TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG HUỲNH PHƯƠNG THANH ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHÒNG TRỊ SÂU ĐỤC TRÁI
CONOGETHES PUNCTIFERALIS GUENÉE
(LEPIDOPTERA: PYRALIDAE) BẰNG BẪY
PHEROMONE GIỚI TÍNH TỔNG HỢP
TRÊN CÂY ỔI VÀ SẦU RIÊNG TẠI
THÀNH PHỐ CẦN THƠ VÀ
TỈNH VĨNH LONG
Luận văn tốt nghiệp Đại học
Ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
TS. Lê Văn Vàng
KS. Châu Nguyễn Quốc Khánh Huỳnh Phương Thanh
MSSV: 3103675
LỚP: Bảo Vệ Thực Vật K.36
(TT 1073A1)
Cần Thơ, 2013
i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp đính
kèm với tên đề tài:
“Đánh giá hiệu quả phòng trị sâu đục trái Conogethes punctiferalis Guenée
(Lepidoptera: Pyralidae) bằng bẫy pheromone giới tính tổng hợp
trên cây ổi và sầu riêng tại Thành phố Cần Thơ và
tỉnh Vĩnh Long”
Do sinh viên Huỳnh Phương Thanh thực hiện và bảo vệ trước hội đồng
ngày …… tháng …….năm 2013.
Luận văn đã được hội đồng đánh giá ở mức……….
Ý kiến hội đồng:
TS. LÊ VĂN VÀNG KS. CHÂU NGUYỄN QUỐC KHÁNH
iii LƯỢC SỬ CÁ NHÂN
1. LÝ LỊCH SƠ LƯỢC
Họ và tên: Huỳnh Phương Thanh
Giới tính: Nam
Dân tộc: Kinh
Ngày, tháng, năm sinh: 01 - 07 - 1992
Con ông Huỳnh Văn Phường và bà Nguyễn Thị Hồng Kỳ
2. QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
Tốt nghiệp Trung học phổ thông năm 2010, tại trường Trung Học Phổ Thông
Phạm Hùng, khóm 6, thị trấn Long Hồ, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.
Thi đậu vào Trường Đại Học Cần Thơ năm 2010, ngành Bảo Vệ Thực Vật, khóa
36, thuộc Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng.
iv LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu và
kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu luận văn trước đây.
HUỲNH PHƯƠNG THANH
vi
Huỳnh Phương Thanh, 2013. Đánh giá hiệu quả phòng trị sâu đục trái
Conogethes punctiferalis Guenée (Lepidoptera: Pyralidae) bằng bẫy
pheromone giới tính tổng hợp trên cây ổi và sầu riêng tại Thành phố Cần Thơ
và tỉnh Vĩnh Long. Luận văn tốt nghiệp đại học, ngành Bảo Vệ Thực Vật, Khoa
Nông nghiệp và SHƯD, Trường Đại học Cần Thơ.
Cán bộ hướng dẫn: Ts. Lê Văn Vàng và Ks. Châu Nguyễn Quốc Khánh.
TÓM LƯỢC
Đề tài “Đánh giá hiệu quả phòng trị sâu đục trái Conogethes punctiferalis
Guenée (Lepidoptera: Pyralidae) bằng bẫy pheromone giới tính tổng hợp trên
các vườn ổi và sầu riêng tại Thành phố Cần Thơ và tỉnh Vĩnh Long” Được thực
hiện từ tháng 11 năm 2011 đến tháng 10 năm 2012 đã đạt được những kết quả như
sau:
Trên các vườn ổi tại huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ, đặt bẫy
pheromone giới tính tổng hợp (16 bẫy/1.000 m
2
, 1 mg/tuýp) đã cho hiệu quả phòng
trị Sâu đục trái Conogethes punctiferalis tương đương với biện pháp xử lý thuốc
theo nông dân ở các thời điểm từ 1 đến 2 tháng sau khi đậu trái ở Đợt phòng trị đầu
tiên. Đặt tuýp quấy rối bắt cặp E10-15:Ald (16 tuýp/1.000 m
2
, 5 mg/tuýp) cho hiệu
quả phòng trị thấp hơn so với đặt bẫy pheromone và xử lý thuốc theo nông dân ở tất
cả các thời điểm ghi nhận. Ở Đợt phòng trị thứ 2, đặt bẫy pheromone giới tính tổng
hợp (16 bẫy/1.000 m
2
1.1.4 Đặc điểm sinh học 5
1.1.5 Gây hại 5
1.1.6 Thiên địch 6
1.1.7 Biện pháp phòng trị 6
1.1.7.1 Biện pháp vật lý 6
1.1.7.2 Biện pháp sinh học 7
1.1.7.3 Biện pháp hóa học 7
1.2 SƠ LƯỢC VỀ PHEROMONE 7
1.2.1 Pheromone 7
1.2.1.1 Khái niệm 7
1.2.1.2 Tính chất của các hợp chất pheromone 8
1.2.2 Pheromone giới tính 8
1.2.2.1 Khái niệm 8
1.2.2.2 Sự đa dạng pheromone giới tính của Bộ cánh vảy (Lepidoptera) 8
1.2.2.3 Ứng dụng của pheromone giới tính trong sản xuất Nông nghiệp 10
1.2.2.4 Tình hình nghiên cứu pheromone giới tính ở Việt Nam 12
1.2.3 Pheromone giới tính của sâu đục trái Conogethes punctiferalis Gueneé 14
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 16
2.1 PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM 16
2.1.1 Vật liệu thí nghiệm 16
2.1.2 Hóa chất thí nghiệm 16
2.1.3 Bẫy pheromone, tuýp quấy rối bắt cặp và cách treo bẫy 16
2.1.3.1 Mồi pheromone giới tính tổng hợp 16
2.1.3.2 Tuýp quấy rối bắt cặp 17
2.1.3.3 Cách đặt bẫy 17
2.2 PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 18
viii
2.2.1 Đánh giá hiệu quả phòng trị của bẫy pheromone giới tính tập hợp và hợp chất quấy
rối (E)-10-pentadecenal đối với SĐT Conogethes punctiferalis trên các vườn ổi tại huyện
3.2.2.2 Tỉ lệ gây hại của SĐT Conogethes punctiferalis trên các vườn sầu riêng Cơm Vàng
Hạt Lép 34
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 36
4.1 KẾT LUẬN 36
4.2 ĐỀ NGHỊ 36
ix
DANH SÁCH BẢNG
Bảng
Tựa bảng
Trang
2.1
Các nghiệm thức của thí nghiệm phòng trị trên các vườn ổi tại xã Nhơn
Nghĩa, huyện Phong Điền, Tp. Cần Thơ ở Đợt 1
19
2.2
Các nghiệm thức của thí nghiệm phòng trị trên các vườn ổi tại xã Nhơn
Nghĩa, huyện Phong Điền, Tp. Cần Thơ ở Đợt 2
21
2.3
Các nghiệm thức của thí nghiệm phòng trị trên các vườn sầu riêng tại
huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long
23
3.1
Số lượng trung bình bướm C. punctiferalis đực vào bẫy trên các vườn
ổi ở Đợt 1
Hình
Tên hình
Trang
1.1
Sự phân bố của C. punctiferalis trên thế giới
3
1.2
Thành trùng và nhộng của SĐT C. punctiferalis
4
1.3
Triệu chứng gây hại của SĐT C. punctiferalis trên trái ổi
5
1.4
Triệu chứng gây hại của SĐT C. punctiferalis trên trái sầu riêng
6
1.5
Công thức hóa học của 2 thành phần phần pheromone giới tính SĐT
C. punctiferalis
14
2.1
Các thành phần của bẫy pheromone giới tính tổng hợp
16
2.2
Tuýp quấy rối bắt cặp
17
2.3
Cách treo bẫy pheromone và tuýp quấy rối trên các vườn thí nghiệm
18
2.4
Cách đánh dấu tổng số trái quan sát trên các vườn ổi thí nghiệm
GC-MS: Gas Chromatography combined with Mass Spectrometry
(Sắc ký khí – Khối phổ)
IPM: Integrated Pest Management (phòng trừ dịch hại tổng hợp)
NT: Nghiệm thức
SĐT: Sâu đục trái
Tp.: Thành phố
Z10-16:Ald: (Z)-10-Hexadecenal
SHƯD: Sinh Học Ứng Dụng
SKĐB: Sau khi đặt bẫy 1
CHƯƠNG MỞ ĐẦU
Việt Nam là một nước có truyền thống sản xuất nông nghiệp lâu đời với
nhiều vùng nông nghiệp phát triển. Trong đó, Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL)
là vùng nông nghiệp trọng điểm, rộng lớn và quan trọng nhất. Ngoài chuyên canh
sản xuất lúa nước, ĐBSCL còn là vựa trái cây của cả nước, diện tích các vườn cây
ăn trái gia tăng rất nhanh trong thời gian gần đây. Năm 2010, tổng diện tích trồng
cây ăn trái ở ĐBSCL là 290.000 ha với các loại cây như cam, quýt, bưởi, nhãn, sầu
riêng, chôm chôm, ổi, mận…hàng năm cung cấp khoảng 2,5 triệu tấn trái (Bộ Nông
Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, 2010). Bên cạnh những thuận lợi như đất đai
màu mỡ, khí hậu nóng ẩm mưa nhiều giúp các loại cây ăn trái sinh trưởng và phát
triển tốt thì sâu bệnh hại là một trở ngại lớn đối với việc canh tác cây ăn trái ở đây.
pheromone giới tính tổng hợp trên các vườn ổi và sầu riêng tại Thành phố Cần
Thơ và tỉnh Vĩnh Long” được thực hiện nhằm mục tiêu:
- Đánh giá hiệu quả phòng trị của pheromone giới tính tổng hợp đối với sâu
đục trái C. punctiferalis trên sầu riêng tại huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long và trên ổi
tại huyện Phong Điền, Thành phố Cần Thơ.
- Đánh giá hiệu quả quấy rối của hợp chất E10-15:Ald đối với sâu đục trái C.
punctiferalis trên các vườn ổi tại huyện Phong Điền, Thành phố Cần Thơ.
3
CHƯƠNG 1
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 SÂU ĐỤC TRÁI Conogethes punctiferalis GUENÉE
1.1.1 Phân loại
Sâu có tên khoa học là Conogethes punctiferalis Guenée thuộc họ Ngài sáng
(Pyralidae), bộ Cánh vảy (Lepidoptera). Ngoài ra, sâu còn có tên khác là
Dichocrocis punctiferalis Guenée (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2006; Nguyễn Văn Huỳnh
và Lê Thị Sen, 2011; CPC, 2007).
1.1.2 Phân bố và ký chủ
Theo CPC (2007), sâu đục trái (SĐT) C. punctiferalis được ghi nhận là loài
đa ký chủ gây hại trên nhiều loại cây trồng khác nhau như đu đủ (Carica papaya),
dẻ Queensland (Macadamia ternifolia), dâu tầm (Morus alba), đào (Prunus
persica), ổi (Psidium guajava), bông vải (Gossypium spp.), bắp (Zea mays), khế
(Averrhoa carambola), chôm chôm (Nephelium lappaceum), hướng dương
(Helianthus annuus), lúa miến (Sorghum bicolor), và trên 15 ký chủ phụ khác. Tại
ĐBSCL, C. punctiferalis được ghi nhận gây hại trên nhãn, ổi, mãng cầu xiêm, chôm
chôm, và sầu riêng (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2006). Theo điều tra của Nguyễn Thị
Thuận (2009), C. punctiferalis là một trong số 4 loài gây hại phổ biến nhất trên cây
ca cao ở tỉnh Đồng Nai và quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Conogethes punctiferalis có phạm vi phân bố rộng gồm các quốc gia như:
A: Thành trùng đực B: Thành trùng cái C: nhộng
(Nguồn: Đinh Thị Chi, 2010)
A B
C
5
1.1.4 Đặc điểm sinh học
Bướm hoạt động vào ban đêm, trong khoảng từ 20 – 22 giờ cho đến 5 giờ
sáng, ban ngày bướm ẩn trong tán lá dày. Cả bướm đực và bướm cái sinh sống bằng
mật hoa của cây ký chủ và những cây khác trong vườn. Sau khi vũ hóa, con cái tiết
pheromone để hấp dẫn con đực. Bướm cái bắt đầu đẻ trứng sau khi bắt cặp 2 – 3
ngày. Trứng thường được đẻ từng cái trên bề mặt trái, thỉnh thoảng trên cuống trái.
Mỗi bướm cái đẻ khoảng 20 – 30 trứng. Trứng nở vào lúc sáng sớm, thời gian ủ
trứng từ 4 – 6 ngày. Sau khi nở vài giờ, ấu trùng bắt đầu đục vào trong trái. Giai
đoạn ấu trùng của sâu gồm 5 tuổi, kéo dài khoảng 14 – 16 ngày, giai đoạn nhộng
khoảng 7 ngày, thời gian sống của bướm biến động từ 10 – 18 ngày (Christine,
2009; Nguyễn Thị Thu Cúc, 2006). Sâu tuổi cuối nhả tơ kết thành một lớp kén
mỏng rồi hóa nhộng trong kén (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2006).
1.1.5 Gây hại
Theo Josephrajkumar et al. (2007), SĐT C. punctiferalis là loài gây hại
nghiêm trọng đến trái. Hơn nữa, vào giai đoạn phát triển mạnh, sâu đục vào sâu bên
trong trái nên thuốc trừ sâu không vào được. Nhiều vườn bị nhiễm nặng bị giảm 70-
80% năng suất.
Trên ổi bướm thường đẻ trứng vào chóp trái, nơi còn dính các lá đài. Sâu nở
ra thường ẩn ở phần chóp của trái, sau đó tấn công vào phần thịt trái. Sâu có thể đục
trái từ khi trái còn nhỏ đến lúc gần thu hoạch, nhưng gây hại nhiều nhất vào lúc trái
có đường kính từ 1 – 2 cm. Trái non bị sâu đục thường bị biến dạng, khô và rụng,
- Thu gom những trái bị nhiễm sâu, chôn sâu dưới đất để diệt sâu còn hiện
diện trong trái.
- Sau khi thu hoạch, xén tỉa cành cho vườn thông thoáng để dễ phát hiện
bướm trong vườn nhằm có biện pháp xử lý kịp thời.
- Bao trái là biện pháp phòng ngừa các loài côn trùng đục trái rất có hiệu quả.
- Đặt bẫy ánh sáng (ánh sáng đèn 60W) và bẫy đường – giấm (một hỗn hợp
gồm đường, nước giấm và thuốc trừ sâu) trong vườn có thể hỗ trợ cho việc kiểm
soát bướm C. punctiferalis (CPC, 2007).
- Đây là loài đa ký chủ nên chú ý trong hệ thống canh tác để tránh trùng hợp
cây ký chủ của chúng như nhãn, ổi, sầu riêng (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen,
2011).
- Ngoài ra, sử dụng pheromone giới tính để hấp dẫn bướm đực đã được
nghiên cứu và ứng dụng ở Nhật Bản và Trung Quốc (CPC, 2007).
1.1.7.2 Biện pháp sinh học
Biện pháp sinh học là biện pháp thân thiện với môi trường và an toàn cho
người nông dân. Có thể bảo tồn và sử dụng các loài thiên địch của C. punctiferalis
để khống chế số lượng của chúng trên đồng ruộng.
1.1.7.3 Biện pháp hóa học
Sử dụng thuốc hóa học khi 1,0% trái trong vườn bị tấn công. Ở những vùng
thường xuyên bị nhiễm nặng, xử lý thuốc trừ sâu (gốc cúc và gốc lân tổng hợp) khi
trái vừa mới tượng. Nếu sau lần áp dụng thứ nhất, mật số sâu vẫn còn thì tiến hành
phun lần thứ hai khoảng 7 – 10 ngày (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011).
Tuy nhiên, khi sâu đục vào bên trong trái thì việc kiểm soát bằng thuốc hóa học
không phải là dễ dàng và có thể làm tăng nguy cơ làm ô nhiễm môi trường (CPC,
2007).
1.2 SƠ LƯỢC VỀ PHEROMONE
1.2.1 Pheromone
1.2.1.1 Khái niệm
Pheromone là chất được sử dụng như những tín hiệu hóa học giữa các cá thể
cùng loài, những chất này được tiết ra ngoài cơ thể côn trùng và có thể gây ra những
ra tại một thời gian cụ thể trong ngày tùy thuộc vào loài. Khi phóng thích, thành
trùng cái thường nâng cao vùng bụng và đưa tuyến pheromone kết hợp với cơ quan
đẻ trứng ở cuối bụng ra ngoài để phóng thích pheromone với tốc độ vài chục
picogram trong mỗi giây. Thành trùng đực được đồng bộ với hoạt động của thành
trùng cái trong hoạt động hàng ngày của loài và đáp ứng với pheromone của con cái
phát ra. Chúng có khả năng đáp ứng lại với pheromone bằng cách bay đến nơi đầu
hướng gió từ hàng chục, thậm chí hàng trăm mét để xác định vị trí (Baker, 2011).
Dựa vào cấu trúc của chuỗi mạch carbon và con đường sinh tổng hợp của nó
mà pheromone giới tính Bộ cánh vảy có thể chia thành 3 kiểu: kiểu I, kiểu II và kiểu
khác (Ando et al., 2004).
9
a) Pheromone kiểu I
Các hợp chất pheromone kiểu I chiếm ưu thế nhất ở nhóm côn trùng. Khoảng
75% số lượng pheromone đã được xác định thuộc kiểu I bao gồm nhóm bướm đêm
được biết đến và phát hiện pheromone. Ví dụ, các loài bướm tằm (silk moth) (Họ
Bombycidae), các loài ngài cuốn lá (smaller tea tortix) (Họ Tortricidae) và bướm
sâu vẽ bùa cam quýt (citrus leafminer) (Họ Gracillariidae). Trong kiểu này, bao
gồm những pheromone được sinh tổng hợp từ những hợp chất hữu cơ mạch thẳng,
bão hòa và mang một trong các nhóm chức acetate (-COOCH
3
), hydroxyl (-OH),
formyl (-CHO) ở đầu mạch.
Kiểu I được đặc trưng bởi các chuỗi có chiều dài 10-18 carbon và có từ 0-3
liên kết đôi. Chuỗi dài với số lượng carbon chẵn chiếm ưu thế hơn vì các hợp chất
này có nguồn gốc từ các acid béo bão hòa như acid palmitic (C
16
H
tổng hợp từ linoleic acid và linolenic acid với dẫn xuất monoepoxy (dẫn xuất dạng
vòng có một nguyên tử oxy liên kết với 2 nguyên tử carbon). Qua khảo sát thì các
pheromone thuộc kiểu II được tạo thành với ba liên kết đôi và một dẫn xuất epoxy
nhiều hơn các pheromone được tạo thành từ hai liên kết đôi và một dẫn xuất epoxy.
Các liên kết đôi và dẫn xuất epoxy thường được cố định ở các vị trí thứ 3, 6, 9
10
(Ando et al., 2004). Ví dụ: như pheromone của loài bướm sâu đo lớn gây hại trên lá
trà Nhật Bản (Japanese giant looper), Ascotis selenaria cretacea Bulter được cấu
thành từ hỗn hợp của (Z,Z,Z)-3,6,9-nonadecatriene (Z3,Z6,Z9-19:H) và (Z,Z)-6,9-
epoxy-3-nonadecadiene (Z6,Z9,epo3-19:H) với tỷ lệ 1:100.
c) Pheromone kiểu khác
Các pheromone không thuộc kiểu I và kiểu II được xếp vào kiểu này. Ví dụ:
pheromone giới tính của thành trùng Eriocrania cicatricella gồm 3 thành phần
heptane-2-ol (7:2-OH) và (Z)-4-hepten-2-ol (Z4-7:2-OH) trong đó Z4-7:2-OH là
thành phần chủ yếu.
Nhiều loài thành trùng đực của Bộ cánh vảy (Lepidoptera) cũng tiết
pheromone giới tính tại các vị trí: bụng, ngực, chân và cánh. Cấu trúc hóa học của
các pheromone này khá khác nhau và sự đặc trưng của loài thấp. Pheromone của
thành trùng đực cũng kích thích hành vi tìm kiếm của thành trùng cái nhưng sự hấp
dẫn ở tầm xa kém hơn so với pheromone của thành trùng cái. Thành trùng cái bị thu
hút bởi thành trùng đực ở khoảng cách xa nhờ vào tín hiệu thị giác (visual cues) và
nhờ vào mùi hương tiết ra từ con đực khi chúng ở gần nhau (Ando et al., 2004).
1.2.2.3 Ứng dụng của pheromone giới tính trong sản xuất Nông nghiệp
a) Ghi nhận sự hiện diện và phát hiện vùng nhiễm côn trùng
Do có đặc tính chuyên biệt, chỉ hấp dẫn các cá thể trong cùng một loài, và
hiệu lực hấp dẫn rất cao, pheromone giới tính được xem là một trong những công cụ
hữu hiệu nhất để xác định sự hiện diện và vùng xâm nhiễm của côn trùng. Khi biết
được pheromone của một loài côn trùng gây hại nào đó, thì việc phát hiện sự hiện
diện hoặc xác định vùng nhiễm cũng như cảnh báo sớm sự xuất hiện của loài côn
4 loài thuộc các bộ côn trùng khác (El Sayed, 2008).
d) Sử dụng làm công cụ phòng trị bằng biện pháp quấy rối sự bắt cặp
Hoạt động tìm bắt cặp ở côn trùng Bộ cánh vảy chủ yếu dựa vào tín hiệu
(mùi) của pheromone giới tính do con cái tiết ra. Khi tín hiệu mùi của pheromone bị
quấy rối thì các cá thể đực sẽ không tìm được các cá thể cái và ngược lại, như vậy
chúng không thể bắt cặp và sinh sản. Phương pháp quấy rối bắt cặp (Mating
disruption) là làm tràn ngập vùng không gian của cây trồng với mùi pheromone của
loài bướm gây hại để quấy rối tín hiệu pheromone do bướm cái tiết ra nhằm ngăn
chặn sự tiếp xúc giữa bướm đực và bướm cái làm cho chúng không thể bắt cặp và
sinh sản trên vùng không gian của cây trồng. So với việc sử dụng thuốc trừ sâu,
phương pháp quấy rối bắt cặp có tính chọn lọc cao và bảo đảm cho sự tồn tại của
thiên địch. Mặt khác, pheromone giới tính đã được chỉ rõ là không gây độc đối với
động vật hữu nhũ và không ảnh hưởng đến môi trường sinh thái. Đây là biện pháp
đang được áp dụng rất rộng rãi ở những nước phát triển. Hầu hết, pheromone tổng
hợp được nhồi vào một tuýp nhựa tổng hợp dài 20 cm (50 – 100 mg pheromone
tổng hợp/tuýp) và sẽ tiếp tục phóng thích pheromone hơn 2 – 3 tháng (Ando et al.,
2004). Cho đến nay, pheromone giới tính đã được nghiên cứu và ứng dụng dưới
hình thức quấy rối bắt cặp trên 140 loài côn trùng gây hại gồm 121 loài thuộc Bộ
cánh vảy, 9 loài thuộc Bộ cánh cứng và 10 loài thuộc các bộ côn trùng khác (El
Sayed, 2009).
12
1.2.2.4 Tình hình nghiên cứu pheromone giới tính ở Việt Nam
Từ khi Butenandt et al. (1959) tìm ra hợp chất pheromone đầu tiên là chất
bombykol [(10E,12Z)-10,12-hexadecadien-1-ol] của bướm tằm (Bombyx mori L)
thì việc nghiên cứu và ứng dụng pheromone giới tính đã được phát triển mạnh mẽ ở
nhiều quốc gia trên thế giới (Ando et al., 2004). Tuy nhiên, đây là một lĩnh vực khá
mới mẻ đối với Việt Nam, nên điều kiện và số lượng đề tài nghiên cứu còn nhiều
giới tính của 4 loài bướm thuộc giống Prays đã được xác định và tất cả đều là hợp