúa OM 2517 sạ với
các mật độ khác nhau tại Vĩnh Thạnh-TP Cần Thơ.
22
3.2
Ảnh hƣởng của mật độ gieo sạ đến chiều cao cây (cm) qua
các giai đoạn sinh rƣởng của giống lúa OM 2517 vụ Hè
Thu năm 2012 tại Vĩnh Thạnh-Cần Thơ.
2.1
Sơ đồ bố trí thí nghiệm
19
3.1
Ảnh hƣởng của mật độ gieo sạ đến số bông trên đơn vị
diện tích của giống lúa OM 2517 vụ Hè Thu năm 2012 tại
Vĩnh Thạnh-Cần Thơ
27
3.2
Ảnh hƣởng của mật độ gieo sạ đến số hạt trên bông của
giống lúa OM 2517 vụ Hè Thu năm 2012 tại Vĩnh Thạnh-
Cần Thơ
28
3.3
Ảnh hƣởng của mật độ gieo sạ đến số hạt chắc trên bông
của giống lúa OM 2517 vụ Hè Thu năm 2012 tại Vĩnh
Thạnh-Cần Thơ
29
3.4
Ảnh hƣởng của mật độ gieo sạ đến tỷ lệ hạt chắc trên
bông của giống lúa OM 2517 vụ Hè Thu năm 2012 tại
Vĩnh Thạnh-Cần Thơ
30
3.5
Ảnh hƣởng của mật độ gieo sạ đến trọng lƣợng 1000 hạt
của giống lúa OM 2517 vụ Hè Thu năm 2012 tại Vĩnh
Thạnh-Cần Thơ
31
thể, nếu sạ với mật độ quá cao cây lúa sẽ đẻ nhánh ít hoặc không đẻ nhánh, tỉ lệ
chồi vô hiệu cao, thậm chí cây bị chết do cạnh tranh sinh tồn, cùng với đó là việc
bón nhiều phân đạm dẫn đến sâu bệnh phát triển mạnh và làm giảm năng suất
(Nguyễn Trƣờng Giang và ctv., 2010). Vì vậy, mật độ gieo sạ thích hợp có ảnh
hƣởng quan trọng giúp tăng năng suất lúa, giảm đƣợc dịch hại và giá thành sản
xuất. Do đó, đề tài “Ảnh hưởng của mật độ gieo sạ đến năng suất giống lúa
OM 2517 vụ Hè Thu năm 2012 tại huyện Vĩnh Thạnh, TP.Cần Thơ” đƣợc
thực hiện nhằm tìm ra mật độ sạ thích hợp để giúp tăng năng suất và hiệu quả
kinh tế.
2
CHƢƠNG 1
LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 Giới thiệu về đặc điểm thực vật của cây lúa
1.1.1 Rễ lúa
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008), rễ lúa có nhiệm vụ hút nƣớc và chất dinh
dƣỡng nuôi cây, giúp cây bám chặt vào đất cho nên có bộ rễ khỏe thì cây mới
phát triển tốt đƣợc. Có hai loại rễ lúa:
Rễ mầm (radicle): là rễ mọc ra đầu tiên khi hạt lúa nảy mầm. Thƣờng mỗi
hạt chỉ có một rễ mầm. Rễ mầm không ăn sâu, ít phân nhánh, chỉ có lông ngắn,
dài khoảng 10-15 cm. Rễ mầm giữ nhiệm vụ hút nƣớc cung cấp cho phôi phát
triển và sẽ chết sau 10-15 ngày, lúc cây mạ đƣợc 3-4 lá. Các rễ thứ cấp có thể
mọc ra khi rễ mầm bị thiệt hại. Rễ mầm còn có nhiệm vụ giúp hạt lúa bám vào
đất khi gieo sạ trên đồng (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
Rễ phụ (còn gọi là rễ bất định): rễ phụ mọc ra từ các đốt trên lúa. Mỗi mắt
có từ 5-25 rễ phụ mọc dài, có nhiều nhánh và lông hút. Tại mỗi mắt có hai vòng
rễ: vòng rễ trên to và khỏe, vòng rễ dƣới nhỏ và kém quan trọng hơn. Trong giai
đoạn tăng trƣởng, các mắt này thƣờng rất khít nhau và nằm dƣới mặt đất, nên rễ
hiệu khi cây lúa bắt đầu phân hóa đòng dựa vào chiều cao và số lá trên chồi:
- Chiều cao:
+ Chồi hữu hiệu khi có chiều cao cao hơn 2/3 so với thân chính.
+ Chồi vô hiệu khi có chiều cao thấp hơn 2/3 so với thân chính.
- Số lá trên chồi:
+ Chồi hữu hiệu khi có trên 3 lá.
+ Chồi vô hiệu khi có dƣới 3 lá.
1.1.3 Lá lúa
Lúa là cây đơn tử diệp (1 lá mầm). Lá lúa mọc đối hai bên thân lúa, lá ra
sau nằm đối diện lá trƣớc đó. Lá trên cùng (lá cuối cùng trƣớc khi trổ bông)
gọi là lá cờ hay lá đòng. Lá lúa gồm phiến lá, cổ lá và bẹ lá. Phiến lá là phần
phơi ra ngoài ánh sáng, có một gân chính ở giữa và nhiều gân phụ chạy song
song từ cổ đến chót lá. Phiến lá càng đứng và chứa nhiều diệp lục sẽ quang
hợp càng mạnh. Bẹ lá là phần tiếp theo phiến lá và ôm sát thân cây lúa giúp
cây đứng vững. Cổ lá là nơi tiếp giáp giữa phiến lá và bẹ lá (Nguyễn Thành
Hối, 2011).
4
1.1.4 Hoa lúa
Hạt lúa khi chƣa thụ phấn, thụ tinh thì gọi là hoa lúa (spikelet). Hoa lúa
thuộc loại dĩnh hoa, gồm trấu lớn (dƣới), trấu nhỏ (trên) tƣơng ứng với dĩnh dƣới
và dĩnh trên, một bộ nhụy cái, một bộ nhị đực (hoa lƣỡng tính tự thụ). Bộ nhụy
cái gồm một bầu noãn và vòi nhụy chẻ đôi với hai nuốm ở tận cùng để hứng
phấn. Bộ nhị đực gồm 6 chỉ (tua nhị) mang 6 bao phấn, bên trong chứa nhiều hạt
phấn. Bên trong hai vỏ trấu, chỗ gần sát với bầu noãn có hai mày hoa (vảy cá)
giữ nhiệm vụ đóng mở hai vỏ trấu khi hoa nở. Trên đỉnh của trấu dƣới đôi khi
tối đa có thể đạt đƣợc trƣớc, cùng lúc hay sau thời kì phân hóa đòng tùy theo
giống lúa (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
1.2.2 Giai đoạn sinh sản
Giai đoạn sinh sản bắt đầu từ lúc lúa phân hóa đòng đến lúc lúa trổ bông.
Giai đoạn này kéo dài khoảng 27-35 ngày, trung bình 30 ngày và giống lúa dài
ngày hay ngắn ngày thƣờng không khác nhau nhiều. Lúc này, số chồi vô hiệu
giảm nhanh, chiều cao tăng lên rõ rệt do sự tăng dài của 5 lóng trên cùng. Đòng
lúa hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn, cuối cùng thoát ra khỏi bẹ của lá
cờ, trổ bông. Trong suốt thời gian này, nếu đầy đủ dinh dƣỡng, mực nƣớc thích
hợp, ánh sáng nhiều, không sâu bệnh và thời tiết thuận lợi thì bông lúa sẽ hình
thành nhiều hơn và vỏ trấu sẽ đạt kích thƣớc lớn nhất của giống, tạo điều kiện gia
tăng trọng lƣợng sau này (Nguyễn Ngoc Đệ, 2008).
1.2.3 Giai đoạn chín
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008), giai đoạn chín bắt đầu từ lúc lúa trổ bông
đến lúc thu hoạch. Giai đoạn này khoảng 30 ngày đối với hầu hết các giống lúa ở
vùng nhiệt đới. Tuy nhiên nếu đất ruộng có nhiều nƣớc, thiếu lân, thừa đạm, trời
mƣa ẩm, ít nắng trong thời gian này thì giai đoạn chín sẽ kéo dài hơn và ngƣợc
lại. Giai đoạn này cây lúa trải qua các thời kỳ sau:
- Thời kỳ chín sữa (ngậm sữa): các chất dự trữ trong thân lá và sản phẩm
quang hợp đƣợc vận chuyển vào hạt. Hơn 80% chất khô tích lũy trong hạt là do
quang hợp ở giai đoạn sau khi trổ. Do đó, các điều kiện dinh dƣỡng, tình trạng
sinh trƣởng, phát triển của cây lúa và thời tiết từ giai đoạn lúa trổ trở đi hết sức
quan trọng đối với quá trình hình thành năng suất lúa. Kích thƣớc và trọng lƣợng
gạo tăng dần làm đầy vỏ trấu.
- Thời kỳ chín sáp: hạt mất nƣớc, từ từ cô đặc lại, lúc bấy giờ vỏ trấu vẫn
còn xanh.
- Thời kỳ chín vàng: hạt tiếp tục mất nƣớc, gạo cứng dần, trấu chuyển sang
màu vàng đặc thù của giống lúa, bắt đầu từ những hạt cuối cùng ở chót bông lan
dần xuống các hạt ở phần cổ bông nên gọi là “lúa đỏ đuôi”, lá già rụi dần.
nhiều nhất vào năng suất lúa. Số bông có thể đóng góp 74% năng suất, trong khi
đó số hạt và trọng lƣợng của hạt đóng góp 26%. Khi xem xét mối quan hệ nguồn
và sức chứa thì số bông/m
2
ảnh hƣởng đến năng suất kinh tế với hệ số tƣơng
quan rất cao r = 0,91 (Phạm Văn Chƣơng, 2002).
7
1.3.2 Số hạt trên bông
Số hạt trên bông là yếu tố quan trọng thứ hai trong các yếu tố cấu thành
năng suất lúa. Số hạt trong bông đƣợc quyết định từ lúc tƣợng cổ bông đến 5
ngày trƣớc khi trổ nhƣng quan trọng nhất là thời ký phân hóa hoa và giảm nhiễm
tích cực. Ở giai đoạn này, số hạt trên bông có ảnh hƣởng thuận đối với năng suất
do ảnh hƣởng đến số hoa đƣợc phân hóa. Sau giai đoạn nay, số hạt trên bông đã
hình thành có thể bị thoái hóa có ảnh hƣởng âm (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
Nhƣ vậy, số hạt trên bông tùy thuộc vào số hoa đƣợc phân hóa và số hoa
bị thoái hóa. Hai yếu tố này bị ảnh hƣởng bởi giống lúa, kỹ thuật canh tác và điều
kiện thời tiết. Nói chung, đối với những giống lúa bông to, kỹ thuật canh tác tốt,
bón phân đầy đủ, chăm sóc đúng mức, thời tiết thuận lợi thì số hoa phân hóa
càng nhiều, số hoa thoái hóa càng ít, nên số hạt cuối cùng trên bông cao. Ở các
giống lúa cải thiện, số hạt trên bông từ 80-100 hạt đối với lúa sạ hoặc 100-120
hạt đối với lúa cấy là tốt trong điều kiện ĐBSCL (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
1.3.3 Tỉ lệ hạt chắc
Tỉ lệ hạt chắc đƣợc quyết định từ đầu thời kỳ phân hoá đòng đến khi lúa
vào chắc nhƣng quan trọng nhất là các thời kỳ phân bào giảm nhiễm, trổ bông,
phơi màu, thụ phấn, thụ tinh và vào chắc. Tỉ lệ hạt chắc tuỳ thuộc số hoa trên
bông, đặc tính sinh lý của cây lúa và chịu ảnh hƣởng lớn của điều kiện ngoại
0
C cây lúa ngừng sinh trƣởng, nếu kéo dài một tuần lễ
cây lúa sẽ chết. Phạm vi nhiệt độ mà cây lúa có thể chịu đựng đƣợc và nhiệt độ
tối hảo thay đổi tùy theo giống lúa, giai đọan sinh trƣởng, thời gian bị ảnh hƣởng
là tình trạng sinh lý của cây lúa (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
Nhiệt độ thấp làm giảm hoặc ngƣng hẳn sự nẩy mầm của hạt, làm mạ
chậm phát triển, cây mạ ốm yếu, lùn lại, lá bị mất màu, trổ trễ, bông bị nghẹn,
phần chót bông bị thoái hóa, sự thụ phấn bị đình trệ, khả năng bất thụ cao, hạt lép
nhiều và chín kéo dài bất thƣờng. Các giống lúa khác nhau phản ứng với nhiệt độ
thấp khác nhau. Bón phân lân có thể làm giảm thiệt hại do nhiệt độ thấp (Nguyễn
Ngọc Đệ, 2008).
Nhiệt độ cao tăng vận tốc ra lá và sinh nhiều mầm chồi hơn. Nhiệt độ cao
sẽ rút ngắn các giai đoạn vào chắc, thời tiết có mây thƣờng xuyên gây hại cho sự
chắc hạt. Nhiệt độ cao hơn 35
0
C khi trổ gié hoa có thể làm phần trăm bất thụ cao
(Đinh Thế Lộc, 2006).
1.4.2 Ánh sáng
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008), ánh sáng ảnh hƣởng rất lớn đến sinh
trƣởng, phát triển và phát dục của cây lúa trên 2 phƣơng diện: cƣờng độ ánh sáng
và độ dài chiếu sáng trong ngày (quang kỳ).
Giai đoạn lúa non: nếu thiếu ánh sáng cây lúa sẽ ốm yếu, màu lá từ xanh
nhạt chuyển sang vàng, lúa không nở bụi đƣợc. Thời kỳ phân hóa đòng: nếu thiếu
ánh sáng thì bông lúa sẽ ngắn, ít hạt và hạt nhỏ, hạt thoái hóa nhiều, dễ bị sâu
bệnh phá hại (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
Thời kỳ lúa trổ: thiếu ánh sáng sự thụ phấn, thụ tinh bị trở ngại làm tăng
số hạt lép, giảm số hạt chắc và hạt phát triển không đầy đủ (hạt lửng), đồng thời
cây có khuynh hƣớng vƣơn lóng dễ đổ ngã (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
9
Nguyễn Thành Hối (2011) cho rằng đất canh tác lúa cần có:
- Tầng canh tác đủ dày (20 cm).
- Giàu dinh dƣỡng.
- Tơi xốp, nhiều hữu cơ.
- Có khả năng giữ nƣớc và phân bón tốt.
- pH: 5,5-7,5.
- Mặt bằng của ruộng đồng đều.
- Dễ chủ động tƣới tiêu nƣớc.
1.4.6 Dinh dƣỡng
1.4.6.1 Đạm (N)
Đạm đóng vai trò quan trọng trong đời sống của cây lúa, giữ vị trí đặc biệt
trong việc tăng năng suất lúa. Tại các bộ phận non của cây lúa có hàm lƣợng đạm
cao hơn các bộ phận già. Đạm là một trong các nguyên tố hóa học cơ bản của cây
lúa, đồng thời cũng là yếu tố cơ bản trong quá trình phát triển của tế bào và các
cơ quan rễ, thân, lá (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
Đạm có tác dụng mạnh trong thời gian đầu sinh trƣởng và tác dụng rõ rệt
nhất của đạm đối với cây lúa là làm tăng hệ số diện tích lá và tăng nhanh số
nhánh đẻ đƣợc. Tuy nhiên hiệu suất quang hợp và hiệu suất nhánh đẻ hữu hiệu có
ngƣỡng nhất định nên khi điều sử dụng phân đạm cần chú ý điều chỉnh lƣợng
bón và thời điểm bón đạm cho cây lúa. Nếu thiếu đạm, cây lúa thấp, đẻ nhánh
kém, phiến lá nhỏ, hàm lƣợng diệp lục giảm, lá lúa ngả màu vàng và lúa sẽ trổ
sớm hơn, số bông và số hạt ít hơn, năng suất giảm. Nếu bón nhiều đạm và trong
điều kiện ruộng thừa dinh dƣỡng thì cây lúa thƣờng dễ hút đạm, dinh dƣỡng thừa
đạm sẽ làm cho lá lúa dài, to, phiến lá mỏng, nhánh lúa đẻ vô hiệu nhiều, lúa sẽ
trổ muộn, cây cao vóng dẫn đến hiện tƣợng lúa lốp, đổ non dẫn đến năng suất lúa
không cao. Cây lúa hút đạm nhiều vào hai thời kỳ là đẻ nhánh và làm đòng
(Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
1.4.6.2 Lân (P)
Trong cây lúa, tính theo chất khô, tỉ lệ lân nguyên chất (P
2
lúa tăng cƣờng hô hấp. Kali còn giúp tổng hợp protit. Do vậy nó hạn chế việc
tích lũy nitrat trong lá, hạn chế tác hại của việc bón thừa đạm cho lúa. Ngoài ra
kali còn giúp bộ rễ tăng khả năng hút nƣớc và cây lúa không bị mất nƣớc quá
mức ngay cả trong lúc gặp khô hạn, giúp tăng khả năng chống hạn và chống rét
cho cây lúa (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
Cây lúa đƣợc bón đầy đủ kali sẽ phát triển cứng cáp, không bị ngã, đổ,
chịu hạn và chịu rét tốt. Cây lúa thiếu kali sẽ có màu lục tối, mép lá có màu nâu
hơi vàng. Thiếu kali nghiêm trọng trên đỉnh lá sẽ có vết hoại tử màu nâu tối trong
khi các lá già phía dƣới thƣờng có vết bệnh tiêm lửa. Khi tỉ lệ kali trong cây giảm
xuống chỉ còn bằng 1/2-1/3 bình thƣờng thì mới thấy xuất hiện triệu chứng thiếu
kali trên lá, cho nên khi triệu chứng xuất hiện thì năng suất đã giảm nên việc bón