MỤC LỤC
MỤC LỤC.............................................................................................................................................1
LỜI CẢM ƠN........................................................................................................................................3
PHẦN MỘT : MỞ ĐẦU.........................................................................................................................4
I. Lý do chọn đề tài..........................................................................................................................4
1.Lịch sử nghiên cứu vấn đề............................................................................................................5
2.Mục đích nghiên cứu....................................................................................................................6
3.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu....................................................................................................6
3.1.Đối tượng nghiên cứu................................................................................................................6
3.2.Phạm vi nghiên cứu...................................................................................................................6
4.Phương pháp nghiên cứu.............................................................................................................7
5.Đóng góp của luận văn.................................................................................................................7
6.Cấu trúc của luận văn...................................................................................................................7
PHẦN HAI: NỘI DUNG..........................................................................................................................8
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI THÁI Ở TỈNH SƠN LA VÀ NGƯỜI THÁI ĐEN HUYỆN THUẬN
CHÂU, TỈNH SƠN LA.............................................................................................................................8
1.1.Nguồn gốc của người Thái.........................................................................................................8
1.2.Người Thái ở Sơn La................................................................................................................10
1.3.Điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, điều kiện kinh tế-xã hội của huyện Thuận Châu tỉnh Sơn La. 10
1.4.Người Thái đen ở huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La..................................................................12
1.4.1.Điều kiện kinh tế...................................................................................................................12
1.4.2.Điều kiện văn hóa, xã hội......................................................................................................13
Tiểu kết Chương I:.............................................................................................................................21
CHƯƠNG II :.......................................................................................................................................22
HÀNH TRÌNH TANG MA CỦA NGƯỜI THÁI ĐEN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA.......................22
2.1.Tổ chức đám tang....................................................................................................................22
2.1.1. Khâu chuẩn bị......................................................................................................................22
2.1.2. Các nghi thức trong đám tang.............................................................................................25
2.2. Dựng nhà mồ..........................................................................................................................32
TIỂU KẾT CHƯƠNG II:........................................................................................................................35
những buổi trên lớp . Nếu không có những lời hướng dẫn ,dạy bảo của cô thì
em nghĩ bài nghiên cứu này của em rất khó có thể hoàn thiện được.Một lần
nữa em xin chân thành cảm ơn cô.
Em xin gửi lời cảm ơn tới các bạn trong lớp đã giúp đỡ em trong quá
trình hoàn thành bài tiểu luận này,các bạn đã động viên,,chỉ những lỗi sai và
giúp em trong quá trình tìm tài liệu.
Do vốn kiến thức không đủ sâu và kinh nghiệm làm bài chưa có nên
không tránh khỏi những thiếu sót ,em mong muốn nhận được những ý kiến
đóng góp quý báu của cô và các bạn cùng lớp để kiến thức và kĩ năng của em
được hoàn thiện hơn nữa.Em xin chân thành cảm ơn !
Sinh viên
Hoàng Thị Hường
3
PHẦN MỘT : MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Con người sinh ra, lớn lên rồi già đi. Không ai tránh được vòng quy luật
"Sinh - Lão - Bệnh - Tử" và đến một lúc nào đó phải lìa cõi trần. Đó là lẽ sinh
tử, là quy luật tự nhiên và khi con người chết đi thì việc làm tang ma là một
việc hệ trọng trong chu kỳ đời người trên cõi trần gian. Mỗi quốc gia, mỗi tộc
người có cách thức tổ chức nghi lễ tang ma khác nhau như địa táng, hỏa táng,
thiên táng, thủy táng...
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, mỗi dân tộc có những phong tục
tập quán riêng góp phần hình thành nên tính đa dạng của văn hoá Việt Nam.
Việc gìn giữ và bảo vệ những giá trị văn hoá đa dạng đó là điều hết sức quan
trọng đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Chính vì thế, trong văn kiện Đại
hội XI của Đảng đã có những định hướng quan trọng về phát triển văn hoá
rất rộng và thu hút nhiều nhà nghiên cứu, trong đó nổi bật là các công trình
nghiên cứu như: Cuốn sách Luật tục Thái ở Việt Nam, Cầm Trọng, Ngô Đức
Thịnh, Nxb Văn hóa dân tộc (1999) đã tập trung vào các phong tục tập quán đã
trở thành luật lệ của bản mường mà tất cả mọi người đều phải tuân theo và
thực hiện trong sinh hoạt hàng ngày như cưới hỏi, tang ma, cúng bái.. .Nghiên
cứu về Phong tục tang lễ của người Thái đen xưa kia, tác giả Lường Vương
Trung (2011), Nxb Thanh niên đã mô tả khá chi tiết về một đám tang từ khi
chuẩn bị cho đến các nghi thức hành lễ của người Thái ở Sơn La. Tác giả
Nguyễn Đăng Duy trong Nhận diện văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam
(2004), Nxb Văn hóa dân tộc đề cập một cách toàn diện về đời sống văn hoá
sản xuất, văn hóa tổ chức đời sống, văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của
người Thái. Tác phẩm Mỹ thuật dân tộc Thái ở Việt Nam, của Phan Ngọc
Khuê (2004), Nxb Mỹ thuật quan tâm đến các hình thức trang trí nhà mồ của
người dân tộc Thái.
Qua các tác phẩm trên, em thấy hầu hết các tác giả đã đề cập, nghiên
cứu về nhiều khía cạnh khác nhau liên quan đến lịch sử, xã hội cũng như
truyền thống văn hóa dân tộc Thái song không nhiều bài viết đề cập riêng đến
tang ma của người Thái đen và người Thái đen ở huyện Thuận Châu, Tỉnh Sơn
La. Dân tộc Thái có nhiều nhóm, nhiều ngành, cư trú ở nhiều địa bàn khác
5
nhau như Điện Biên, Sơn La, Lai Châu,… nên đề tài này cũng có một ý nghĩa
trong việc hiểu biết thêm về nét văn hóa đa sắc màu của tộc người Thái ở Việt
Nam.
2.Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu tìm hiểu về đám tang của người Thái đen ở huyện Thuận
Châu, tỉnh Sơn La em hy vọng sẽ hiểu được rõ hơn những giá trị văn hóa vật
liệu về người Thái ở Việt Nam nói chung, người Thái đen nói riêng và các tư
liệu lịch sử, văn hóa, xã hội tại địa phương để có được những hiểu biết khái
quát và cơ bản về tộc/nhóm người này cũng như địa bàn nghiên cứu.
Ngoài ra, bài viết của em còn sử dụng các phương pháp so sánh, đối
chiếu với một vài vùng lân cận hay một vài dân tộc khác để làm nổi bật chủ đề
trên.
5.Đóng góp của luận văn
Qua bài viết này chúng ta hiểu rõ hơn phần nào phong tục tập quán của
người Thái nói chung và của người Thái đen nói riêng để từ đó chúng ta biết
tôn trọng, giữ gìn và phát huy phong tục truyền thống của họ. Làm được điều
đó chúng ta đã góp phần vào việc giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc Việt
Nam nói chung.
6.Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương
Chương 1. Tổng quan về người Thái ở tỉnh Sơn La và người Thái đen ở
huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.
Chương 2. Hành trình tang ma của người Thái đen ở huyện Thuận Châu,
tỉnh Sơn La.
Chương 3. Tang ma của người Thái đen ở huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn
La: Sự biến đổi và những giá trị nhân văn.
7
PHẦN HAI: NỘI DUNG
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI THÁI Ở TỈNH SƠN LA VÀ
Mường Lò - Luông (nay là Mường Là thuộc Vân Nam) vào Tây Bắc. Đầu tiên
tới Mường Lò (Nghĩa Lộ), họ đã khai khẩn Mường Lò và tập trung người Thái
ở đây do Tạo Lò đứng đầu. Đến đời con Tạo Lò là Lạng Chượng đã dùng lực
lượng quân sự phát triển thế lực lên Mường Chiên, Mường Trai, Ít Ong (vùng
tả ngạn sông Đà thuộc huyện Mường La), sau đó vượt Sông Đà tiến vào các
vùng Mường Bú, Mường La rồi Mường Muổi (Thuận Châu), Mường Quài
(Tuần Giáo) và cuối cùng Lạng Chượng đã dừng chân ở Mường Thanh (Điện
Biên). Cuộc di dân này kéo dài đến hai mươi năm. Những người Thái mới đến
đã cùng người đồng tộc và cư dân bản địa khác mở mang đất đai trên những
thung lũng thuộc lưu vực sông Đà, sông Mã, trở thành những cánh đồng tương
tự như ngày nay. Ở Mường Muổi (Thuận Châu) sau khi đã ổn định, một bộ
phận người Thái đen lại tiếp tục di cư qua Lào vào miền Tây Nghệ An, nay là
nhóm Tày Muổi.
Người Thái ở Tây Bắc tập trung dân số đông nên văn hóa của họ đóng
vai trò rất quan trọng đối với khu vực này và đó cũng là nền văn hóa còn lưu
giữ được nhiều những yếu tố truyền thống cổ xưa, ít bị pha trộn với các nền
văn hoá xung quanh.
Người Thái cùng cư trú với các tộc người Khơ Mú, La Hả, Kháng,
Mông, Mường, xinh Mun...Có 3 ngành: Thái đen, Thái trắng, Thái đỏ. Đông
nhất là ngành Thái đen. Người Thái đen tập trung ở các vùng Điện Biên, Tuần
Giáo (Tỉnh Điện Biên); Văn Chấn, Trạm Tấu, Thị xã Nghĩa Lộ (T ỉnh Yên
Bái); các huyện Thuận Châu, Mai Sơn, Mường La, Sông Mã, Sốp Cộp, Yên
Châu, Thành phố Sơn La (tỉnh Sơn La). Ngành Thái trắng cư trú tập trung ở
Mường Lay, Mường Nhé (tỉnh Điện Biên); Phong Thổ, Mường Tè, Than Uyên
(Tỉnh Lai Châu); Quỳnh Nhai, Ngọc Chiến - Mường La (tỉnh Sơn La). Ngành
Thái đỏ tập trung ở vùng Mộc Châu, Phù Yên, Bắc Yên (tỉnh Sơn La); Các
huyện Đà Bắc, Mai Châu (tỉnh Hoà Bình) (theo văn bản của Nhà nước thì
người Thái ở vùng này được xếp vào nhóm Thái trắng, nhưng c hính họ tự
La-Điện Biên ), cách thành phố Sơn La 34 km, cách huyện Tuần Giaos tỉnh
Điện Biên 52 km.
Toạ độ địa lý: 21012' đến 21041' vĩ độ bắc. 103020' đến 103059' kinh độ
đông. Phía Đông giáp huyện Mường La và thành phố Sơn La tỉnh Sơn La.
Phía Tây giáp huyện Điện Biên Đông, huyện Mường Áng và huyện Tuần
Giaos tỉnh Điện Biên. Phía Nam giáp huyện Mai Sơn và huyện Sông Mã tỉnh
Sơn La. Phía Bắc giáp huyện Quỳnh Nhai và huyện Mường La tỉnh Sơn La.
Thiên nhiên đã phú cho huyện Thuận Châu một nguồn tài nguyên thiên
10
nhiên phong phú. Về lâm sản, ở đây có trên 70 loài cây, nhiều loài đã được ghi
vào sách đỏ Việt Nam: đinh hương, săng lẻ, vàng tâm, dổi, kền kền, pơ mu...
Nhìn chung vùng này trước đây, chỉ cách đây khoảng hai mươi năm nhiều
cánh rừng vẫn chưa bị tàn phá, thảm thực vật còn dầy, động vật cũng phong
phú, nhất là các loài thuộc bộ móng guốc, gặm nhấm như lợn rừng, hươu, nai,
nhím, sóc cũng đã từng tồn tại ở đây
Khí hậu ở đây thuộc loại nhiệt đới ẩm, gió mùa. Nhiệt độ trung bình
trong năm vào khoảng 25 0C (cao nhất 360C, thấp nhấp 7,10C). Trong năm, khí
hậu ở đây phân thành hai mùa rõ rệt, mùa mưa khí hậu nóng, nhiệt độ thường
từ 30 - 360C lại có gió nóng. Hàng năm, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 - 10.
Lượng mưa trung bình hàng năm vào khoảng 2.000 - 2.100 mm, thường gây lũ
đột ngột, xói mòn và rửa trôi m ạnh. Mùa khô lạnh từ tháng 11 năm trước đến
tháng 4 năm sau, ít mưa, sông, suối khô cạn.
Dân số huyện Thuận Châu là 133.802 người với 29 đơn vị hành chính
trực thuộc, bao gồm thị trấn Thuận Châu ( huyện lỵ ) và 28 xã: Bản Lầm, Bó
Mười, Bon Phặng, Chiềng Bôm, Chiềng La, Chiềng Ly, Chiềng Ngàm,
chân đến mảnh đất này, người Thái đã tập trung đến việc khai phá ruộng đất ở
những thung lũng thành những cánh đồng rộng lớn.
Với bộ nông cụ làm ruộng như cày, mai, xẻng; các biện pháp kĩ thuật
liên hoàn (làm đất, làm mạ, gieo cấy, chăm sóc và thu hoạch); đặc biệt là hệ
thống thuỷ lợi “dẫn thuỷ nhập điền” mương, phai, lái, lịn và cọn nước, cùng
với các nghi lễ tín ngưỡng liên quan. Qua nhiều thế hệ, người Thái đen đã đúc
kết và tích luỹ được nhiều kinh nghiệm trong sản xuất. Hiện nay, người Thái
đen ở huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La đã chuyển sang làm hai vụ lúa. Vụ
chiêm cấy tháng 2, thu hoạch tháng 5; vụ mùa cấy tháng 7 thu hoạch tháng 10.
Ngoài ra, họ còn làm nương rẫy, đó là lối canh tác “phát đốt, gieo trồng”.
Công cụ để làm nương rẫy chủ yếu là: dao, rìu, móc, khều, gậy chọc lỗ bọc sắt
hoặc không bịt sắt, nạo cuốc để làm cỏ, nhíp để gặt. Sản phẩm thu về là ngô,
khoai, sắn. Ngoài việc trồng trọt, người Thái đen ở đây cũng rất giỏi trong
việc chăn nuôi trâu, bò, lợn gà, cá ruộng... săn bắn muông thú, hái lượm lâm
thổ sản, rau, măng. đánh cá ở các sông suối. Do ý thức tự cung tự cấp này mà
họ hiểu rất rõ về vai trò của chăn nuôi, trồng trọt, hái lượm, săn bắt.trong cuộc
sống. Vì vậy, người Thái đen ở huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La thường dùng
những thức ăn có sẵn như: rau rừng, thịt thú rừng (măng, nấm, thỏ, chim... ),
12
các loại côn trùng như: ong, trứng kiến, dế.hầu hết là họ thường dùng những
thứ mình trồng và kiếm được. Đến nay cuộc sống của người dân được phần
nào cải thiện nên thức ăn có phần phong phú hơn.
Các nghề thủ công cũng phát triển. Người phụ nữ Thái đen nơi đây có
tính cần cù, chịu thương chịu khó, đôi bàn tay khéo léo cùng với trí sáng tạo
dệt nên những tấm vải thổ cẩm theo các mô típ hoa văn hình thù chim, hoa cỏ,
cây cối rất tinh xảo. Họ đã làm ra nhiều sản phẩm nổi tiếng như: khăn piêu,
mặt chăn, mặt gối, túi thổ cẩm (Hình 1). Các chàng trai không những tài giỏi
đòn tay, cầu thang lên xuống, số lượng cửa chính, cửa sổ, cả thanh chắn cửa sổ
cũng là số lẻ. Bởi lẽ đồng bào cho rằng con số lẻ là con số may mắn, là con số
phát triển cần phải thêm vào. Hai đầu hồi của nhà được đặt cầu thang, bên
(Quản) bẩy bậc là dành cho nam giới và khách tới chơi nhà, bên (Chan) chín
bậc là dành cho gia đình và phụ nữ.
Ngôi nhà sàn thường được chia làm ba tầng rõ rệt: tầng nền đất gầm sàn
(Lang) xưa họ thường ngăn để chăn nuôi gia súc, gia cầm, còn ngày nay họ chỉ
để củi hay đặt khung cửi. Tầng mặt sàn (Hạn Hươn) là không gian sinh hoạt
của gia đình và phần này được phân chia theo gian cho mỗi thành viên trong
gia đình. Ở phần mặt sàn sát với Chan đặt bếp dùng để nấu nướng, gian sát với
Quản là nơi đặt gian thờ cúng Hóng và nơi tiếp khách. Tầng ba trong ngôi nhà
sàn là phần gác trên quá giang Khứ Hươn phần này chủ yếu là để thóc lúa,
nhất là thóc giống và những đồ đun nấu trong nhà. Xưa kia đây cũng là nơi cất
giữ đồ đạc quý trong nhà như vàng bạc, nồi đồng, ninh đồ xôi chưa được dùng
đến.
Nhà ở của người Thái hay các dân tộc khác cũng vậy, nó là một trong
những nhu cầu cần thiết cho sinh hoạt gia đình, mang đậm tính văn hoá của
cộng đồng và nhà sàn cũng là giá trị văn hoá lâu đời của người Thái.(Hình 2)
Trang phục
Cũng như nhiều dân tộc khác, trang phục của phụ nữ Thái đen thể hiện
rõ nhất bản sắc văn hóa tộc người . Một bộ trang phục nữ Thái gồm: áo ngắn
(Xửa Cỏm), áo dài (Xửa Chái và Xửa Luổng), váy (Xỉn), thắt lưng (Xải Cỏm),
khăn (Piêu), nón (Cúp), xà cạp (pepăn khạ), các loại hoa tai, vòng cổ, vòng
tay, xà tích...Xửa Cỏm (áo ngắn bó sát người có hàng cúc bướm) có thể may
bằng nhiều loại vải với màu sắc khác nhau. Chính hàng khuy bạc hay kim loại
đã làm cho Xửa Cỏm trở thành chiếc áo đặc trưng của bộ nữ phục Thái. Theo
quan niệm dân gian Thái, hai hàng cúc bạc trên hai vạt áo Xửa Cỏm là tượng
14
người Thái ở Sơn La. Khi hai cá thể nam nữ kết hợp thành một tổ hợp gia
15
đình, thì ở người Thái, cũng hình thành quan hệ ba chiều, trong đó, mỗi chiều
là một họ mà thực chất là một nhóm thân thuộc. Dòng họ giữ vai trò quan
trọng trong đời sống của gia đình.
Toàn bộ anh em trai cùng một cha, ông nội, cụ nội, hợp thành quan hệ
huyết thống gọi là Ải Noọng, xa hơn nữa thì có chung một tổ tiên gọi là Đẳm.
Tất cả anh em trai của vợ gọi là Lung Ta tức họ ngoại, họ của các ông
cậu
Tất cả các anh em cọc chèo hợp thành một nhóm gọi là Nhinh Sao hay
họ nhà trai.
Người Thái rất chú trọng đến việc dạy dỗ con cái. Con gái theo mẹ làm
nghề truyền thống của phụ nữ từ 8 đến 10 tuổi. Cũng ở tuổi này bắt đầu tập lao
động, làm nương dệt vải. Con trai làm các công việc đồng áng, lên rừng để khi
lớn lên các em vững trãi trong cuộc sống. đặc biệt sau khi lấy vợ, trong thời
gian ở rể , bố vợ có trách nhiệm dạy dỗ con rể lao động, làm những việc từ
mài dao đan gùi... đến các tập quán, lễ nghi trong ứng xử hàng ngày.
Tuy người Thái theo truyền thống phụ hệ nhưng trong mỗi gia đình, sự
bình đẳng, lấy tình thương yêu vợ chồng làm đầu vẫn là nét văn hoá nổi bật.
Huyết thống dòng cha của người Thái được thể hiện ở tín ngưỡng đặc biệt
quan trọng đó là thờ cúng tổ tiên, gọi là thờ Ma Nhà hay Ma Đẳm. Trong mỗi
cộng đồng cùng Đẳm đều thấy có một chiếc gươm thiêng Đáp Đẳm được
truyền từ đời này qua đời khác, theo dòng trưởng.
Cộng đồng người Thái cũng theo phong tục tập quán tôn trọng dòng họ
ông cậu Lung Ta được biểu hiện trong cách ứng xử hợp lý giữa họ nhà trai
Nhinh Sao với họ ông cậu Lung Ta này. Đó là khi bên Lung Ta có việc tang
ma thì bên Nhinh Sao phải có nghĩa vụ chia xẻ, đóng góp. Ngược lại, bên
hồn phía sau). Mỗi bộ phận ở trên cơ thể con người đều có hồn riêng: hồn đầu,
hồn tai, hồn mắt, hồn lưỡi, răng, cổ, chân, tay, gan, phổi v.v...Tất cả các hồn
đó gộp lại thành hồn chung - “Hồn người”. Hồn Người còn gọi là Hồn
Chủhay Hồn Mình (Khuôn Chảu). Nếu đau mắt thì họ cho là hồn mắt bị xúc
phạm mà bỏ đi, hoặc ma nào đó dụ đi nên làm cho mắt bị đau.. .Tất cả các bộ
phận trên cơ thể con người mà bị đau thì có nghĩa là hồn đó bị xúc phạm hay
bị ma ám, ma dụ đi nên mới đau. Mỗi khi bị đau mà làm thuốc không khỏi thì
họ đi xem bói để tìm ma. Tìm được ma rồi họ mới tổ chức lễ cúng (Xên) để
xin và gọi hồn về.
Đối với một con người họ cho hồn, vía là quan trọng bậc nhất. Một con
người mà không có hồn thì người đó không thể sống và tồn tại được. Bởi hồn
là nhựa sống và là chỗ dựa tinh thần của thân xác. Giữa hồn và thân xác không
thể tách rời nhau được. Cho nên việc cầu hồn cúng vía là việc làm hết sức
18
quan trọng và cần thiết đối với họ. Ngày nay quan niệm này đã nhạt đi song họ
vẫn tin rằng linh hồn luôn tồn tại .
Đặc điểm ở người Thái Tây Bắc là không có Thần, Thánh mà chỉ gọi
chung là Ma (Phi): Ma cây đa (Phi Co Bả), ma núi, ma rừng (Phi Pu, Phi Pá),
ma sông, suối v.v.Và hồn cũng là một loại ma - Ma hồn (Phi Khuôn), vì hồn
cũng như các loại ma khác mắt thường không nhìn thấy được. Thờ cúng tổ tiên
là một phong tục thể hiện tình cảm và đạo lý truyền thống của người Việt Nam
nó I chung và người Thái Tây Bắc nói riêng. Đó là lòng thành kính biết ơn của
con cháu đối với cha mẹ, ông bà, cụ kỵ đã khuất. Đây là một tín ngưỡng phổ
biến và nổi bật của các tộc người Việt Nam. Tục thờ cúng tổ tiên được thể hiện
qua các nghi lễ cụ thể ở từng tộc người. Đối với người Thái Tây Bắc, họ có nơi
thờ cúng tổ tiên cho toàn tông tộc, dòng họ hay gia đình. Đó có thể là một hòn
đá thiêng, một gốc cây, hay một khu rừng cấm...(ma họ) được thờ ở nơi thờ
chung cho cả dòng họ, Đối với người Thái, thờ cúng tổ tiên thông qua các dịp
làm Hóng (Dệt Hóng). Nghi lễ thờ cúng tổ tiên của người Thái không thực
hiện vào ngày giỗ như của người Việt. Trong những ngày này mọi người phải
giữ yên lặng, không được làm nói to, không được bật loa, đài to. Phận dâu
hoặc con gái đã đi lấy chồng thì không được làm cơm cúng, kiêng đi lại gần
chỗ thờ cúng.
Nghi lễ làm Hóng thường được tổ chức mỗi năm một lần. Trong ngày
làm Hóng, con cháu bao giờ cũng về tề tựu đông đủ để làm lễ cúng ông bà tổ
tiên. Sau lễ cúng, gia chủ sẽ mời bà con con dân bản tham dự bữa cơm thân
mật để hưởng những lễ vật được sử dụng trong lễ cúng. Tục thờ cúng tổ tiên
được phản ánh trong các truyện kể dân gian của người Thái chưa phản ánh
trực tiếp đến nghi lễ thờ cúng mà mới chỉ đề cập đến các hình thức thờ cúng
của người dân. Thờ cúng tổ tiên là cách thể hiện lòng thành kính đối với ông
bà, cha mẹ và những người đã khuất, cũng là biểu hiện của đạo lý “uống nước
nhớ nguồn” của đồng bào Thái.
Đối với những gia đình duy tâm hoặc có người hay ốm đau thì họ
thường làm thêm một ban thờ nhỏ ngoài nhà để thờ cúng ma đói ma khát, ma
lang thang. Vào những ngày mùng một, ngày rằm, hay khi trong nhà có người
ốm đau họ thường thắp hương, bày hoa quả, bánh kẹo để cúng các ma với hi
vọng những hồn ma sẽ không quấy rầy gia đình, phù hộ cho gia đình được
mạnh khỏe, làm ăn thuận lợi.
20
Tiểu kết Chương I:
Người Thái đen cư trú đại đa số ở vùng Tây Bắc, vùng khí hậu nhiệt đới
gió mùa với hai mùa rõ rệt, mùa đông khô hạn, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều.
Đặc điểm khi hậu và đất đai rừng núi đã định hình nên những phương thức sản
xuất truyền thống: Lúa ruộng, lúa nương, săn bắn, hái lượm. Trong đời sống
trong các phong tục của người Thái...Hoả táng là tục lệ đã có từ ngàn xưa của
người Thái đen ở huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Sau khi một người qua đời
thì công tác chuẩn bị cho đám tang là bước đầu tiên, tiếp theo là các nghi lễ,
cuối cùng là an táng. Nghi lễ tang ma và các tập tục liên quan đến tang ma của
người Thái đen ở huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La là một trong những nét văn
hoá của dân tộc, phản ánh quan niệm về tôn giáo tín ngưỡng, tập quán địa
phương và mối quan hệ giữa con người với con người. Em sẽ miêu tả đám
tang theo trình tự thời gian từ khi mất cho tới khi dựng xong nhà mồ cho người
mất và lễ mời người vong hồn mất về nhập vào gia tiên.
2.1.Tổ chức đám tang
2.1.1. Khâu chuẩn bị
Khi trong nhà có người hấp hối sắp tắt thở, người nhà phải gọi trưởng
tộc đến chủ trì, chọn một nhóm dâu, rể đến túc trực, anh em họ hàng đến tập
trung nghe xem người chuẩn bị chết có thể căn dặn được con cháu điều gì
không và theo dõi xem nhịp thở của người sắp mất thế nào.
Sau khi tắt thở, người thân vuốt mắt và đỡ cằm thi hài để khỏi mắt mở,
miệng há... khu vực người chết nằm được quây lại bằng một tấm ri đô bằng
vải.
Người chết được tắm rửa bằng nước thơm và thay quần áo. Nước thơm
dùng để tắm cho người chết thường được đun lên với một ít hoa - lá thơm có
trong gia đình như: hoa bưởi, củ sả, lá hương nhu...Người Thái cho rằng dùng
nước tắm có mùi thơm dịu sẽ có tác dụng khử các mùi hôi tanh cho cơ thể
22
người chết, như thế khi về "Mường Trời" sẽ được sạch sẽ, thơm tho. Việc tắm
rửa cho người chết phải được thực hiện trước khi liệm, do đó nước tắm cần
được chuẩn bị nhanh chóng trước khi thi thể bị lạnh cứng. Nước tắm đun cho
vào miệng, vào tay và khâu vào cổ áo cho người chết. Nếu gia đình có điều
kiện có thể khâu lên mảnh vải căng trên cây nêu (Co Cao) cho người chết hoa
tai và vòng tay bằng bạc, làm như vậy để khi lên trời họ sẽ có chút tiền để tiêu.
Lược dùng để chải đầu khi tắm rửa được chặt đôi ra, một nửa đặt vào gối, cạnh
đầu thi hài, một nửa để vợ hay chồng giữ lại cho đến khi chết thì cho vào liệm
theo như thế, vợ hay chồng cắt ít tóc cho vào cùng nửa chiếc lược. Sau khi đã
thao tác xong các việc trên, người chết được đắp chăn mới, không trùm đầu,
chỉ đắp từ cổ xuống. Tiếp theo, lấy chiếc màn của vợ chồng đang dùng (nếu
góa bụa hay chưa vợ chưa chồng lấy màn bản thân đang nằm) chập hai quai
lại, căng theo dọc dưới xà để trùm kín thi hài. Khi khâm liệm (Cộn Pang) phải
có hai mảnh thổ cẩm lót dọc hai bên sườn của người mất, quần áo buộc dọc
thân. Việc khâm liệm được thực hiện dưới một chiếc xà nhà nếu là đàn ông
trong gia đình thì thi hài được đặt dưới xà nhà gian tiếp giáp với gian để bàn
thờ, phụ nữ và con trẻ ở những gian tiếp theo. Người ta khâm liệm cho người
chết dưới xà ngang giữa hai cột cái trong nhà, (gọi là cột Xau Hẹ). Theo quan
niệm của người Thái đen, ma nhà trú ngụ trên xà ngang đó, khâm liệm ở đây
để ma nhà biết mà đi. Trường hợp chồng đã mất, vợ trở thành chủ gia đình thì
cũng được khâm liệm tại chỗ dưới xà bên gian thờ gia tiên như ông chủ. Nếu
trường hợp con cái chết, ai nằm gian nào thì được khâm liệm dưới xà gian đó.
Trên mái nhà đối diện với nơi đặt người chết, người ta thường dỡ một viên
ngói hoặc lấy ngọn giáo chọc thủng, dựng một cành tre nối ra chỗ thủng đó.
Dưới gầm sàn nơi liệm người chết, người ta dùng đinh đóng xuống. Làm như
vậy, người Thái đen cho rằng họ đã mở cửa đất, cửa trời báo với trời gia đình
có người thân qua đời và mở cửa cho người chết về với tổ tiên.
Chuẩn bị y phục tang lễ
Sau khi thực hiện nghi thức Tức xong, cần có ngay là y phục tang lễ cho
những người ruột thịt mặc và khăn tang cho những người họ hàng đội. Quần áo
tang lễ Xuổng Xửa Tộc dành cho vợ hay chồng cùng các con của người chết
người mất)
Sau khi khâm liệm xong, người thân gào khóc gọi hồn một hồi rồi tất cả
trở lại không khí im lặng để bình tĩnh chuẩn bị mọi công việc. Người Thái đen
quan niệm rằng khóc lúc này người chết sẽ vương vấn phần hồn và không ra đi
thanh thản được... Sau khi đã tiến hành xong xuôi những công việc trên thì tiếp
đến công việc chuẩn bị nghi lễ Tức
25