đánh giá hiệu quả phòng trị bệnh cháy bìa lá lúa (xanthomonas oryzae pv. oryzae) của một số chủng vi khuẩn vùng rễ và thuốc hóa học trong điều kiện in vitro và nhà lưới - Pdf 30



TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

TRẦN HOÀNG ANH
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHÒNG TRỊ BỆNH CHÁY BÌA
LÁ LÚA (Xanthomonas oryzae pv. oryzae) CỦA MỘT
SỐ CHỦNG VI KHUẨN VÙNG RỄ VÀ THUỐC
HÓA HỌC TRONG ĐIỀU KIỆN
IN VITRO VÀ NHÀ LƯỚI
Luận Văn Tốt Nghiệp Đại Học
Ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT Cần Thơ, 2014 TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHÒNG TRỊ BỆNH CHÁY BÌA LÁ
LÚA (Xanthomonas oryzae pv. oryzae) CỦA MỘT SỐ CHỦNG VI
KHUẨN VÙNG RỄ VÀ THUỐC HÓA HỌC
TRONG ĐIỀU KIỆN IN VITRO
VÀ NHÀ LƯỚI
Do sinh viên: Trần Hoàng Anh thực hiện
Kính trình lên hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp

Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2014
Cán bộ hướng dẫn
Tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Nga TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Bảo vệ
thực vật với tên đề tài:

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHÒNG TRỊ BỆNH CHÁY BÌA LÁ

Quá trình học tập:
- 1998-2003: học tại Trường Tiểu học Hưng Lợi, phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều,
TP.Cần Thơ
- 2003-2007: học tại Trường Trung học cơ sở Lương Thế Vinh, phường Hưng Lợi,
quận Ninh Kiều, TP.Cần Thơ
- 2007-2010: học tại Trường Trung học phổ thông Nguyễn Việt Hồng, phường An
Bình, quận Ninh Kiều, TP.Cần Thơ
- 2010-2014: sinh viên khoá 36, ngành Bảo vệ thực vật, Khoa Nông Nghiệp và Sinh
học Ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ, phường Xuân Khánh, quận Ninh Kiều,
TP.Cần Thơ. LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu và kết quả
trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
các nghiên cứu trước đây.
Tác giả luận văn

đỗ và truyền đạt cho em những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong suốt quá trình
học tập tại trường.
Chân thành cảm ơn!
Chị Đoàn Thị Kiều Tiên đã tận tình giúp đỡ và truyền đạt cho em những kinh
nghiệm quý báu trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Tất cả các anh, chị trong Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật đã tạo điều kiện thuận lợi cho
em hoàn thành tốt đề tài này.
Các bạn Trần Hưng Minh, Nguyễn Thị Trúc Giang, Huỳnh Văn Sang, Phan Văn
Lập, Phan Quốc Huy và các bạn trong lớp Bảo vệ thực vật K36 đã giúp đỡ tôi trong
quá trình học tập cũng như trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp.

Trân trọng!
Cảm ơn sâu sắc!
Trần Hoàng Anh DANH SÁCH BẢNG
Bảng
Tên bảng
Trang
2.1
Danh sách 30 chủng vi khuẩn vùng rễ sử dụng trong thí nghiệm
23
2.2
Danh sách 8 loại thuốc hóa học sử dụng trong thí nghiệm
25
3.1
DANH SÁCH HÌNH
Hình
Tên hình
Trang
2.1
Sơ đồ bố trí thí nghiệm khảo sát khả năng đối kháng của 30
chủng vi khuẩn đối kháng đối với vi khuẩn Xanthomonas
oryzae pv. oryzae.
26
2.2
Sơ đồ bố trí thí nghiệm khảo sát khả năng ức chế của 8 loại
thuốc hoá học đối với vi khuẩn Xanthomonas oryzae pv.
oryzae.
28
3.1
Bán kính vòng vô khuẩn thể hiện khả năng đối kháng của vi
khuẩn vùng rễ đối với X. oryzae pv. oryzae vào thời điểm 5
NSKC
36
3.2
Bán kính vòng vô khuẩn thể hiện khả năng ức chế của thuốc
SuperCook 85WP và dung dịch Bordeaux vào 3 NSKC và 5
NSKC
38
3.3
Vết bệnh cháy bìa lá lúa trong điều kiện nhà lưới vào thời
điểm 15 NSKLB
45

TRẦN HOÀNG ANH, 2014. “Đánh giá hiệu quả phòng trị bệnh cháy bìa lá lúa
(Xanthomonas oryzae pv. oryzae) của một số chủng vi khuẩn vùng rễ và thuốc hóa
học trong điều kiện in vitro và nhà lưới”. Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Bảo Vệ Thực
Vật, Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ. Cán bộ
hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Thu Nga.



MỤC LỤC
Trang
TIỂU SỬ CÁ NHÂN iii
LỜI CAM ĐOAN iv
LỜI CẢM TẠ v
DANH SÁCH BẢNG vi
DANH SÁCH HÌNH vii
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT viii

1.4.6. Thuốc Visen 20SC 19
1.4.7. Dung dịch vôi 19
1.4.8. Dung dịch Bordeaux 20
CHƯƠNG 2. PHƯƠNG TIỆN – PHƯƠNG PHÁP 21
2.1. PHƯƠNG TIỆN 21
2.1.1. Thời gian và địa điểm 21
2.1.2. Vật liệu thí nghiệm 21
2.2. PHƯƠNG PHÁP 25
2.2.1. Thí nghiệm 1: Đánh giá khả năng đối kháng của 30 chủng vi khuẩn vùng rễ đối
với vi khuẩn Xanthomonas oryzae pv. oryzae gây bệnh cháy bìa lá lúa trong điều kiện
in vitro 25
2.2.2. Thí nghiệm 2: Đánh giá khả năng ức chế của một số loại thuốc hoá học đối với
vi khuẩn Xanthomonas oryzae pv. oryzae gây bệnh cháy bìa lá lúa trong điều kiện in
vitro 27
2.2.3. Thí nghiệm 3: Đánh giá hiệu quả phòng trị bệnh của 3 chủng vi khuẩn đối kháng
và dung dịch Bordeaux đối với bệnh cháy bìa lá lúa do vi khuẩn Xanthomonas oryzae
pv. oryzae gây ra trong điều kiện nhà lưới 28
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ - THẢO LUẬN 32
3.1. Khả năng đối kháng của 30 chủng vi khuẩn vùng rễ đối với vi khuẩn Xanthomonas
oryzae pv. oryzae gây bệnh cháy bìa lá lúa trong điều kiện in vitro 32
3.2. Khả năng ức chế của một số loại thuốc hoá học đối với vi khuẩn Xanthomonas
oryzae pv. oryzae gây bệnh cháy bìa lá lúa trong điều kiện in vitro 37
3.3. Hiệu quả phòng trị bệnh của 3 chủng vi khuẩn đối kháng và dung dịch Bordeaux
đối với bệnh cháy bìa lá lúa do vi khuẩn Xanthomonas oryzae pv. oryzae gây ra trong
điều kiện nhà lưới 40
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN-ĐỀ NGHỊ 46
4.1. KẾT LUẬN 46
4.2. ĐỀ NGHỊ 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47


Lúa (Oryza sativa L.) là loại cây trồng chủ lực của nước ta nói chung, vùng
Đồng bằng Sông Cửu Long nói riêng. Năm (2011), Việt Nam xếp thứ 5 thế giới về sản
xuất lúa gạo với sản lượng lúa đạt hơn 42 triệu tấn (FAO, 2011). Đồng bằng Sông Cửu
Long dẫn đầu nước ta cả về diện tích và sản lượng lúa trong năm 2012 với năng suất
đạt hơn 5,8 tấn/ha (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2013).
Tuy nhiên, việc thâm canh tăng vụ trong sản xuất lúa ngày nay đã dẫn đến nhiều
dịch hại phát triển và gây hại ngày càng nặng. Trong đó, bệnh cháy bìa lá lúa do vi
khuẩn Xanthomonas oryzae pv. oryzae gây ra đang là vấn đề rất nghiêm trọng ở các
quốc gia thuộc vùng nhiệt đới (Gupta và ctv., 2001). Bệnh gây hại và trở nên nghiêm
trọng khi giống lúa thơm Jasmine và giống lai tạo từ Jasmine được trồng đại trà, mặt
khác vi khuẩn gây bệnh cũng đã tấn công được nhiều giống hơn trước (Phạm Văn Kim,
2000).
Việc đưa ra biện pháp và chiến lược quản lý hợp lý nhằm làm giảm tổn thất và
tránh sự bùng phát của bệnh là điều cần thiết. Võ Thanh Hoàng và Nguyễn Thị Nghiêm
(1993) cho biết có thể phòng trị bệnh cháy bìa lá lúa bằng cách dùng giống kháng, dự
báo bệnh và dùng các loại thuốc hóa học.
Biện pháp hóa học thường mang lại hiệu quả nhanh và có tác dụng dập dịch
trong trường hợp cần thiết. Tuy nhiên, biện pháp này thường gây ô nhiễm môi trường
(Lê Lương Tề và Hà Việt Cường, 2003). Biện pháp phòng trừ sinh học được áp dụng
trong quản lý dịch hại bằng việc sử dụng các vi khuẩn vùng rễ kích thích tăng trưởng
cây trồng (PGPR) là giải pháp đầy hứa hẹn cho nền nông nghiệp bền vững và thân
thiện với môi trường (Li và ctv., 2011).
Trên quan điểm xây dựng biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp, có sự hài hòa
giữa biện pháp sinh học và hóa học trong quản lý bệnh cháy bìa lá lúa, đề tài “Đánh
giá hiệu quả phòng trị bệnh cháy bìa lá lúa (Xanthomonas oryzae pv. oryzae) của
một số chủng vi khuẩn vùng rễ và thuốc hóa học trong điều kiện in vitro và nhà 2
lưới” được thực hiện nhằm tìm ra các chủng vi khuẩn và thuốc hóa học cho hiệu quả


3
CHƯƠNG 1. LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1. SƠ LƯỢC VỀ CÂY LÚA
1.1.1. Phân loại, nguồn gốc và phân bố
Về mặt phân loại thực vật, cây lúa thuộc họ Gramineae (hoà thảo), tộc Oryzae,
chi Oryza (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
Nguyễn Văn Luật (2001) cho biết cây lúa (Oryza sativa L.) được thuần hoá từ
lúa hoang dại ở ba trung tâm đầu tiên ở Đông Nam Á là Assam (Ấn Độ), biên giới Thái
Lan – Myanmar và trung du Tây Bắc Việt Nam. Tổ tiên xa là một cây lúa dại lâu năm
sống cả ở châu Á và châu Phi. Ở châu Á qua các hình thái lúa dại hàng năm mà con
người đã thuần hoá và tuyển chọn nó thành cây lúa châu Á Oryza sativa.
Theo Roschevicz (1931), các loài Oryza được phân thành 4 nhóm: Sativa,
Granulata, Coartata và Rhynchoryza. Theo Đinh Văn Lữ (1978), Bùi Huy Giáp
(1980), Oryza fatua có khả năng là tổ tiên trực tiếp của lúa trồng hiện nay (trích dẫn
Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
1.1.2. Đặc điểm sinh trưởng
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008), đời sống cây lúa bắt đầu từ lúc hạt nảy mầm cho
đến khi lúa chín và có thể chia thành 3 giai đoạn chính: giai đoạn tăng trưởng, giai
đoạn sinh sản và giai đoạn chín. Thời gian sinh trưởng đối với lúa không quang cảm là
90 – 120 ngày, đối với lúa quang cảm (lúa mùa) là từ 5 – 6 tháng.

vùng Đồng bằng Sông Cửu Long dẫn đầu cả nước cả về diện tích và sản lượng lúa
trong năm 2012 với năng suất đạt hơn 5,8 tấn/ha.
1.1.4. Một số dịch hại quan trọng trên lúa
Một số sâu hại tấn công trên cây lúa như rầy nâu (Nilaparvata lugens Stal), rầy
lưng trắng (Sogatella furcifera), bọ xít hôi (Leptocorisa oratorius), bù lạch (Baliothrips
biformis), sâu phao (Nymphula depunstalis)… Dịch bệnh xuất hiện quan trọng trên cây
lúa như bệnh vàng lùn do virus RGSV, bệnh đạo ôn (cháy lá) do nấm Pyricularia
oryzae, bệnh cháy bìa lá do vi khuẩn Xanthomonas oryzae pv. oryzae, bệnh đốm vằn
do nấm Rhizoctonia solani, bệnh đốm nâu do nấm Bipolaris oryzae, bệnh lúa von do
nấm Fusarium moniliforme…
1.2. SƠ LƯỢC VỀ BỆNH CHÁY BÌA LÁ LÚA
1.2.1. Triệu chứng
Reissig và ctv. (1985) cho rằng bệnh cháy bìa lá lúa có nhiều triệu chứng khác
nhau, bao gồm triệu chứng cháy lá, triệu chứng Kresek và triệu chứng vàng tái. Với
triệu chứng cháy lá, những vết bệnh lan rộng ra, bìa vết bệnh trở nên gợn sóng và
chuyển thành màu vàng hoặc nâu nhạt. Triệu chứng Kresek thường xuất hiện từ 2 – 6
tuần sau giai đoạn mạ, đôi khi giống như thiệt hại do sâu đục thân gây nên. Triệu
chứng vàng tái xảy ra ở vùng nhiệt đới, nhưng không thường xuyên, những lá già của
cây lúa bị bệnh có màu xanh bình thường nhưng những lá non nhất có màu vàng hoặc
có một sọc vàng.
Trên các giống cảm nhiễm, các vết bệnh lan rộng tới bẹ lá và có thể phát triển
xuống phần dưới của bẹ lá. Còn trên các giống chống chịu bệnh hơn hoặc ở những điều 5
kiện nhất định, bệnh thể hiện dưới dạng một sọc vàng ở ngay mép lá, hiện tượng chết
khô không xuất hiện trong một thời gian, nhưng về sau các sọc đó có thể biến thành
vàng và mô bệnh bị chết. Trên giống mẫn cảm, phiến lá nhiễm bệnh bị héo và cuộn lại
khi vết bệnh lan rộng, trong khi đó lá vẫn còn xanh (Ou, 1983; Argarwal, 1989).
Theo Lê Lương Tề và Vũ Triệu Mân (1999); Phạm Văn Kim (2000), ranh giới

6
vi khuẩn sinh trưởng từ 26 - 30
0
C, tối thiểu 0 - 5
0
C, tối đa là 40
0
C và nhiệt độ làm vi
khuẩn chết là 53
0
C. Vi khuẩn có thể sống trong khoảng pH khá rộng từ 5,7 – 8,5 thích
hợp nhất là pH 6,8 – 7,2 (Vũ Triệu Mân và ctv., 2007).
Nguồn carbon tốt nhất cho vi khuẩn phát triển là glucose, galactose, sucrose và
nguồn đạm tốt nhất là glutamic acid, aspartic acid, methionine, cystine và asparagine.
Môi trường nuôi cấy thường được dùng là Wakimoto’s potato semi – synthetic media.
Trên môi trường Wakimoto, nếu không dùng khoai tây và thêm 0,05 g/lít FeSO
4
thì vi
khuẩn phát triển tốt hơn. Khi phân lập trên môi trường Wakimoto có sắt sẽ cho số
khuẩn lạc cao nhất, chứng tỏ trên môi trường này thích hợp hơn. Vi khuẩn tiết độc tố
phenylacetic acid trong môi trường nuôi cấy, trong lá bệnh, tổng hợp phân hoá tố phân
giải protein và cellulose (Võ Thanh Hoàng và Nguyễn Thị Nghiêm, 1993).
Theo Goto (1969), vi khuẩn không thể giữ lâu trong nước cất vô trùng như các
vi khuẩn Xanthomonas khác. Tuy nhiên có thể giữ chúng trong dung dịch phosphat
đệm có pH 7,0 và nước pepton. Phương pháp cất giữ vi khuẩn tốt nhất là dung dịch của
đất sét (trích dẫn Ou, 1983).
Wakimoto (1954) đã nghiên cứu chi tiết về các đặc tính sinh học và vật lý của
thực khuẩn thể ký sinh vi khuẩn gây bệnh và đặt tên cho nó là Xanthomonas
campestris pv. oryzae OP1. Dựa trên các nghiên cứu đó người ta đã phát triển các
phương pháp phát hiện vi khuẩn và xác định của chúng (Wakimoto, 1954; Wakimoto

vào giai đoạn trổ về sau, gây ảnh hưởng rõ rệt nhất là làm tăng số hạt lép. Tuy nhiên,
thất thu về năng suất chưa có ước lượng cụ thể (Võ Thanh Hoàng và Nguyễn Thị
Nghiêm, 1993)
1.2.4. Sự xâm nhiễm, lan truyền và lưu tồn
Vi khuẩn xâm nhập có tính chất thụ động, có thể xâm nhập qua thuỷ khổng, lỗ
khí ở trên mút lá, mép lá, đặc biệt qua vết thương xay xát trên lá. Khi tiếp xúc với bề
mặt có nước, vi khuẩn dễ dàng di động xâm nhập vào bên trong qua các lỗ khí, vết
thương mà nhân mật số, theo các bó mạch dẫn lan rộng đi. Trong điều kiện mưa ẩm
thích hợp thuận lợi cho sự phát triển của vi khuẩn, trên bề mặt vết bệnh tiết ra những
giọt dịch vi khuẩn. Thông qua sự va chạm giữa các lá lúa, nhờ mưa gió lan bệnh sang
các lá khác để tiến hành xâm nhiễm lặp lại nhiều lần trong thời kỳ sinh trưởng của cây
lúa. Vì thế, bệnh cháy bìa lá lúa còn tuỳ thuộc vào điều kiện mưa bão xảy ra vào cuối
vụ chiêm xuân và trong vụ mùa, giọt keo vi khuẩn hình thành nhiều là một trong những 8
nguyên nhân quan trọng làm cho bệnh cháy bìa lá lúa phát triển mạnh sau những đợt
mưa gió (Vũ Triệu Mân và ctv., 2007; Reissig và ctv., 1985).
Vi khuẩn gây bệnh có thể sống trên nhiều loại cỏ nếu không có cây lúa (Reissig
và ctv., 1985). Các ký chủ cỏ dại của Xanthomonas oryzae ở Nhật Bản được phát hiện
đầu tiên qua lây bệnh nhân tạo, về sau tìm thấy cỏ bị bệnh trong tự nhiên. Trong đó cỏ
Leersia sayanuka Ohwi là quan trọng hơn cả vì nó là một ký chủ qua đông phổ biến. Ở
vùng nhiệt đới, người ta phát hiện thấy cỏ đuôi phụng (Leptochloa chinensis (L.) Ness,
L. filiformis và L. panaca) là những ký chủ cỏ dại ở Phillipin, lây bệnh bằng kim châm
gây được các vết bệnh lớn trên các cây đó (trích dẫn Ou, 1983).
Vi khuẩn gây bệnh đã được tìm thấy trong lớp mày và đôi khi có trong nội nhũ
của hạt giống được thu thập từ những ruộng bị nhiễm bệnh (trích dẫn Argarwal, 1989).
Võ Thanh Hoàng và Nguyễn Thị Nghiêm (1993) cho rằng vi khuẩn có thể sống trong
đất từ 1 - 3 tháng, có thể lưu tồn trong hạt, cỏ dại, gốc rạ.
Theo Phạm Văn Kim (2000), vi khuẩn Xanthomonas oryzae pv. oryzae có tính

Trong đó, có thể dự báo bệnh dựa vào tính kháng của giống, yếu tố khí hậu, mật số vi
khuẩn hoặc dựa vào mật số thực khuẩn thể. Reissig và ctv. (1985); Vũ Triệu Mân và
ctv. (2007) cho rằng biện pháp sử dụng giống kháng bệnh, chống chịu bệnh là thực tiễn
nhất và là biện pháp chủ đạo để kiểm soát bệnh cháy bìa lá lúa ở vùng nhiệt đới.
Điều khiển sự sinh trưởng của cây tránh giai đoạn làm đòng – trỗ trùng với
những điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển. Ruộng lúa cần điều chỉnh mực nước
thích hợp, nếu thấy bệnh chớm xuất hiện có thể rút nước, tháo nước để ruộng khô 2 – 3
ngày để hạn chế sự sinh trưởng của cây. Bón phân đúng kỹ thuật, đúng giai đoạn, bón
đạm nặng đầu nhẹ cuối, bón thúc sớm cân đối với kali theo tỉ lệ 1:1 (Vũ Triệu Mân và
ctv., 2007).
1.2.6.2 Biện pháp hóa học
Argarwal (1989) nhận định rằng để giảm bệnh nên phun 1 đến 2 lần các hợp
chất thủy ngân hoặc dùng giải pháp kháng sinh, nên được áp dụng vào giai đoạn đầu
của cây lúa. Bằng biện pháp phun tương tự, nên được thực hiện 2 đến 3 lần vào giai
đoạn cây lúa nảy chồi tối đa, và càng sớm càng tốt khi cây lúa trỗ bông.
Võ Thanh Hoàng và Nguyễn Thị Nghiêm (1993) cho rằng có thể phun hỗn hợp
Bordeaux có trộn thêm đường để giảm ngộ độc cho cây. Các hợp chất đồng chủ yếu là
có tác dụng ngừa bệnh và hiệu quả không kéo dài nên phải phun thường kỳ nhiều lần.
Để tăng hiệu quả phòng trị, cần phối hợp nhiều biện pháp như sử dụng giống kháng,
tránh ruộng bị ngập úng, diệt các nguồn bệnh lưu tồn, không bón thừa phân đạm, kết
hợp với phun ngừa bằng các loại thuốc hoá học. 10
Có thể dùng một số thuốc hoá học để hạn chế bệnh như rắc vôi 60 – 80 kg/ha
lúc lúa mới bị chớm bệnh hoặc một số thuốc hoá học như Kasuran 0,1 – 0,2%, Sankel
1/200…(Vũ Triệu Mân và ctv., 2007).
1.2.6.3 Biện pháp sinh học
Phạm Văn Kim (2000) nhận định rằng biện pháp kích kháng đã mang lại hiệu
quả thiết thực trong phòng trị bệnh cháy bìa lá lúa. Các tác nhân kích kháng được dùng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status