khảo sát diễn biến mật số và tỉ lệ gây hại của sâu đục trái conogethes punctiferalis guenée (lepidoptera: pyralidae) bằng bẫy pheromone giới tính tổng hợp tại tỉnh hậu giang và thành phố cần thơ - Pdf 30


TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG LÊ NHỰT THANH
KHẢO SÁT DIỄN BIẾN MẬT SỐ
VÀ TỈ LỆ GÂY HẠI CỦA SÂU ĐỤC TRÁI
CONOGETHES PUNCTIFERALIS GUENÉE
(LEPIDOPTERA: PYRALIDAE)
BẰNG BẪY PHEROMONE GIỚI TÍNH TỔNG HỢP
TẠI TỈNH HẬU GIANG VÀ THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Luận văn tốt nghiệp Đại học
Ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT Cần Thơ, 2013

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Luận văn tốt nghiệp Đại học

tên đề tài:
“Khảo sát diễn biến mật số và tỉ lệ gây hại của sâu đục trái
Conogethes punctiferalis Guenée (Lepidoptera: Pyralidae)
bằng bẫy pheromone giới tính tổng hợp tại
tỉnh Hậu Giang và thành phố Cần Thơ”

Do sinh viên Lê Nhựt Thanh thực hiện và bảo vệ trƣớc hội đồng ngày …… tháng
…….năm 2013.
Luận văn đã đƣợc hội đồng đánh giá ở mức……….
Ý kiến hội đồng:
DUYỆT KHOA Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2013
CHỦ NHIỆM KHOA NÔNG NGHIỆP CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
ii

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
   Chứng nhận đã chấp thuận luận văn với tên đề tài:
“Khảo sát diễn biến mật số và tỉ lệ gây hại của sâu đục trái
Conogethes punctiferalis Guenée (Lepidoptera: Pyralidae)
bằng bẫy pheromone giới tính tổng hợp


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu và
kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công
bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu luận văn trƣớc đây.

Tác giả luận văn LÊ NHỰT THANH
v

LỜI CẢM TẠ Kính dâng!
Cha, mẹ suốt đời tận tụy vì tƣơng lai của con.
Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến!
Ts. Lê Văn Vàng và Ks. Châu Nguyễn Quốc Khánh đã tận tình hƣớng dẫn và giúp
đỡ em trong suốt thời gian thực hiện đề tài này.
Xin chân thành cảm ơn!
Anh Nguyễn Tiến Anh đã tận tình chỉ bảo em trong thời gian thực hiện đề tài.
Các chú các bác chủ vƣờn đã giúp đỡ em thực hiện đề tài.
Cùng các bạn lớp Bảo vệ thực vật K36 đã có nhiều giúp đỡ tôi trong thời gian thực
hiện đề tài.
Trân trọng!

bên ngoài.

vii

MỤC LỤC

NỘI DUNG Trang
TÓM LƢỢC vi
Mục lục vii
Danh sách bảng x
Danh sách hình xi
Danh sách từ viết tắt xii
CHƢƠNG MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
1.1 SÂU ĐỤC TRÁI CONOGETHES PUNCTIFERALIS GUENÉE 3
1.1.1 Phân loại 3
1.1.2 Phân bố và ký chủ 3
1.1.3 Đặc điểm hình thái 3
1.1.4 Đặc điểm sinh học 5
1.1.5 Đặc điểm gây hại 5
1.1.6 Biện pháp phòng trị 7
1.2 PHEROMONE 8
1.2.1 Khái niệm pheromone, một số đặc tính và phân loại 8
1.2.2 Khái niệm pheromone giới tính 9
1.2.3 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng pheromone giới tính 9
1.2.3.1 Sử dụng làm công cụ khảo sát sự biến động quần thể 10
1.2.3.2 Sử dụng làm công cụ phòng trị bằng biện pháp bẫy tập hợp 10
1.2.3.3 Sử dụng làm công cụ phòng trị bằng biện pháp quấy rối sự bắt
cặp………………………………………………………………11
1.2.4 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng pheromone tại Việt Nam 11

3.1.4.2 Tỷ lệ gây hại 29
3.1.5 Diễn biến mật số quần thể và tỉ lệ gây hại của SĐT C. punctiferalis trên
các vƣờn chôm chôm tại quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ 29
3.1.5.1 Diễn biến mật số 29
3.1.5.2 Tỷ lệ gây hại 30
ix

3.2 SO SÁNH MẬT SỐ QUẦN THỂ SÂU ĐỤC TRÁI C. PUNCTIFERALIS
GIỮA KHU VỰC CÓ ĐẶT BẪY PHEROMONE VÀ KHU VỰC BÊN NGOÀI
TRÊN VƢỜN ỔI TẠI HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ 31
CHƢƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 32
4.1 KẾT LUẬN 32
4.2 ĐỀ NGHỊ 32
TÀI LIỆU THAM KHẢO 33

x

DANH SÁCH BẢNG
Bảng
Tên bảng
Trang
2.1
Các địa điểm thực hiện thí nghiệm khảo sát sự biến động mật số
quần thể và tỉ lệ gây hại của SĐT C. punctiferalis.
18
3.1
Số lƣợng trung bình bƣớm C. punctiferalis vào bẫy cao tại các

1.1
Ấu trùng C. punctiferalis
4
1.2
Nhộng Conogethes punctiferalis
4
1.3
Thành trùng C. punctiferalis
5
1.4
Triệu chứng gây hại của C. punctiferalis trên nhãn và ổi
6
1.5
Triệu chứng gây hại của C. punctiferalis trên chôm chôm và sầu
riêng
7
2.1
Mồi pheromone và bẫy pheromone
16
2.2
Cách đặt bẫy trên vƣờn thí nghiệm
17
3.1
Diễn biến mật số quần thể SĐT C. punctiferalis trên nhãn, ổi, sầu
riêng và chôm chôm tại tỉnh Hậu Giang và thành phố Cần Thơ từ
ngày 25/11/2011 đến ngày 12/11/2012.
21
3.2
Diễn biến mật số quần thể và tỉ lệ gây hại của SĐT C.
punctiferalis trên các vƣờn ổi tại huyện Phong Điền, thành phố

E10-16:Ald
(E)-10-hexadecenal
SĐT
Sâu đục trái
TT
Thành trùng
Z10-16:Ald
(Z)-10-hexadecenal
1

CHƢƠNG MỞ ĐẦU

Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) không những là vựa lúa lớn nhất cả
nƣớc mà còn là vùng trồng cây ăn trái giàu tiềm năng. Với điều kiện đất đai màu
mỡ, nguồn nƣớc dồi dào cùng với khí hậu nóng ẩm quanh năm nên tạo điều kiện
cho các loại cây ăn trái sinh trƣởng và phát triển tốt, cho năng suất và chất lƣợng
cao. Tuy nhiên, bên cạnh các điều kiện thuận lợi đó thì áp lực tấn công của các loài
dịch hại là rất lớn, đặc biệt là côn trùng gây hại, trong đó loài sâu đục trái (SĐT)
Conogethes punctiferalis Guenée là một trong những loài gây hại rất quan trọng.
C. punctiferalis là loài đa ký chủ, gây hại trên nhiều loại cây ăn trái tại ĐBSCL nhƣ
ổi, nhãn, sầu riêng, chôm chôm, mãng cầu, … (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000; Nguyễn
Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011). Sâu có thể đục trái từ khi trái còn non đến lúc gần
thu hoạch, trái non bị sâu đục thƣờng bị biến dạng, khô và rụng; trái lớn bị sâu đục
sẽ mất đi phẩm chất trái, có thể bị thối do nấm tấn công tiếp theo (Nguyễn Thị Thu
Cúc, 2000). Hầu hết nông dân sử dụng thuốc hóa học để phòng trị loại sâu hại này,
tuy nhiên do ấu trùng C. punctiferalis phần lớn phát triển và trú ẩn bên trong trái
nên biện pháp sử dụng thuốc trừ sâu hóa học có hiệu quả không cao, tốn kém và đặc

tại tỉnh Hậu Giang và thành phố Cần Thơ. 3

CHƢƠNG 1
LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 SÂU ĐỤC TRÁI CONOGETHES PUNCTIFERALIS GUENÉE
1.1.1 Phân loại
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2011) và Nguyễn Thị Thu Cúc
(2000), loài sâu đục trái có tên khoa học là Conogethes punctiferalis Guenée (tên
khác: Dichosrocis punctiferalis Guenée) thuộc bộ Cánh vảy (Lepidoptera), họ Ngài
sáng (Pyralidae).
1.1.2 Phân bố và ký chủ
Sâu đục trái C. punctiferalis có phân bố rộng, đƣợc ghi nhận hiện diện ở
nhiều quốc gia nhƣ: Brunei Darussalam, Campuchia, Trung Quốc, Ấn Độ,
Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Sri Lanka,
Thái Lan, Việt Nam, Australia, Papua New Guinea (CPC, 2007).
Sâu đục trái C. punctiferalis là loài đa ký chủ gây hại trên nhiều loại cây
trồng khác nhau gồm: đu đủ, dẽ queensland, dâu tầm, đào, ổi, bông vải, bắp, khế,
chôm chôm, hƣớng dƣơng, cỏ mía và trên 15 ký chủ phụ khác (CPC, 2007). Tại
ĐBSCL, C. punctiferalis còn đƣợc ghi nhận gây hại trên nhãn, ổi, mãng cầu xiêm,
chôm chôm, sầu riêng (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000). Ngoài ra, theo Nguyễn Thị
Thuận (2009) loài sâu đục trái này còn gây hại trên ca cao tại miền Đông Nam Bộ.
1.1.3 Đặc điểm hình thái
Trứng có hình bầu dục, kích thƣớc khoảng 2 mm và đƣợc đẻ trên bề mặt trái
(Chistine, 2009). Khi mới đẻ trứng có màu trắng sữa, sau đó chuyển sang màu vàng
nhạt (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000). Ấu trùng phát triển đầy đủ dài khoảng 22 mm,
đầu màu nâu, thân mình có màu trắng sữa ửng hồng, hai đốt ngực (trƣớc và giữa) và


Hình 1.3 Thành trùng C. punctiferalis: (A) Đực; (B) Cái
(Nguồn: Đinh Thị Chi, 2010)
1.1.4 Đặc điểm sinh học
Thành trùng hoạt động về đêm trong khoảng thời gian từ 20 - 22 giờ cho đến
5 giờ sáng, ban ngày ẩn trong các tán lá dày. Cả thành trùng đực và TT cái sinh
sống nhờ mật hoa của cây ký chủ và những cây khác trong vƣờn. Sau khi vũ hóa TT
cái tiết pheromone để hấp dẫn TT đực (Christine, 2009; Nguyễn Thị Thu Cúc,
2000).
Sau khi bắt cặp 2 đến 3 ngày, TT cái bắt đầu đẻ trứng, trứng đƣợc đẻ trên bề
mặt trái, thỉnh thoảng trên cuống trái. Mỗi TT cái đẻ khoảng 20 đến 30 trứng. Trứng
thƣờng nở vào lúc sáng sớm, thời gian ủ trứng khoảng 4 đến 6 ngày. Ấu trùng tuổi
một bò rất nhanh, sau vài giờ đã đục vào bên trong trái và ở đó cho đến khi hóa
nhộng. Giai đoạn ấu trùng gồm 5 tuổi, kéo dài khoảng 14 đến 16 ngày, giai đoạn
nhộng khoảng 7 ngày, thời gian sống của thành trùng biến động từ 10 đến 18 ngày,
toàn bộ chu kỳ sinh trƣởng kéo dài khoảng 29 – 30 ngày. Sâu tuổi cuối nhả tơ kết
phân thành một kén lớn mỏng và hóa nhộng bên trong kén trên cuống trái hoặc bên
trong phần hột đã đục (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000).
1.1.5 Đặc điểm gây hại
Trên nhãn, sâu có thể tấn công từ khi trái còn rất non đến khi trái sắp thu
hoạch, gây hại bằng cách đục phá vào trong trái và ăn rỗng cả phần hột của trái non.
Sâu thƣờng nhả tơ kết dính các trái non và ăn phá bên trong (Nguyễn Văn Huỳnh và
Lê Thị Sen, 2011; Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000). Sâu hiện diện và gây hại đều khắp
trên các vùng trồng nhãn tại ĐBSCL, gây hại nặng tại Đồng Tháp (100% vƣờn điều
tra) và có thể tấn công 100% số cây trên vƣờn. Tại Đồng Tháp và Tiền Giang, sâu
có thể làm thất thu năng suất đến 70%. Sâu gây hại nặng vào mùa nhãn tháng 12 – 1
dƣơng lịch (dl) (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000).

6

Hình 1.5 Triệu chứng gây hại của C. punctiferalis trên chôm chôm và sầu riêng
(Nguồn: Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)
Trên sầu riêng, C. punctiferalis hiện diện trên 100% vƣờn đƣợc điều tra tại
Tiền Giang và 64% tại Bến Tre (Nguyễn Thị Thu Cúc và Lê Văn Hùng, 1995).
Thành trùng C. punctiferalis đẻ trứng trên các vỏ trái non, ấu trùng nở ra thƣờng
chọn nơi gần cuống trái để đục vào bên trong trái, đầu tiên sâu tấn công vỏ trái sau
đó khi tuổi lớn tiếp tục đục vào phía trong trái. Sâu thƣờng hóa nhộng ngay trên
đƣờng đục, gần bề mặt của vỏ trái hoặc sâu chui ra ngoài, nhả tơ kết lá và phân
thành kén rùi hóa nhộng trong kén ngay giữa các gai của trái. Giai đoạn nhộng kéo
dài khoảng 8 ngày (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000). Sâu thƣờng gây hại nặng trên các
chùm trái, đục trái từ khi trái còn nhỏ, nếu trái bị đục vào giai đoạn này sẽ bị biến
dạng và rụng sau đó, nếu sâu tấn công vào giai đoạn trái đã phát triển sẽ làm mất giá
trị thƣơng phẩm. Thƣờng trái chùm bị gây hại nhiều hơn trái đơn (Nguyễn Văn
Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011).
1.1.6 Biện pháp phòng trị
a) Biện pháp vật lý
Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2000), để phòng trị loài sâu đục trái nên áp dụng
các biện pháp nhƣ sau:
- Thu gom những trái bị nhiễm sâu, chôn sâu dƣới đất để diệt sâu còn hiện diện
trong trái.
- Sau khi thu hoạch, xén tỉa cành cho vƣờn thông thoáng để dễ phát hiện thành trùng
trong vƣờn nhằm có biện pháp xử lý kịp thời.
- Bao trái là biện pháp phòng ngừa các loài côn trùng đục trái rất có hiệu quả.
- Đây là loài đa ký chủ nên chú ý trong hệ thống canh tác để tránh trùng hợp cây ký
chủ của chúng nhƣ nhãn, ổi, sầu riêng (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011).
8

b) Biện pháp sinh học

gió, nhiệt độ, ẩm độ. Tốc độ gió càng cao, nhiệt độ càng cao thì tốc độ khuyếch tán
và phân hủy của hợp chất pheromone càng nhanh (Bùi Công Hiển, 2002).
Có rất nhiều loại pheromone đƣợc phân biệt dựa vào tác dụng sinh lý, sinh
thái đối với côn trùng. Theo Lê Văn Vàng (2009) có các loại pheromone:
9

- Pheromone đánh dấu (trail-making pheromone): pheromone này đƣợc tiết ra nhằm
đánh dấu đƣờng đi cho các cá thể trong bầy để không bị lạc đƣờng hoặc tìm đến
nguồn thức ăn. Loại pheromone này thƣờng gặp ở bộ Dictyoptera, Hymenoptera và
Lepidoptera.
- Pheromone báo động (alarm pheromone): Loại pheromone này đƣợc tiết ra để báo
động đến các cá thể cùng loài nhằm tập hợp các cá thể lại hoặc xua đuổi.
Pheromone thƣờng có ở các loài côn trùng thuộc các bộ Coleoptera, Hymenoptera,
Homoptera và Orthoptera.
- Pheromone giới tính (sex pheromone): là pheromone đƣợc tiết ra để hấp dẫn sự
bắt cặp của các cá thể cùng loài. Pheromone này có thể đƣợc tiết ra bởi thành trùng
cái hoặc thành trùng đực, thông thƣờng đa số là do thành trùng cái tiết ra.
Pheromone giới tính thƣờng gặp ở các loài côn trùng thuộc các bộ Coleoptera,
Lepidoptera và Diptera (Ando et al., 2004).
Nhiều loại pheromone đã đƣợc sử dụng để phòng trị côn trùng trong nông
nghiệp, đặc biệt là pheromone giới tính hay pheromone hấp dẫn sinh dục. Do tính
hấp dẫn của nó đối với các cá thể cùng loài nên ngƣời ta đã sử dụng pheromone
nhằm xác định vùng nhiễm côn trùng, dự tính dự báo, gây hỏa mù về sinh dục (quấy
rối bắt cặp), theo dõi mật số côn trùng, hấp dẫn côn trùng đến những vùng nhất định
sau đó xử lý thuốc (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2010).
1.2.2 Khái niệm pheromone giới tính
Pheromone giới tính là một chất hóa học hay hỗn hợp của những chất hóa
học đƣợc cá thể tiết ra môi trƣờng để hấp dẫn sự bắp cặp của những cá thể khác giới
trong cùng một loài. Do hoạt động nhƣ những hóa chất sinh học với tính chọn lọc
cao và ở những nồng độ rất thấp, pheromone giới tính không gây ảnh hƣởng xấu

tháng và có thể kéo dài đến 2 tháng (Ando et al., 2004).
Để khảo sát sự biến động quần thể, bẫy pheromone đƣợc đặt trên một khu
vực cụ thể rồi đếm mật số vào bẫy định kỳ (thƣờng là 2 tuần/lần) trong suốt chu kỳ
một năm. Trong khảo sát sự biến động quần thể, bẫy pheromone đƣợc sử dụng để
tìm ra những loài côn trùng gây hại cây trồng, thông tin về số lƣợng côn trùng gây
hại trên một đơn vị thời gian sẽ cho phép dự báo sớm sự gây hại để từ đó áp dụng
các biện pháp quản lý thích hợp. Diễn biến mật số quần thể của ba loài bƣớm,
Chrysodeixis eriosoma Doubleday, Ctenoplusia agnate Staudinger và Ctenoplusia
albostriata Bremer & Grey gây hại trên rau màu tại thành phố Cần Thơ và huyện
Châu Thành, tỉnh Hậu Giang đã đƣợc khảo sát bằng bẫy pheromone giới tính (Hai
et al., 2002; Châu Nguyễn Quốc Khánh và ctv., 2009).
1.2.3.2 Sử dụng làm công cụ phòng trị bằng biện pháp bẫy tập hợp
Bẫy tập hợp là một trong những phƣơng pháp kiểm soát những loài gây hại
sử dụng một số lƣợng lớn bẫy pheromone để bắt và giết chết các cá thể đực trong
một vùng không gian cụ thể để ngăn chặn sự bắt cặp giữa bƣớm đực và bƣớm cái,
vì thế ngăn chặn đƣợc mật số ở cấp độ thấp dƣới ngƣỡng kinh tế. Biện pháp này đặc
biệt hiệu quả đối với việc quản lí côn trùng trong kho vựa. Tuy nhiên, bẫy tập hợp
lại không thành công trong việc làm giảm mật số của các loài bƣớm có tính di động
cao và mức độ quần thể lớn (Wakamura et al., 2004).
11

Biện pháp bẫy tập hợp đã thành công trong việc quản lý 98 loài côn trùng
gây hại trong đó có 45 loài thuộc bộ cánh vảy, 39 loài thuộc bộ cánh cứng và rất ít
các loài thuộc bộ cánh khác (El Sayed, 2008).
Theo Bakke A. và Lie R. (1989) thì Trematerra và Battaini (1987) đã áp
dụng thành công bẫy pheromone tập hợp với mật độ 260 - 270 m
3
/bẫy để phòng trừ
loài sâu bột mì Địa Trung Hải (Ephestia kuehniella Zeller). Kết quả đánh giá của
Sternlight et al. (1990) tại Israel cho thấy ở mật độ 120 bẫy/ha (0,4 - 0,6 mg/bẫy,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status