Đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển của cây sưa (dalbergia tonkinensis prain) được trồng trong gia đình tại ngọc thanh, phúc yên, vĩnh phúc - Pdf 30


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN


NGUYỄN THỊ HUỆ
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƢỞNG
PHÁT TRIỂN CỦA CÂY SƢA
(DALBERGIA TONKINENSIS PRAIN
)
ĐƢỢC TRỒNG TRONG GIA ĐÌNH TẠI
NGỌC THANH, PHÚC YÊN, VĨNH PHÚC KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Kỹ thuật nông nghiệp

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. Dƣơng Tiến Viện

liệu, kết quả trong khóa luận là trung thực và chƣa từng đƣợc công bố trong
bất kỳ công trình khoa học nào khác.
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Sinh viên Nguyễn Thị Huệ

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Yêu cầu của đề tài 2
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Lịch sử nghiên cứu trên thế giới 3
1.2. Lịch sử nghiên cứu trong nƣớc 5
1.2.1. Tên gọi và phân loại 5
1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam đƣợc coi là một nƣớc giàu tài nguyên rừng, nhƣng trong
nhiều năm qua rừng tự nhiên đã bị thu hẹp về diện tích và giảm sút chất
lƣợng. Năm 1943 nƣớc ta có 14,3 triệu ha rừng, độ che phủ 43%, đến năm
1990 chỉ còn 9,17 triệu ha rừng,độ che phủ 27,8%.Từ năm 1990 cả nƣớc thực
hiện chƣơng trình trồng rừng, đến năm 1999 toàn quốc có 10,91 triệu ha rừng,
trong đó có 9,4 triệu ha rừng tự nhiên và 1,5 triệu ha rừng trồng che phủ
tƣơng ứng 33,2% (Ban chỉ đạo kiểm kê rừng Trung ƣơng, 1999) [2]. Trƣớc
tình hình đó, vấn đề phục hồi rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc là nhiệm vụ to
lớn của nƣớc ta. Chọn loài cây trồng thích hợp cho từng vùng sinh thái, từng
địa phƣơng là việc làm thiết thực.
Xu hƣớng ngày nay là trồng rừng hỗn giao, chú trọng những loài cây
bản địa, rừng hỗn giao có tính ổn định cao, cây bản địa có sự thích nghi cao
với điều kiện sinh thái tại chỗ, dễ chủ động nguồn giống, cải tạo và trồng
thành những quần thể bền vững, hƣớng theo hình thức mô phỏng tự nhiên.
Vì vậy nghiên cứu cây bản địa đáp ứng nguyên tắc “ đất nào cây ấy” và
“mục đích kinh doanh” là một trong những điều kiện tiên quyết cho sự thành
công của công tác trồng rừng.
Sƣa (Dalbergia tonkinensis Prain) hay sƣa Bắc Bộ, trắc thối, huê mộc
vàng, đây là loài cây gỗ nhỡ đa tác dụng, gỗ đẹp có giá trị sử dụng trong nƣớc
và xuất khẩu. Gỗ quý, bền, gỗ trắc có màu sắc và vân đẹp, không bị nứt nẻ,
mối mọt. Gỗ đƣợc dùng đóng đồ đạc cao cấp trong gia đình (bàn, ghế,

3

CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Lịch sử nghiên cứu trên thế giới
Thạc sĩ Đặng Vân là ngƣời từng du học ở Việt Nam, tại trƣờng Đại
học Khoa Học Xã hội và Nhân Văn Hà Nội, hiện đang công tác ở thành phố
Trùng Khánh.Theo bà, loại gỗ quý nhất với ngƣời Trung Quốc là gỗ Sƣa Hải
Nam, có tên khoa học là Dalbergia odorifera T.chen, dịch ra tiếng Việt là
hoàng hoa lê [13].
Ngƣời Trung Quốc vẫn thƣờng nói với nhau về câu chuyện gỗ Sƣa.
Họ kể rằng, trong những lần khai quật mộ vua chúa khi xƣa, thì nhận thấy
quan tài đƣợc làm bằng gỗ Sƣa. Vật dụng trong nhà dành cho hoàng thân
quốc thích cũng thƣờng đƣợc sử dụng bằng loại gỗ này.
“Trắc thối Giao Chỉ” có từ thời Hán, Ngô. Nhƣng nó chỉ cực quý từ
Thịnh Đƣờng.
Từ thời Đƣờng, loại gỗ này đã đƣợc vua chúa ƣa chuộng, làm đủ các
loại giƣờng, tủ, bàn ghế. Thời đó, ngoài vàng bạc châu báu thì vùng đất Giao
Chỉ thƣờng cống nạp cho triều đình gỗ hoàng hoa lê. Chiêm Thành, Chân Lạp
cũng thƣờng cống nạp cho triều Đƣờng loại gỗ này[13].
Cuốn “Trung dƣợc đại từ điển” viết rằng, gỗ Sƣa có tác dụng cầm máu,
giảm đau, chống cao huyết áp, bệnh đƣờng ruột.
Cuốn “Bản thảo cƣơng mục” liệt kê tác dụng của gỗ Sƣa: nhuận khí,
không độc, có thể cầm máu, chữa bệnh tim.
Từ Hải (cuốn từ điển lớn nhất Trung Quốc) ghi: gỗ Sƣa có tác dục hoạt
huyết, giảm đau. Các sách này cũng nói rằng, gỗ Sƣa chỉ dùng phối hợp với
các loại dƣợc liệu khác mới có tác dụng, nhƣng lại không thấy sách nào mô tả
cách chế biến. Tuy nhiên, theo báo chí Trung Quốc, ngƣời buôn bán gỗ Sƣa
thƣờng nhấn mạnh rằng, gỗ Sƣa có nhiều tác dụng chữa bệnh, đặc biệt là


5

thần, khi thƣờng xuyên tiếp xúc nó còn có khả năng phục hồi và tăng cƣờng
chức năng của các tạng phủ trong cơ thể, tăng chức năng của thận làm cho
thận khỏe hơn, thận khỏe sẽ làm cho mọi tạng phủ khác trong cơ thể cũng
khỏe mạnh theo, làm bệnh tật tan biến hết [9]. Với những ngƣời thƣờng xuyên
tiếp xúc với gỗ Sƣa đỏ đều có khí sắc rất tốt, hai mắt có hồn hơn, da dẻ căng
hồng sức sống, xƣơng khớp chắc khỏe, trí nhớ tốt hơn.
Để đƣợc thƣờng xuyên tiếp xúc với gỗ Sƣa các đại gia Trung Quốc
thƣờng làm nhà bằng gỗ Sƣa, ngồi bàn ghế gỗ Sƣa, giƣờng chiếu bằng gỗ
Sƣa, bát đũa ăn cơm bằng gỗ Sƣa, ấm chén uống nƣớc bằng gỗ Sƣa, vòng
tràng hạt gỗ Sƣa, tƣợng phật gỗ Sƣa…[9]
1.2. Lịch sử nghiên cứu trong nƣớc
1.2.1. Tên gọi và phân loại
Tên thông thƣờng: Sƣa
Tên khác: Trắc thối, huê mộc vàng, trắc hoa trắng, Sƣa Bắc Bộ, Hoàng
hoa lý, Hoàng hoa lê ,hay Huỳnh Đàn tên này thƣờng đƣợc dùng ở miền trung
và miền nam Việt Nam.
Tên khoa học: Dalbergia Tonkinensis Prain thuộc họ đậu.
Tên khác: Dalbergia rimosa Roxb. var. tonkinensis (Prain) Phamh.; D.
boniana Gagnep [16].
Danh pháp
Giới (regnum): Plantae
Bộ (ordo): Fabales
Họ (familia): Fabaceae
Phân họ (subfamilia): Faboideae
Tông (tribus): Dalbergieae
Chi (genus): Dalbergia
Loài (species): D. tonkinensis [10].



Cây sƣa chính là “trắc thối Giao Chỉ”, một thứ gỗ cực quí từ cổ La Hy.
Không phải làm bùa ngải ƣớp xác hay gì cả. Gỗ sƣa không cứng, nhƣng
không mối mọt và thơm rất lâu, mùi thơm rất quí tộc. Gọi là thối vì quả nó
đốt lên thối um, chính là “cây quả thối”. Phần quý chỉ là lõi gỗ trong của cây,
phần dát cũng nhƣ dát lim, không giá trị. Nhƣng lái buôn không dám lấy lõi
bỏ dát, vì sợ phạm lõm cái lõi quý, nên mua cả, đem về thợ lành nghề mới
phá lấy lõi[10]. Đồ cổ làm bằng Trắc thối vẫn đƣợc dân đồ cổ Hà Nội sƣu tầm
mấy chục năm nay, cực đắt.
Đầu thế kỷ 20, Hồng Kông vẫn nhập gỗ Sƣa ở Việt Nam về với giá
cao nhƣng cũng không cực phẩm nhƣ Thịnh Đƣờng. Vì vậy, các cụ trồng
nhiều ở những vùng đất buôn bán, nhiều lái buôn “siêu” đi nhiều hiểu sâu nhƣ
Vĩnh Tƣờng, Tam Đảo để phúc cho con cháu.
Gỗ Sƣa có độ bền cực kỳ cao, ngâm trong bùn, trong nƣớc nhiều năm
vẫn không hề bị thấm nƣớc hay mục nát lại không bay mùi hƣơng, đặt ngoài
nắng cũng không hề co nứt. Bởi vì thế mà từ xƣa, ở Trung Quốc ngƣời ta đã ƣa
chuộng. Ngƣời ta còn quan niệm rằng, gia đình dù giàu có đến mấy, cuộc sống
có vƣơng giả đến mấy mà trong nhà không có vật dụng làm bằng gỗ Sƣa thì
cũng chƣa đạt đến đẳng cấp thƣợng lƣu [10]. Trắc thối, nhiều ngƣời phát cuồng
lên vì nó. Kẻ thì nhờ nó mà phất lên thành tỷ phú, nhƣng cũng có ngƣời vừa
nghe nhắc đến đã đổ bệnh vì… tiếc của. Ngƣời ta săn lùng, tận diệt nó chẳng
khác gì trầm kỳ và cơn sốt trắc thối dƣờng nhƣ chƣa có điểm dừng [15].
Cơn sốt gỗ Sƣa đỏ bắt đầu âm ỉ từ cách đây gần 20 năm nhƣng phải
đến đầu năm 2004 thì nó mới bùng phát dữ dội, tại thời điểm này gỗ Sƣa đỏ
đƣợc bán theo kg, 1kg lõi gỗ Sƣa đỏ loại đẹp có giá dao động từ 5 - 7 triệu
đồng, các thƣơng lái Trung Quốc tràn sang Việt Nam lùng sục khắp nơi để
thu mua. Vậy gỗ Sƣa đỏ có tác dụng gì mà lại có giá trị cao đến nhƣ vậy? 8


mùn gỗ Sƣa đỏ ngƣời Trung quốc từ lâu dùng để ƣớp xác ngƣời quyền quý,
có tác dụng giữ xác lâu dài, không hƣ thối. Các thầy cúng thƣờng lùng gỗ Sƣa
đỏ để làm thanh kiếm trừ tà ma rất mạnh, hay dùng mạt gỗ Sƣa cho vào cốt
bát hƣơng, lõi tƣợng phật, làm tràng hạt, để trấn yểm, ngƣời nào đêm ngủ hay
bị bóng đè, ma tà dựng giƣờng… chỉ cần mang một khúc gỗ Sƣa nhỏ để đầu
giƣòng là yên, trẻ con khóc đêm do bị tà quấy nhiễu thì gối cành Sƣa đỏ dƣới
gối sẽ hết, ngƣời kinh doanh nếu để một tƣợng thần tài bằng gỗ Sƣa đỏ dù chỉ
nhỏ bằng ngón tay bên ngƣời hay văn phòng thì luôn gặp may mắn trong ký
kết hợp tác làm ăn với bạn hàng vv [19]. Ngƣời ta quan niệm nếu chết đƣợc
chôn bằng quan tài hoặc đƣợc ƣớp bằng bột trắc thối thì linh hồn ngƣời chết
dễ đƣợc siêu thoát, đem lại điều may mắn cho gia đình[15]
Về giá trị thực sử dụng
Gỗ Sƣa đứng đầu bảng, ngay dòng gỗ qúi nhƣ Lim, Gụ, Táu, Sến cũng
không sánh bằng, gỗ Sƣa đỏ có màu đỏ sẫm, sáng bóng nhƣ ngà voi, đỏ rực
nhƣ đá rubi, vân gỗ nổi lên đẹp mê hồn, nhƣ sóng mây, tuổi thọ gỗ gần nhƣ
vĩnh cửu, có những khúc gỗ Sƣa chôn vùi ngoài thiên nhiên hàng trăm năm,
khi phát hiện vẫn không bị mục nát, bất chấp mƣa nắng, gỗ không bị nứt nẻ
cong vênh, độ bền chắc, cứng, chịu nhiệt gấp hàng chục lần gỗ Lim, nên một
bộ đồ gia dụng bằng gỗ sƣa tuy nhỏ cũng phải có giá trị hàng chục ngàn USD.
Các loại xế hộp khủng muốn khẳng định đẳng cấp cũng phải có nội thất làm
từ gỗ Sƣa đỏ. Gỗ Sƣa càng để lâu càng bóng đẹp, bền, chắc cùng thời
gian[14]. Từ những năm 90 của thế kỉ XX, giá trị thƣơng phẩm của gỗ Sƣa
trên thế giới tăng đột biến do nhiều ngƣời Trung Quốc đổ xô săn lùng gỗ Sƣa
đóng quan tài hoặc ƣớp xác nhƣ các vị hoàng đế Trung Quốc trƣớc đây.
Ngƣời ta cho là quan tài đóng bằng gỗ trắc thối có khả năng giữ đƣợc xác lâu,
không bị phân hủy.[15] 10

ngƣời sẵn sàng khuân bàn thờ, tủ áo quần, bàn ghế và thậm chí cả cái chày giã
ớt đem đi bán[15].
1.2.3. Nghiên cứu về phương pháp nhân giống
Theo một nghiên cứu mới đây của ThS. Phạm Thanh Loan và Trần
Huy Thái, giống cây Sƣa D. Tonkinensis có thể nhân giống bằng hai phƣơng
pháp là gieo hạt và giâm hom cành [5].
1.2.4. Nghiên cứu hình thái, giải phẫu về cây Sưa
Cây gỗ nhỡ, cao 15 m, đƣờng kính thân 50 cm. Vỏ ngoài màu vàng nâu
nhạt. Tán xoè rộng, phân cành thấp. Cành dài, khi non màu xám xanh [3]
Còn Sách Đỏ Việt Nam thì mô tả sƣa là cây gỗ to, thƣờng xanh (rất ít khi
rụng lá), cao 25 - 30m, đƣờng kính thân đến 0,6m hay hơn nữa. Vỏ ngoài màu
vàng nâu, nút dọc, có khi bong từng mảng lớn.
Lá kép lông chim lẻ, một lần, dài 15 - 30 cm, mang 7 - 17 lá chét, mọc
cách. Lá chét hình trái xoan, lá kèm nhỏ sớm rụng [3]. Hoa hình ngù hoặc
xiên chùy ở nách lá. Lá bắc sớm rụng. Đài hợp ở phía dƣới, nhẵn, có 5 cánh
hợp thành 2 môi. Tràng hoa 5, màu trắng, cánh có móng thẳng. Nhị 10, hợp
thành 2 bó [3].
Quả dạng quả đậu hình trứng thuôn dài, dẹt, rộng 20 - 23 mm, dài gấp 2
hoặc 3 lần rộng, mang 1 - 2 hạt, hình thận nổi rõ ở vỏ quả. Khi chín quả
không tự nứt [3].
Theo Đỗ Văn Bản, gỗ Sƣa thuộc loại nặng, cứng, có vân đẹp, mùi
thơm đặt biệt. Lỗ mạch có hai kích thƣớc, phân bố, phân tán, vòng và nửa
vòng, có chất chứa màu nâu đỏ đến nâu vàng. Tia nhỏ và hẹp, sắp xếp, thành
tầng. Trong tế bào mô mềm dọc thƣờng có tinh thể oxalat. Cấu tạo của gỗ sƣa
có một số, điểm khác biệt so với gỗ trắc và cẩm lai.
Kết quả nhƣ sau:
- Cấu tạo thô đại

12



Ngoài ra Sƣa còn phân bố ở các tỉnh Đà Nẵng, Quảng Nam (Hiên , Giàng,
Phƣớc Sơn), Kontum (Đắk Tô, Sa Thầy), Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Bình
Dƣơng, Tây Ninh, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiên Giang.
Đây là loài thực vật sống trên nhiều loại đất khác nhau nhƣ: đất đồi có độ dốc
trung bình, đất đỏ, đất thịt nhẹ, đất pha cát và đất đồi đá sỏi [19].
1.2.6. Gây trồng và sinh trưởng
Sƣa đƣợc gieo trồng rải rác ở một số nƣớc nhƣ Thái Lan, Việt Nam,
Trung Quốc, Lào, Campuchia.
Cây Sƣa đang đƣợc gây trồng theo hình thức tự phát khá rộng rãi trên
nhiều điều kiện lập địa, quy mô, phƣơng thức trồng và quản lý khác
nhau.Trong đó hình thức trồng phân tán trong hộ gia đình là chủ yếu.
Cây Sƣa trong điều kiện gây trồng và chăm sóc bình thƣờng có tốc độ
tăng trƣởng đƣờng kính và chiều cao từ trung bình đến nhanh, nhất là tuổi cấp
đầu.Trong khoảng ba đến chín năm tuổi, lƣợng tăng trƣởng bình quân dao
động trong khoảng từ 1,3-1,8cm /năm, bình quân chung là 1,5cm/năm [4].
Cho đến thời điểm hiện tại chƣa thấy có một loại gỗ nào có thể sánh
ngang với gỗ Sƣa đỏ cả về giá trị kinh tế và giá trị sử dụng của nó, gỗ Sƣa đỏ
đƣợc xếp vào nhóm 1A thuộc loại cực quý hiếm cần phải đƣợc bảo tồn và
nhân rộng. Tuy nhiên trong suốt nhiều năm qua tệ nạn Sƣa tặc chặt phá ở
khắp các vùng có cây Sƣa làm cho số lƣợng những cây Sƣa đỏ cổ thụ lâu năm
sụt giảm nghiêm trọng, số lƣợng những cây Sƣa đỏ lâu năm đã không còn
nhiều [9].
Hy vọng tất cả mọi ngƣời dân hiểu biết về giá trị của những cây Sƣa đỏ
cổ thụ còn sót lại để có những biện pháp bảo vệ hiệu quả trƣớc tệ nạn sƣa tặc
đang rình rập suốt ngày đêm nhằm đốn hạ những cây Sƣa đỏ quý hiếm này,
bên cạnh bảo tồn chúng ta cần trồng thêm nhiều những cây Sƣa nữa để cho
thế hệ sau vẫn còn có cơ hội đƣợc tận mắt nhìn loại cây “đệ nhất gỗ” này[9].

14

15

- Không khó tính nhƣ Trầm
- Không cần nƣớc nhƣ Cà phê
- Không kén đất nhƣ cây Tiêu
- Không đòi hỏi khí hậu nhƣ cây Điều
- Không chọn độ cao nhƣ Cao su
- Không hại đất nhƣ cây Xoan
- Không lâu năm nhƣ Cẩm, Xà cừ…
- Hoa Sƣa đẹp nên dùng làm cây cảnh, cây phong thủy [17]
Tóm lại: Các tài liệu tham khảo cho biết Sƣa là loài cây đa mục đích,
cho gỗ tốt có nhiều giá trị, đã bị khai thác mạnh, cần đƣợc bảo vệ và gây trồng.
Ở Việt Nam Sƣa phân bố từ các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Quảng
Ninh, Ninh Bình, Hòa Bình, Đà Nẵng, Quảng Nam (Hiên, Giàng, Phƣớc
Sơn), Kontum (Đắk Tô, Sa Thầy), Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Bình
Dƣơng, Tây Ninh, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiên Giang.
Ngoài ra còn đƣợc phân bố ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Hải Nam
Trung Quốc…
Sƣa sống đƣợc trên nhiều loại đất, phát triển trên nhiều loài đá mẹ khác
nhau và dễ trồng.
Về kỹ thuật gieo ƣơm, nhiều tác giả quan tâm đến các phƣơng pháp
gieo trồng nhƣ gieo hạt thẳng, trồng bằng hom …vv.
16

CHƢƠNG 2. NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tƣợng nghiên cứu

cây Dó bầu,mật độ trồng là cây cách cây 3m và hàng cách hàng 3m, 1 ha
trồng 1.100 cây. Còn vƣờn Sƣa 2 năm tuổi có diện tích là 50 ha đƣợc trồng
với hình thức trồng thuần. Mật độ là cây cách cây 2m, hàng cách hàng 3m, 1
ha trồng 1.660 cây.
Cây Sƣa đƣợc điều tra ngẫu nhiên tại một vƣờn cây, theo phƣơng pháp
5 điểm chéo góc, mỗi điểm 4 cây. Tiến hành đánh dấu các cây và đo đếm các
chỉ tiêu về kích thƣớc thân, cành, chiều cao cây, đƣờng kính thân, quả/chùm,
mật độ… theo dõi các chỉ tiêu sinh trƣởng, phát triển trên 20 cây Sƣa.
Tiến hành đo các chỉ tiêu sinh trƣởng của cây ở vƣờn trồng bằng các
dụng cụ điều tra qua các lần đo vào các tháng sau: tháng 9/2013, tháng
12/2013, tháng 4/2014, tháng 9/2014.
+Đo đƣờng kính gốc (Do) bằng thƣớc dây theo chu vi (sau đó quy đổi
ra đƣờng kính) có độ chia 1/10cm .
+ Đƣờng kính ngang ngực (D
1,3
) thân cây theo chu vi ở vị trí 1,3m bằng
thƣớc dây có độ chia 1/10cm.Đƣờng kính đƣợc tính qua chu vi.
+Đo chiều cao dƣới cành (H
dc
): đo chiều cao từ mặt đất đến cành còn
sống dƣới cùng bằng thƣớc dây có độ chia 1/10cm.
+ Chiều cao vút ngọn (H
vn
) của cây đƣợc đo từ gốc đến ngọn cây bằng
thƣớc sào khắc vạch đo trực tiếp.
+ Chu vi cây trƣởng thành đƣợc đo tại vị trí 1,3m bằng thƣớc dây có độ
chia 1/10cm (sau đó quy đổi ra đƣờng kính).
+ Đo đƣờng kính cành cấp một: Trên các cây đã đánh dấu tiến hành đo
đƣờng kính cành cấp một bằng thƣớc dây có độ chia 1/10cm (sau đó quy đổi
ra đƣờng kính).


*100%). Giữa 2 tập hợp dữ liệu, tập nào
có hệ số biến thiên lớn hơn là tập có mức độ biến động lớn hơn. Nhƣợc điểm
của hệ số biến thiên khi dùng để đo mức độ biến động là nếu giá trị bình quân
gần 0 thì chỉ một biến động nhỏ của giá trị bình quân cũng có thể khiến cho
hệ số này thay đổi lớn. Ƣu điểm của nó là có thể dùng để so sánh mức độ biến
động của 2 tập dữ liệu có giá trị bình quân khác nhau.

19

Mức tăng trƣởng bình quân chung ():
Tăng trƣởng là số lƣợng biển đổi đƣợc của một nhân tố điều tra cây
rừng trong một đơn vị thời gian.
Công thức tính tăng trƣởng thƣờng xuyên hằng năm
∆T = ∆T
a
-∆T
(a-1)
Trong đó: ∆T: tăng trƣởng bình quân chung
∆Ta: tăng trƣởng bình quân chung của nhân tố điều tra tại a
năm
∆T(a-1): tăng trƣởng bình quân chung của nhân tố điều tra
tại a-1 năm
Nhân tố điều tra có thể là đƣờng kính, chiều cao…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status