Trang phục truyền thống của người thái đen ở huyện mường lò, tỉnh yên bái - Pdf 30

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ

NGUYỄN THỊ BÍCH PHƢỢNG

TRANG PHỤC CỦA NGƢỜI THÁI
ĐEN Ở MƢỜNG LÒ, YÊN BÁI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Văn hóa

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. Nguyễn Thị Tuyết Nhung

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm đối tƣợng nghiên cứu 4
3.1. Mục đích nghiên cứu 4
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
3.3. Đối tƣợng nghiên cứu 5
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu 5
4.1. Nguồn tƣ liệu 5
4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 5
5. Bố cục của khóa luận 6
CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ MƢỜNG LÒ VÀ NGƢỜI THÁI ĐEN Ở MƢỜNG
LÒ, TỈNH YÊN BÁI 7
1.1. KHÁI QUÁT VỀ MƢỜNG LÒ, TỈNH YÊN BÁI 7
1.1.1. Điều kiện tự nhiên 7
1.1.2. Điều kiện kinh tế, văn hóa - xã hội 10
1.1.3. Vài nét về lịch sử Mƣờng Lò 13
1.2. NGƢỜI THÁI ĐEN Ở MƢỜNG LÒ, TỈNH YÊN BÁI 16
1.2.1. Tên gọi, dân số và sự phân bố dân cƣ 16
1.2.2. Lịch sử cƣ trú 17 1.2.3. Hoạt động kinh tế 19
1.2.4. Đặc điểm văn hóa – xã hội 21
CHƢƠNG 2: TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG CỦA NGƢỜI THÁI ĐEN Ở
MƢỜNG LÒ, TỈNH YÊN BÁI 37
2.1. QUY TRÌNH TẠO RA TRANG PHỤC CỦA NGƢỜI THÁI ĐEN Ở
1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trang phục là một trong những thành tố văn hóa vật thể cơ bản không
thể thiếu đƣợc đối với đời sống con ngƣời. Nó không chỉ có chức năng bảo vệ
con ngƣời về mặt sinh học, phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội mà
còn thể hiện tập quán, nếp sống, trình độ thẩm mỹ và văn hóa các dân tộc,
trong đó có trang phục của dân tộc Thái. Trang phục của ngƣời Thái không
chỉ là niềm tự hào riêng của ngƣời Thái mà còn là một nét văn hóa đặc sắc
trong kho tàng văn hóa vật thể của dân tộc.
Về ý nghĩa khoa học: Dƣới góc độ văn hóa, lịch sử, nghiên cứu trang
phục sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm những nét đặc trƣng tộc ngƣời và các mối
quan hệ liên quan. Từ đó, có thêm những cứ liệu khoa học, làm cơ sở vững
chắc cho việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của ngƣời Thái ở mƣờng
Lò nói riêng.
Về ý nghĩa thực tiễn: Việt Nam đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa và hội nhập quốc tế, sự biến đổi về kinh tế kéo theo những biến đổi về
văn hóa, lối sống… Trong đó, sự biến đổi về trang phục đang diễn ra ngày
càng mạnh mẽ. Xu hƣớng hòa đồng về lối sống, đặc biệt là về trang phục
ngày càng tăng. Đây là vấn đề bức xúc đang đặt ra đối với việc nghiên cứu về
trang phục của các dân tộc nói chung và ngƣời Thái nói riêng, có ý nghĩa thực

các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007; đã đi
sâu nghiên cứu về văn hóa của các tộc ngƣời thiểu số vùng Tây Bắc, trong đó
có dân tộc Thái. Nhà nghiên cứu Cầm Trọng, có tác phẩm Người Thái ở Tây
Bắc Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978. Công trình này mang tính
chất tổng quan về lịch sử cƣ trú, văn hóa, xã hội, kinh tế… của ngƣời Thái ở
Tây Bắc từ khi di cƣ vào Việt Nam; công trình này có nhắc Mƣờng Lò là quê

3

tổ của ngƣời Thái Đen nhƣng chỉ khái quát chung về vùng đất này. Cuốn
“Những hiểu biết về người Thái ở Việt Nam” của Cầm Trọng, Phan Hữu Dật,
Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1995; với nội dung là giới thiệu văn hóa Thái
trong lịch sử Việt Nam, sự phân chia thành các vùng văn hóa, các nhóm địa
phƣơng, nơi cƣ trú, sinh hoạt kinh tế, sinh hoạt ăn uống, ở, mặc, đi lại, quan
hệ gia đình, xã hội. Những công trình này có đề cập đến trang phục của ngƣời
Thái nhƣng không đi sâu vào nghiên cứu về trang phục của ngƣời Thái Đen ở
Mƣờng Lò mà chỉ dừng lại ở mức độ khái quát một cách sơ lƣợc về trang
phục của ngƣời Thái Tây Bắc nói chung.
Tác giả Lê Ngọc Thắng, với tác phẩm Trang phục cổ truyền của người
Thái ở Tây Bắc Việt Nam và nghệ thuật trang phục Thái, Nxb Văn hóa dân
tộc – Trung tâm văn hóa Việt Nam, Hà Nội, 1990, “Nghệ thuật trang phục
Thái”, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1990; có đi sâu nghiên cứu về trang
phục của ngƣời Thái , nghệ thuật trang trí trên vải, các đồ án hoa văn đƣợc
thêu trên trang phục và các đồ vật bằng vải… Tác giả Nguyễn Thị Thanh
Nga, với công trình nghiên cứu Nghề dệt của người Thái ở Tây Bắc Trong
cuộc sống hiện đại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003; tác phẩm trên có đi
sâu vào nghiên cứu về trang phục và nghề dệt truyền thống của ngƣời Thái
nhƣng phạm vi nghiên cứu lại là ở Mai Châu (Hòa Bình) và Yên Châu (Sơn
La), tuy có nhắc đến trang phục của ngƣời Thái Đen ở Mƣờng Lò nhƣng chỉ
dừng ở mức độ so sánh, liên hệ một cách sơ lƣợc. Tác giả Phạm Ngọc Khuê

nghiên cứu về trang phục ngƣời Thái Đen ở Mƣờng Lò – Yên Bái.
Nghiên cứu những giá trị văn hóa của trang phục trong đời sống văn hóa
tâm linh, văn hóa xã hội.

5

3.3. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: trang phục truyền thống và những biến đổi về
trang phục của ngƣời Thái Đen ở Mƣờng Lò, tỉnh Yên Bái.
Về không gian: là vùng đất Mƣờng Lò (bao gồm huyện Văn Chấn và
thị xã Nghĩa Lộ).
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tƣ liệu
Tư liệu thành văn: nhữngbài viết, nghiên cứu trên các sách, báo, khóa
luận tốt nghiệp về tình hình kinh tế của Mƣờng Lò (gồm huyện Văn Chấn và
thị xã Nghĩa Lộ), văn hóa dân gian, các tục lệ cƣới xin, văn hóa ẩm thực và
trang phục của dân tộc Thái, hoa văn trên các sản phẩm thêu dệt của ngƣời
Thái Đen ở Mƣờng Lò. Các bài viết, nghiên cứu về trang phục của ngƣời
Thái, sự biến đổi trang phục qua các thời kỳ. Những báo cáo của thị xã Nghĩa
Lộ và huyện Văn Chấn về dân số các tộc ngƣời trong huyện, diện tích đất đai,
tình hình văn hóa.
Tư liệu điền dã: qua quá trình nghiên cứu, tôi đã lấy tƣ liệu do đồng bào
Thái, các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, nghiên cứu lịch sử địa phƣơng
cung cấp. Ngoài ra, trực tiếp quan sát quá trình dệt vải, may, thêu của đồng
bào Thái nơi đây.
4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Khóa luận đƣợc tiến hành bằng nhiều phƣơng pháp cụ thể.
Thu thập tài liệu thành văn.
Phƣơng pháp điền dã dân tộc học và xã hội học tộc ngƣời. Đây là hai
“công cụ” cơ bản đƣợc sử dụng triệt để trong quá trình thu thập thông tin.

1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Cánh đồng Mƣờng Lò – vựa lúa lớn thứ hai của khu vực Tây Bắc thuộc
huyện Văn Chấn và thị xã Nghĩa Lộ của tỉnh Yên Bái.Mƣờng Lò nổi tiếng với
“gạo trắng nƣớc trong”, nơi từ lâu đƣợc mệnh danh là một trong bốn cánh
đồng lớn của miền Tây Bắc qua câu nói quen thuộc “Nhất Thanh, nhì Lò, tam
Than, tứ Tấc” (tức là Mƣờng Thanh – Điện Biên, Mƣờng Than – Than Uyên
và Mƣờng Tấc – Phù Yên). Nơi đây còn đƣợc biết đến là cái nôi của ngƣời
Thái Tây Bắc.
Mƣờng Lò thuộc phía Tây của tỉnh Yên Bái là nơi có địa hình đa dạng
với nhiều con suối, mƣơng, ngòi. Vùng lòng chảo này đƣợc hình thành do sự
chênh lệch về độ cao của các dãy núi và sự chia cắt đột ngột của dãy Hoàng
Liên Sơn từ Nghĩa Lộ đến đèo Lũng Lô, nơi có đƣờng Yên Bái – Sơn La chạy
qua – để lại một vùng đồi thấp và núi thấp tỏa rộng từ hữu ngạn sông Hồng
tới tả ngạn sông Đà tạo ra những thung lũng và bồn địa đƣợc phù sa bồi lấp
khá rộng ở Tú Lệ, Gia Hội và Mƣờng Lò [16; tr.9].
Cánh đồng Mƣờng Lò rộng khoảng 2300 ha, địa thế dốc dần từ phía nam
xuống phía bắc. Độ cao tuyệt đối so với mực nƣớc biển từ 260 đến 280 mét.
Cao nhất của vùng lòng chảo là địa bàn của xã Phúc Sơn, Thạch Lƣơng
(thuộc huyện Văn Chấn), thấp nhất là xã Sơn A, Sơn Lƣơng (thuộc thị xã
Nghĩa Lộ). Đồng bằng Mƣờng Lò, phía Đông có dãy núi Bu và núi Dông;
phía Tây là dãy núi Sà Phình, hai dãy núi này vòng ra nhƣ một vành đai kiên
cố bảo vệ 9 xã vùng đồng bằng Mƣờng Lò. Nhìn từ núi cao xuống, theo quan

8

niệm xƣa, đây là thế “tả Thanh Long - hữu Bạch Hổ”, một thế địa hình để
dựng nghiệp muôn đời.
Mƣờng Lò đƣợc thiên nhiên ƣu đãi với hệ thống suối ngòi phong phú
chảy vào cánh đồng nhƣ: Ngòi Thia (156km) phần chảy vào lòng chảo là
20km, bắt nguồn từ xã Phúc Sơn kết thúc tại xã Sơn Lƣơng; Ngòi Nậm Tăng;

chiếm 42%, ngƣời Thái chiếm 23% ngoài ra còn một số dân tộc khác nhƣ
Tày, Mông, Dao. Huyện Văn Chấn gồm 31 đơn vị hành chính trực thuộc: 28
xã, 3 thị trấn với 351 thôn, bản, tổ dân phố. Văn Chấn đƣợc chia làm hai tiểu
vùng: vùng trong gồm 23 xã - thị trấn lấy Đèo Ách làm ranh giới; vùng ngoài
gồm 8 xã. Ngƣời Thái Đen sinh sống tại một số xã của huyện Văn Chấn
quanh cánh đồng Mƣờng Lò nhƣ: Phù Nham, Sơn Thịnh, Hạnh Sơn, Phúc
Sơn, Sơn Lƣơng, Sơn A, Thạch Lƣơng, Gia Hội. Phần lớn còn lại của vùng
lòng chảo Mƣờng Lò thuộc địa giới của thị xã Nghĩa Lộ [29; tr.47 - 50].
Nghĩa Lộ là thị xã miền núi, là trung tâm kinh tế - văn hóa – xã hội vùng
phía Tây của tỉnh Yên Bái. Thị xã cách thành phố Yên Bái khoảng hơn 80 km
đƣờng bộ theo quốc lộ 32.Phía Bắc, phía Đông, phía Nam giáp huyện Văn
Chấn, phía Tây giáp huyện Trạm Tấu của tỉnh. Với diện tích 2966,6 ha, dân
số 25.486 ngƣời cƣ trú trên địa bàn 4 phƣờng (Trung Tâm, Cầu Thia, Pú
Chạng, Tân An) và 3 xã (Nghĩa An, Nghĩa Phúc, Nghĩa Lợi). Thị xã có 17
dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó dân tộc Thái chiếm 44,57%, dân
tộc Kinh chiếm 43,35% [1; tr.5].
Qua quá trình lịch sử và các lần thay đổi địa dƣ hành chính, Mƣờng Lò
nằm trong địa giới huyện Văn Chấn và sau này lại thuộc cả hai đơn vị hành
chính là thị xã Nghĩa Lộ (thuộc tỉnh Yên Bái). Nhƣ vậy, khi nhắc đến Văn

10

Chấn - Nghĩa Lộ là nói đến Mƣờng Lò. Mƣờng Lò trở thành điểm kết nối, hội
tụ, kết tinh văn hóa đậm nét, riêng có của ngƣời Thái Đen ở Yên Bái nói riêng
và trung tâm văn hoá của ngƣời Thái Tây Bắc Việt Nam nói chung.
1.1.2. Điều kiện kinh tế, văn hóa - xã hội
Nằm trong khu vực hội tụ đông dân tộc anh em, khu vực Mƣờng Lò có
17 dân tộc cùng sinh sống, trong đó dân tộc Thái chiếm số đông, cùng một số
dân tộc tiêu biểu khác nhƣ dân tộc Kinh, dân tộc Tày, dân tộc Mƣờng, Mông,
Dao, Khơ Mú…Cƣ dân của Mƣờng Lò mang đặc trƣng của cƣ dân thành thị

thống thƣơng mại khá sôi động ở khu vực này. Từ lâu, miền đất này đã trở
thành một trong những trung tâm kinh tế - văn hóa tƣơng đối sầm uất trong
tỉnh và các khu vực lân cận. Thời kỳ thực dân Pháp cai trị năm 1935, chợ
Nghĩa Lộ đã đƣợc xây dựng trở thành chợ lớn thứ hai của tỉnh Yên Bái. Sau
khi thị xã đƣợc tái lập, chợ Mƣờng Lò đã đƣợc quy hoạch, đầu tƣ, xây dựng
lại trở thành một trong những trung tâm thƣơng mại lớn nhất của tỉnh Yên
Bái. Hàng hóa ở đây khá phong phú, đa dạng. Bên cạnh những sản phẩm công
nghiệp hiện đại còn có rất nhiều nông sản, sản phẩm thủ công truyền thống
phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của nhân dân và trao đổi thƣơng mại. Có thể
gọi chợ Mƣờng Lò là chợ đầu mối vì phần nào đã đáp ứng đƣợc nhu cầu trao
đổi hàng hóa trong vùng và các khu vực lân cận.
Dịch vụ du lịch có nhiều tiềm năng đặc biệt khi Mƣờng Lò là điểm đến
nằm trong Chƣơng trình du lịch về cội nguồn của 3 tỉnh Phú Thọ, Yên Bái,
Lào Cai. Dịch vụ y tế, văn hóa, giáo dục bƣớc đầu đƣợc mở rộng trong những
năm gần đây.

12

Văn hóa – xã hội: Cùng với sự phát triển về kinh tế, các mặt văn hóa xã
hội ở Mƣờng Lò đạt trình độ phát triển khá cao. Khu di tích lịch sử Căng -
Đồn Nghĩa Lộ đã đƣợc Bộ Văn hoá xếp hạng là di tích lịch sử - văn hóa cấp
quốc gia, là nhà tù (căng) giam giữ tù chính trị của thực dân Pháp. Đây không
chỉ là nơi tƣởng niệm mà còn là một địa điểm du lịch thu hút du khách đến
tìm hiểu truyền thống lịch sử cách mạng, văn hóa của địa phƣơng; Bảo tàng
Yên Bái - Chi nhánh Nghĩa Lộ, Khu tƣởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
đƣợc công nhận là một trong hệ thống Bảo tàng Hồ Chí Minh cả nƣớc. Nhiều
thôn, bản, tổ dân phố đã có nhà văn hóa. Nhìn chung đời sống vật chất, tinh
thần của đồng bào các dân tộc trên địa bàn khu vực đã đƣợc cải thiện trong
những năm gần đây, song tỷ lệ hộ nghèo cũng còn khá cao (Năm 2005, tỷ lệ
hộ nghèo theo tiêu chí mới còn chiếm đến 31,7%) [2, tr.50-54].

Theo các nhà nghiên cứu khoa học về sự thiên di của các ngành Thái
Tây Bắc Việt Nam, về ngƣời Thái ở Tây Bắc Việt Nam…, đặc biệt qua hai
cuốn sử thi của ngƣời Thái Đen: “Quắm tố mương” (kể chuyện bản mƣờng)
và “Táy pú xấc” (dỗi theo bƣớc đƣờng chinh chiến của cha ông), vào khoảng
thế kỷ XI - XII ngành Thái Đen do Tạo Xuông và Tạo Ngần dẫn đƣờng di cƣ
từ Mƣờng Ôm, Mƣờng Ai đến Mƣờng Lò cƣ trú. Đoàn ngƣời đặt chân đầu
tiên đến Mƣờng Min (nay là xã Gia Hội, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái) rồi
vào vùng lòng chảo Mƣờng Lò rộng lớn. Thuở ấy, Mƣờng Lò còn là vùng đất
mênh mông hoang vắng. Tổ tiên ngƣời Thái Đen đã dừng lại đây sinh sống và
cùng nhau khai phá thành ruộng đồng [23; tr.87].
Tạo Xuông, Tạo Ngần xuống dựng Mƣờng Lò Luông. Cùng theo có các
họ Lò, Lƣờng, Quàng, Lèo, Tòng. Những họ này tôn họ Lò làm chủ… Xây
dựng xong Mƣờng Lò, Tạo Ngần về Mƣờng Bỏ Té. Còn Tạo Xuông ở lại, lấy

14

vợ ở đó sinh con là Tạo Lò. Tạo Lò lấy vợ sinh ra bẩy ngƣời con trai là: Ta
Đúc, Ta Đẩu, Lặp Li, Lò Li, Lạng Ngạng, Lạng Quang và Lạng Chƣợng….
Tạo Lò chia đất cho các con đi làm chúa. Ta Đúc ăn Lò Luông; Ta Đẩu ăn Lò
Cha; Lặp Li ăn Lò Gia; Lò Li ăn Mƣờng Min; Lạng Ngạng ăn Mƣờng Vân,
Mƣờng Vành; Lạng Quang ăn Xí xam bản Lọm… Riêng Lạng Chƣợng là con
út Tạo Lò không có mƣờng để “ăn”… Chúa Lạng Chƣợng… triệu tập binh
tƣớng, dân chúng, kéo nhau đi tìm mƣờng… [33; tr.56].
Khi ngƣời Thái Đen xuất hiện ở Mƣờng Lò, vùng lòng chảo này đã đƣợc
chia làm ba vùng: Mƣờng Lò Luông (tức Mƣờng Lò lớn là nơi trung tâm của
vùng lòng chảo, cũng là trung tâm của toàn châu mƣờng); Mƣờng Lò Gia (gọi
tắt là Mƣờng Gia) và Mƣờng Lò Cha (gọi tắt là Mƣờng Cha). Và do đó
Mƣờng Lò là Mƣờng Xam Lò (Mƣờng Ba Lò). Ngoài phạm vi vùng lòng
chảo, Mƣờng Lò còn gồm những mƣờng nhỏ khác nhƣ mƣờng Hồng, mƣờng
Hằng (nay là huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái); mƣờng Nặm, mƣờng Piu (nay là

lại bản đồ cả nƣớc để thống nhất các phủ, huyện vào các đạo thừa tuyên. Lúc
này huyện Văn Chấn cùng các huyện Trấn Yên, châu Văn Bàn nằm trong địa
phận phủ Quy Hóa, đạo thừa tuyên Hƣng Hóa. Năm 1490, đạo thừa tuyên
Hƣng Hóa đổi thành xứ Hƣng Hóa. Sang đời Hồng Thuận (1509 – 1516) đổi
thành trấn Hƣng Hóa. Đến triều Nguyễn, Văn Chấn thuộc vùng Thập Châu,
tỉnh Hƣng Hóa, sau đó là vùng Tam tổng Nghĩa Lộ, thuộc tỉnh Hƣng Hóa.
Thời thuộc Pháp, châu Văn Chấn thuộc hạt Nghĩa Lộ, tỉnh Lào Cai. Ngày 11
tháng 4 năm 1900 thực dân Pháp đã lấy các hạt Bảo Hà, Nghĩa Lộ, Yên Bái
và châu Lục Yên của tỉnh Tuyên Quang để thành lập tỉnh Yên Bái. Châu Văn
Chấn lúc này trở thành một huyện của tỉnh Yên Bái. Qua nhiều lần thay đổi
địa dƣ hành chính, từ tháng 5 năm 1955 đến tháng 8 năm 1991, Văn Chấn
chính thức trở thành một trong 7 huyện của tỉnh Yên Bái. Năm 1995, thị xã

16

Nghĩa Lộ đƣợc thành lập thuộc tỉnh Yên Bái trên cơ sở thị trấn Nghĩa Lộ và
một phần thuộc huyện Văn Chấn. Huyện Văn Chấn tách khỏi thị xã Nghĩa Lộ
và xây dựng trung tâm huyện tại khu vực xã Sơn Thịnh [4; tr.8 - 9].
Đất Mƣờng Lò cổ ngày trƣớc rất rộng trên cả bốn huyện phía Tây của
tỉnh Yên Bái, không riêng ở vùng lòng chảo Mƣờng Lò; bởi vậy mà địa bàn
cƣ trú của ngƣời Thái rất rộng. Cùng với ngƣời Thái, các dân tộc anh em khác
cùng cƣ trú đã tạo ra một vùng văn hóa đa sắc màu, phong phú và đặc
sắc.Mƣờng Lò ngày nay không chỉ còn là một vùng đất cổ giàu tiềm năng và
phát triển du lịch sinh thái, du lịch nhân văn và văn hóa tộc ngƣời mà còn là
vùng đất lƣu giữ đƣợc nhiều giá trị văn hóa cổ truyền mang tính chất nguyên
sơ của văn hóa truyền thống.
1.2. NGƢỜI THÁI ĐEN Ở MƢỜNG LÒ, TỈNH YÊN BÁI
1.2.1. Tên gọi, dân số và sự phân bố dân cƣ
Ở Yên Bái, tên ngƣời Thái đƣợc dùng chính thức và phổ biến. Ngƣời
Thái còn tự gọi mình là “Táy”, “ Táy Khao” là Thái Trắng, “ Táy Đăm” là

niên kỷ thứ II sau công nguyên. Nhƣ nhà nghiên cứu Đặng Nghiêm Vạn đã
nhận định về cuộc thiên di này: “nằm trong cuộc thiên di lớn của tổ tiên
người Thái vào Đông Dương, là một diễn biến lịch sử lớn lao, làm đảo lộn
toàn bộ tình hình phân bố dân cư miền Tây Bắc Việt Nam cũng như trên bán
đảo Đông Dương” [34; tr.403].
Trong bối cảnh lịch sử ấy, ngƣời Thái Đen phải tiếp xúc với mọi loại
hình ngôn ngữ, văn hóa của các dân tộc khác. Do vậy họ vừa phải bảo lƣu gìn
giữ những yếu tố cơ bản đặc trƣng nhất của dân tộc mình và có sự tiếp thu

18

chọn lọc những yếu khác của các dân tộc khác mình. Vì vậy, đã hình thành
quy luật phổ biến về sự phát triển văn hóa lịch sử của tất cả ngƣời thuộc nhóm
tiếng Thái nhƣ nhà nghiên cứu Cầm Trọng đã nói: “ từ một cội nguồn chung
ngôn ngữ, văn hóa dần vỡ ra để tạo thành từng luồng lan toả đi khắp nơi.
Đến khi ngưng tụ tại nơi nào đó thì địa văn hoá mang màu sắc Thái xuất
hiện” [21; tr.43].
Ngƣời Thái Đen ở Mƣờng Lò cũng không nằm ngoài quy luật trên. Chỉ
khác là Mƣờng Lò chính là địa điểm cƣ trú đầu tiên ở Việt Nam của ngƣời
Thái Đen và từ đây họ tiếp tục chiếm lĩnh toàn bộ vùng Tây Bắc, sau đó tràn
xuống lƣu vực sông Mã qua Lào vào vùng Thanh, Nghệ. Nhƣ vậy, Mƣờng Lò
là quê tổ của ngƣời Thái Đen ở Tây Bắc. Trong dân gian ngƣời Thái Đen
thƣờng nói “Pay Mường Lò” - đi về Mƣờng Lò là nghĩa hƣớng về tổ tiên, quê
tổ. Do vậy, càng minh chứng cho “màu sắc địa văn hóa” của vùng đất này
thêm đậm nét. Tuy nhiên, dù khẳng định thời gian đến sinh sống tại Mƣờng
Lò của ngƣời Thái Đen từ rất sớm (khoảng thế kỷ XI - XII) nhƣng họ lại
không phải là cƣ dân đầu tiên có mặt ở Mƣờng Lò. Nhƣ các nhà nghiên cứu
đã chỉ rõ trƣớc khi ngƣời Thái Đen đến nơi đây đã có ngƣời Xá chủ yếu là Xá
Khao (các cƣ dân Môn - Khơ me) là dân tộc chủ thể ở Tây Bắc cƣ trú khắp ba
tỉnh Sơn La, Lai Châu, Nghĩa Lộ và một phần những ngƣời Xá này đã hoà

phƣơng pháp "Hỏa – canh – thủy – nậu" (đốt rơm rạ cày bừa ngâm ngấu để
cấy) để sản xuất nông nghiệp, hệ thống này vẫn đƣợc đồng bào duy trì nhƣng
không còn là chủ đạo thay vào đó là hệ thống thuỷ lợi đã đƣợc xây dựng kiên
cố với trạm bơm và mƣơng bê tông hoá. Tạo nguồn nƣớc cho sinh hoạt và tạo
điều kiện cho phát triển nông nghiệp lúa nƣớc của đồng bào. Ngoài ra ngƣời

20

Thái Đen cũng thực hiện việc xen canh với những loại cây ngắn ngày nhƣ
khoai lang, ngô vừa làm lƣơng thực trong những ngày giáp hạt vừa làm thức
ăn cho gia súc.
Bên cạnh hoạt động kinh tế nông nghiệp ngƣời Thái Đen còn duy trì hoạt
động săn bắn, hái lƣợm, đánh bắt cá để cải thiện đời sống. Họ tìm nguồn thực
phẩm ở các cánh rừng xung quanh cánh đồng Mƣờng Lò nhƣ các loại măng,
mộc nhĩ, rau và các loại thú rừng… Những thực phẩm này vẫn là một phần
quan trọng đối với cuộc sống của ngƣời dân dù họ đã trồng rau và mua thêm ở
chợ. Đƣợc thiên nhiên ƣu đãi Mƣờng Lò với hệ thống suối, ngòi phong phú
đã mang lại nguồn thuỷ sản lớn, vì lẽ tự nhiên ngƣời dân nơi đây tạo nên một
nghề kiếm sống quan trọng đó là nghề đánh cá. Những con suối nhƣ Nâm
Thia, Nậm Đông…đã mang lại cho ngƣời dân nguồn thủy sản phong phú và
làm nên những món ăn đƣợc chế biến từ thuỷ sản nổi tiếng đã trở thành
thƣơng hiệu của vùng Mƣờng Lò nhƣ: cá Sỉnh, cá nƣớng, cá gỏi. Công cụ
đánh bắt rất đơn giản nhƣ: chài, vó, lƣới, câu. Ngoài ra họ còn nuôi cá ở ao,
hồ. Đặc biệt ngƣời Thái Đen nơi đây còn có tập quán thả cá xen lúa, ngoài tác
dụng làm cho lúa đạt năng suất cao do cá làm sục bùn, diệt sâu bọ còn cung
cấp khoáng chất. Trên một mảnh ruộng đồng bào nơi đây đã biết kết hợp thâm
canh, xen vụ trồng lúa, trồng cây màu vụ đông, nuôi cá tăng thêm thu nhập và
nâng cao đời sống kinh tế.
Ngoài hoạt động nông nghiệp và khai thác tự nhiên ngƣời Thái Đen còn
chú trọng tới phát triển chăn nuôi. Trƣớc kia hình thức chăn nuôi thƣờng là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status