Vì sao khi nghiên cứu lịch sử tiếng Việt, người ta lại phải nghiên cứu một số đặc điểm địa lý vùng Đông Nam Á - Pdf 30

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Môn lịch sử tiếng Việt - Tập hợp câu hỏi và câu trả lời
Câu 1: Vì sao khi nghiên cứu lịch sử tiếng Việt, người ta lại phải
nghiên cứu một số đặc điểm địa lý vùng Đông Nam Á
Trong nghiên cứu lịch sử ngôn ngữ, khi nói tới vị trí của một ngôn ngữ cụ
thể thường thường người ta phải định vị nó của một ngôn ngữ nào đó và trong
một vùng địa lý xác định, trong trường hợp tiếng Việt, công việc này về thực
chất là xác định xem tiếng Việt có liên hệ về nguồn gốc với những ngôn ngữ nào
ở khu vực Đông Nam Á, một địa bàn mà Việt Nam là một phần lãnh thổ cấu
thành lên nó.
Việt Nam là một quốc gia thuộc vùng địa lý Đông Nam Á, tiếng Việt là
một ngôn ngữ của cư dân vừa có số người nói đông đảo, vừa là cư dân chủ thể ở
Việt Nam nên nó là một trong số những ngôn ngữ quan trọng nhất ở vùng Đông
Nam Á. Vì vậy, để nghiên cứu đầy đủ lao động của ngôn ngữ này, chúng ta phả
đặt và xem xét nó trong bối cảnh địa lý, ngôn ngữ vùng Đông Nam Á.
Trước hết chúng ta hiểu một số nét cơ bản về các nước Đông Nam Á, vào
thời điểm hiện nay (2004) ở địa bàn đang được quan tâm, chúng ta có thể nói
đến một Đông Nam Á có 11 quốc gia khác nhau. Mỗi quốc gia không phân biệt
thể chế chính trị, là một chủ thể hành chính, vì vậy có thể nói đây là vùng Đông
Nam Á hành chính bao gồm những quốc gia trong phần đất liền (hay Đông Nam
Á lục địa) và những quốc gia thuộc phần hải đảo. Về chính trị, hiện nay các
quốc gia Đông Nam Á đang tập hợp và đoàn kết trong một khối hướng tới sự
thống nhất về kinh tế gọi là khu vực Asean. Trong thực tế ở khía cạnh ngôn ngữ,
khu vực Đông Nam Á có những mối liên hệ, những mối liên quan với nhau khá
chặt chẽ từ xưa, góp phần làm cho sự tương đồng về mặt văn hoá giữa các quốc
gia trong khu vực càng bền chặt. Nhưng những vấn đề mà chúng ta nói trên là
một số đặc điểm vùng Đông Nam Á hành chính, còn đối với công việc tìm hiểu
lịch sử ngôn ngữ, chúng ta sẽ đề cập đến một khu vực lãnh thổ Đông Nam Á mở
rộng và là vùng lãnh thổ của các khoa học nhân văn trong đó có ngành ngôn ngữ
học - được gọi là vùng Đông Nam Á văn hoá. Đây là vùng địa lý trong đó có
Website: Email : Tel : 0918.775.368

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Như vậy đặc điểm địa lí khác nhau của vùng Đông Nam Á dẫn đến tính
đan xen giữa những cư dân có gốc gác thuộc những vùng khác nhau, và do đó sẽ
có tình trạng ngôn ngữ mà họ sử dụng vốn ban đầu là khác nhau. Điều này được
thể hiện rõ ở những đặc điểm về văn hoá và ngôn ngữ của vùng. Trong toàn
vùng Đông Nam Á văn hoá hiệ tượng có nhiều cộng đồng cư dân mang những
nét văn hoá giống nhau, tương tự nhau và phân bổ ở những khoảng cách khá xa
nhau là một đặc điểm khá đặc trưng và cụ thể trong giá trị bằng nguyên nhân đạ
lý. Họ ngôn ngữ Nam Á có mặt ở miền Đông Ấn Độ, miền nam Trung Quốc, ở
khắp Đông Nam Á lục địa và phần nào còn có mặt ở Đông Nam Á hải đảo. Vì
vậy các ngôn ngữ của họ này sẽ đan xen với các họ ngôn ngữ khác tạo thành
một cộng đồng hết sức đông đúc. Xét về không gian cư trú, có nhận xét cho rằng
bức tranh ngôn ngữ của Đông Nam Á là sự xáo trộn, chồng khít lên nhau nhiều
lần của quá khứ. Nó được thể hiện rõ ngay trong phạm vi phương ngữ của tiếng
Việt. Giữa các làng khác nhau ở gần nhau là những giọng nói rất khác nhau,
khác nhau về ngữ âm, lĩnh vực từ vựng và thậm chí cả địa hạt ngữ pháp. Việt
Nam là một quốc gia đa dân tộc với 53 dân tộc thiểu số và dân tộc kinh. Trong
53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam có mặt đầy đủ các nhóm dân tộc thuộc các họ
ngôn ngữ khác nhau ở khu vực Đông Nam Á cả phần đất liền và hải đảo. Có thể
nói ở địa hạt ngôn ngữ các dân tộc, Việt Nam là bức tranh thủ nhỏ hình ảnh của
khu vực Đông Nam Á - một vùng được G.con-do-mi-nas gọi là “vô cùng phong
phú và khá phức tạp về phương diện dân tộc học và ngôn ngữ học”. Hiểu biết
đầy đủ về vấn đề ngôn ngữ - văn hoá ở đây cũng chính là có được những hiểu
biết đầy đủ về khu vực Đông Nam Á, một khu vực được coi là một trong những
cái nôi văn hoá cổ xưa của loài người, là một địa bàn có hiện trạng ngôn ngữ
học rất đa dạng, nó khiến cho mối quan hệ giữa các ngôn ngữ xảy ra theo nhiều
chiều khác nhau, làm cho việc theo dõi và nghiên cứu lịch sử phát triển của
chúng không hề đơn giản.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Câu 2: Các ý kiến xếp loại nguồn gốc tiếng Việt ở vùng Đông Nam Á

từ, các nhà nghiên cứu dựa trên cơ sở việc sử dụng hệ thống tiền tố, trung tố, gọi
chung là phụ tố để làm phương tiện cấu tạo từ.
Tuy nhiên mối một cách lập luận có những điểm khác nhau và ít nhiều
góp phần không hỏ làm sáng tỏ nhiều vấn đề khác nhau của lịch sử tiếng Việt
trong giai đoạn nghiên cứu hiện nay và có thể cho cả những nghiên cứu sau này.
Sự khác nhau này thể hiện ở 3 tiêu chí cơ bản: từ vựng, ngữ âm và ngữ pháp.
*Về vấn đề từ vựng:
-Ý kiến thứ nhất, người ta nêu lên một khả năng “tiếng Việt là một sự
thoái hoá của tiếng Hán” dựa trên quan sát thấy trong vốn từ vựng của tiếng Việt
có thể có tới 75% là từ gốc Hán. Nhưng tính xác thực của vấn đề lại khác: cách
nhìn nhận dựa vào số lượng từ gốc Hán trong tiếng Việt để xác định nguồn gốc
của ngôn ngữ là chưa đủ tính thuyết phục và do đó không mang đầy đủ tính
khoa học, những người có kinh nghiệm trong nghiên cứu so sánh - lịch sử nhận
thấy những từ gốc Hán trong tiếng Việt chỉ là những từ vay mượn, tuy số lượng
tư gốc Hán rất nhiều trong vốn từ tiếng Việt nhưng những từ này thuộc vào lớp
từ vựng văn hoá chứ không phải là những từ thuộc lớp từ vựng cơ bản.
-Ý kiến thứ hai: dựa trên nghiên cứu của Bình Nguyên Lộc ông đưa ra
175 biểu so sánh giữa danh từ tiếng Việt và danh từ của nhiều ngôn ngữ khác
nhau ở khu vực Đông Nam Á. Những ngôn ngữ khác nhau dùng để so sánh với
tiếng Việt được ông cho là có nguồn gốc Mã Lai. Cùng chung ý kiến và cách
nhìn với Bình Nguyên Lộc, tác giả Hồ Lê đã liệt kê 193 từ tiếng Việt theo ông
đều là thuần Việt thuộc họ Nam Á. Những chứng cứ mà các tác giả nêu ra có
điểm chung là: coi tất cả những ngôn ngữ có mặt ở vùng Đông Nam Á văn hoá
này đương nhiên là thuộc một họ ngôn ngữ. Họ Nam Á gồm cả ngôn ngữ Môn
khmer, ngôn ngữ nam đảo và ngôn ngữ Thái. Như vậy, cả hai ông phải dựa vào
một số từ vựng “giống nhau” giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ Nam đảo, ý kiến
này chưa thực sự thuyết phục.
-Ý kiến xếp tiếng Việt vào ngôn ngữ Thái của H. Maspéro: Đây là một
khuynh hướng quan trọng nhất trong số những ý kiến không xếp tiếng Việt vào
họ nam Á. Ông chỉ ra trong tiếng Việt có rất nhiều từ tương ứng với các ngôn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status