LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài này, em xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới
Giảng viên Nguyễn Thị Hạnh về sự hướng dẫn tận tình, có hiệu quả của Cô.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tập thể các Bác, các Chú là nghệ nhân, đặc biệt
là Ông Mo Đinh Văn Dầm tại bản Tọ, xã Huy Hạ, huyện Phù Yên đã tạo điều
kiện thuận lợi và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề
tài của mình.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các Thầy cô trong Ban Giám Hiệu nhà
trường, phòng Quan Hệ Quốc Tế đã tạo điều kiện để em được nghiên cứu, học
tập và trau rồi nhiều kiến thức bổ ích.
Em xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô trong khoa Văn Hóa- Du Lịch, và
trong tổ Việt Nam Học đã tạo mọi điều kiện để cho em hoàn thành tốt đề tài
nghiên cứu này.
Mặc dù đã nỗ lực, cố gắng khắc phục mọi khó khăn, nhưng vì điều kiện
học tập và khả năng có hạn, chắc chắn đề tài không tránh khỏi những thiếu sót.
Kính mong sự chỉ bảo của các Thầy, Cô giáo, các bạn sinh viên và những người
quan tâm nghiên cứu khoa học nói chung và lĩnh vực văn hóa của dân tộc
Mường tại xã Huy Hạ nói riêng.
Xin trân trọng cảm ơn ./.
Sơn La, tháng 05 năm 2012
TÁC GIẢ
Sa Thị Thân
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 4
2.3.3. Nghi lễ Mo.......................................................................................................... 27
2.3.4. Lễ chia của cải cho người chết ..................................................................... 28
2.3.5. Lễ cúng trước Mộ ............................................................................................. 28
2.4. Một số nghi lễ diễn ra sau khi đã chôn cất người chết ........................... 28
2.4.1. Lễ làm mát cho cả họ hàng sau khi đi tiễn đưa người chết trở về nhà
chủ………………………………………………………………………………….28
2.4.2 Lễ đóng cửa mộ (giỗ 3 ngày).......................................................................... 29
2.4.3 Tổ chức cúng vía cho người thân của người chết ..................................... 29
2.4.4 Lễ 49 ngày ........................................................................................................... 29
Chương 3. Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy những giá
trị văn hóa trong phong tục Tang ma ......................................................... 31
3.1 Những căn cứ xây dựng giải pháp......................................................... 31
3.2. Một số giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy những giá trị văn hoá truyền
thống của phong tục Tang Ma dân tộc Mường tại huyện Phù Yên................ 31
KẾT LUẬN................................................................................................. 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 35
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Nước ta có 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc đều có những phong tục tập
quán riêng, nhưng tất cả những giá trị văn hóa đó đã tạo nên bản sắc văn hóa
Việt Nam độc đáo được hình thành và gìn giữ qua nhiều thế hệ. Phong tục tập
quán có vai trò rất quan trọng, là tấm gương phản chiếu nền văn hoá cổ truyền
của dân tộc, giúp mỗi chúng ta có thể phân biệt được dân tộc này với dân tộc
khác. Chính vì thế, đất nước Việt Nam tuy nhỏ bé nhưng đã phải trải qua nhiều
cuộc đấu tranh đánh đổi sự hy sinh và xương máu để gìn giữ những giá trị văn
đầu tiên nhằm giới thiệu về đặc trưng văn hóa của người Mường qua phong tục
Tang Ma cho những người quan tâm đến lĩnh vực này. Qua đó đề xuất các giải
pháp thích hợp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống đó.
3. Mục đích nghiên cứu.
- Giới thiệu phong tục Tang Ma của người Mường tại xã Huy Hạ, huyện
Phù Yên, tỉnh Sơn La
- Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa
truyền thống, loại bỏ hủ tục lạc hậu trong phong tục Tang Ma của người Mường
tại xã Huy Hạ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan có chọn lọc các tài liệu lý thuyết về văn hóa.
- Khảo sát thực địa nhằm tìm hiểu, thu thập thông tin tại địa bàn nghiên cứu.
- Đề xuất định hướng, giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa
truyền thống và loại bỏ hủ tục lạc hậu trong phong tục Tang ma của người
Mường tại xã Huy Hạ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài này, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp điền giã
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp mô tả
5
6. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phong tục Tang ma của người Mường
tại xã Huy Hạ ,huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
7. Phạm vi nghiên cứu
Là toàn bộ xã Huy Hạ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
8. Cấu trúc của đề tài.
thống chính trị, kinh tế, tôn giáo, tín ngưỡng...”
Theo UNESCO: “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng
biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội
hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn
chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống
các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng, văn hóa mang lại cho con người
khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những
sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo
lý. Chính nhà văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết
mình là phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét thành tựu của bản thân
tìm tòi không biết mệt, những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình
vượt trội lên bản thân”.
Theo Trần Quốc Vượng: “Văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo, có
từ thuở bình minh của xã hội loài người”.
7
Theo Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật
chất và tinh thần, tĩnh và động, vật thể và phi vật thể… do con người sáng tạo ra
và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường
tự nhiên và xã hội của mình”.
1.1.2. Quan niệm về bản sắc văn hóa
Văn hóa của bất kỳ dân tộc nào trong quá trình hình thành và phát triển
hình thành và phát triển đều tồn tại hai cơ chế: cơ chế thứ nhất có liên quan tới
sự phát triển nội sinh của chính nền văn hóa của dân tộc đó (văn hóa bản địa), đó
là sự chọn lọc, duy trì phát triển và lưu truyền những giá trị văn hóa đích thực
qua các thời kỳ khác nhau của lịch sử, chúng được xem là tinh hoa của nền văn
hóa dân tộc. Cơ chế thứ 2 liên quan tới quá trình giao lưu giữa văn hóa bản địa
với văn hóa khu vực và thế giới( giao lưu văn hóa ), đó là sự hội nhập, dung hòa
(có tính cưỡng bức hoặc tự nguyện) những giá trị văn hóa của dân tộc mình. Đó
năng lực theo những chuẩn mực xã hội đề ra. Văn hóa thực hiện chức năng giáo
dục không chỉ bằng những giá trị đã ổn định là truyền thống văn hóa mà còn cả
những giá trị đang hình thành. Các giá trị này tạo thành một hệ thống chuẩn mực
mà con người hướng tới. Như vậy văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc
hình thành nhân cách ở con người, trong việc trồng người. Với chức năng giáo
dục, văn hóa tạo nên sự phát triển liên tục của lịch sử mỗi dân tộc cũng như lịch
sử nhân loại. Văn hóa duy trì và phát triển bản sắc dân tộc và là cầu nối hữu
nghị gắn bó các dân tộc, gắn kết các thế hệ trong mục tiêu hướng đến cái ChânThiện- Mỹ. Văn hóa là “gien” xã hội di truyền phẩm chất cộng đồng người lại
cho các thế hệ mai sau.
- Chức năng nhận thức: Là chức năng đầu tiên, tồn tại trong mọi hoạt động
văn hóa. Bởi, con người không có nhận thức thì không thể có bất cứ một hành
động văn hóa nào. Nhưng quá trình nhận thức này của con người trong các hoạt
động văn hóa lại được thông qua đặc trưng, đặc thù của văn hóa. Nâng cao trình
độ nhận thức của con người chính là phát huy tiềm năng ở con người.
- Chức năng thẩm mỹ: Cùng với nhu cầu hiểu biết, con người còn có nhu
cầu hưởng thụ, hướng tới cái đẹp. Con người nhào nặn hiện thực theo quy luật
của cái đẹp cho nên văn hóa phải có chức năng này. Nói cách khác văn hóa là sự
sáng tạo của con người theo quy luật của cái đẹp trong đó văn hóa nghệ thuật là
biểu diễn lập trung nhất sự sáng tạo ấy.Với tư cách là khách thể của văn hóa,
9
con người tiếp nhận chức năng này của văn hóa và tự thanh lọc mình theo hướng
vươn tới cái đẹp và khắc phục cái xấu trong mỗi con người.
- Chức năng giải trí: Trong cuộc sống ngoài hoạt động lao động và sáng
tạo, con người còn có nhu cầu giải trí. Các hoạt động văn hóa, câu lạc bộ, bảo
tàng, lễ hội, ca nhạc sẽ đáp ứng được các nhu cầu ấy. Như vậy, sự giải trí bằng
các hoạt động văn hóa bổ ích, cần thiết góp phần giúp con người lao động sáng
tạo có hiệu quả hơn và giúp con người phát triển toàn diện.
- Chức năng dự báo: Con người ngày càng nhận thức ra vai trò chủ thể
vật chất tinh thần của nhân dân từng bước được nâng lên.
Trước kia sản xuất nông nghiệp là hoạt động kinh tế chủ yếu của xã Huy
Hạ. Nền kinh tế tự cung, tự cấp với trình độ canh tác lạc hậu, sản xuất chủ yếu ở
hai hình thức chính: Sản xuất nông nghiệp( lúa nước và nương rẫy) và khai thác
lâm nghiệp, hái lượm, săn bắt. Trong quá trình sản xuất người Thái, Mường sớm
có kinh nghiệm làm mương, phai, guồng dẫn nước để làm dẫn nước, làm ao, hồ
nuôi thả cá... Ngoài ra nhân dân còn trồng các loại cây như: Ngô, khoai, sắn,
bông ,mía...
Thực hiện nghị quyết Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, X ; Nghị quyết
Đảng bộ Sơn La lần thứ XI, XII; Nghị quyết đại hội Đảng bộ huyện lần thứ
XVI, XVII, Đảng bộ, nhân dân các dân tộc xã Huy Hạ vững tin, ra sức đẩy
mạnh sản xuất, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân.
Thời kỳ này, xã Huy Hạ đã nhận được sự quan tâm của Huyện Ủy, Hội
Đồng Nhân Dân, Ủy Ban Nhân Dân xã đã lãnh đạo nhân dân các dân tộc tiếp tục
phát huy mạnh mẽ ý chí tự lực, tự cường, chủ động sáng tạo, tận dụng thời cơ,
vượt qua thách thức, nỗ lực phấn đấu và đạt được những thành tựu nổi bật, tạo
bước để Huy Hạ phát triển trong giai đoạn mới.
Kinh tế tiếp tục phát triển, bình quân 5 năm (2005- 2010) đạt 14%/năm, thu
nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt 6,5 triệu đồng, tăng 1,8 lần so với năm
2005, giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 39% công nghiệp và xây dựng tăng từ
18,8 lên 25%; giá trị dịch vụ- thương mại tăng từ 31% lên 36%. Cơ cấu kinh tế
mới hình thành rõ nét theo hướng sản xuất hàng hóa và công nghiệp hóa, hiện
đại hóa.
Nông- lâm nghiệp tiếp tục chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa, ứng
dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tốc độ tăng trưởng 14,5% tăng
11
so với 2010 là 4.3%. Tổng giá trị sản phẩm 33.532750 đồng. Mở rộng diện tích
cây vụ ba,gieo trồng bằng những loại rau màu các loại là 24,25 ha đạt 80,8%kế
Thực hiện tốt công tác vận động học sinh đến trường và duy trì sĩ số học
sinh đến trường, đến lớp đạt 99,5%. Tổng số học sinh cả 3 bậc học là: 1.145 học
sinh, tăng cường củng cố xây dựng cơ sở vật chất luôn nâng cao chất lượng dạy
và học.
Đến năm 2011 các bản trong xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng
độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Có 1 trường trung học, 1 trường
tiểu học, 1 trường mầm non, mỗi bản có một trường mầm non và nhà trẻ được
xây dựng kiên cố, 3 trường về chất lượng dạy và học đạt tiên tiến cấp huyện trở
lên. Xã đang phấn đấu trường tiểu học được công nhận trường chuẩn Quốc gia .
Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao phát triển rộng khắp, có 87%
số dân được xem truyền hình, 98% số dân được nghe đài.
Công tác bảo vệ chăm sóc cho người dân: Đến năm 2011, 100% số bản có
nhân viên y tế. Công tác dân số gia đình và bảo vệ chăm sóc trẻ em được quan
tâm, nhất là trẻ em ở vùng sâu, vùng xa.
Công tác xây dựng Đảng được quan tâm đúng mức. Thực hiện theo luật tổ
chức Hội Đồng Nhân Dân về công tác chỉ đạo tổng kết Hội Đồng Nhân Dân xã
khóa XVIII nhiệm kỳ 2004- 2011 đồng thời chỉ đạo các cơ sở tổ chức tuyên
truyền công tác bầu cử đại biểu Quốc Hội khóa XIII và Đại biểu HĐND các cấp
nhiệm kỳ 1011- 2016.
*Tiểu kết:
Các nhân tố vị trí địa lý, đặc điểm kinh tế, đặc điểm văn hoá xã hội có tác
động rất lớn đến việc hình thành những phong tục tập quán của dân tộc Mường
tại xã huy Hạ, đặc biệt là phong tục Tang Ma, trong đó đời sống kinh tế chủ yếu
dựa vào nông nghiệp, nên đặc trưng văn hoá chịu tác động sâu sắc vào mỗi b ản
sắc của dân tộc Mường tại xã.
13
14
Làm nương để ăn
Sinh sống như khi còn sống. Không chỉ có như vậy bên đó hồn người chết
còn phải có trách nhiệm làm nên ăn, giàu có để bênh vực phù hợp con cháu ở
bên dương thế.
Giàu bên ma
Ma khả bên mol
Trong cuộc sống mỗi người có một tính nết, cái chết cũng vậy nó cũng
muôn nẻo, đa dạng. Mỗi người chết theo một con đường khác nhau, có người
chết bất đắc kỳ tử, có người chết vì đau ốm, vì sét đánh, vì chết đuối và nhiều
người còn tự tìm đến cái chết. Thật không kể sao cho hết mọi nguyên nhân dẫn
tới cái chết, nhưng tựu chung lại dân gian Mường phân loại chết thành hai loại
cơ bản đó là chết bình thường và chết không bình thường.
Chết bình thường là những người cao tuổi, dù con đường dẫn tới cái chết
như đau ốm, bệnh tật… nhưng tắt thở ngay tại nhà mình, được coi là cái chết
bình thường và đúng quy luật “câyl khá lả păyl”. Những người chết đuối, chết bị
sét đánh, chết vì đâm chém, tắt thở ngoài đường, ngoài chợ, hốc cây… nhìn
chung là tắt thở ở bên ngoài nhà sàn là chết không bình thường, những người
chết trẻ cũng được coi là chết không bình thường cho dù họ có tắt thở ngay
trong ngôi nhà của mình.
Từ quan niệm cho rằng, chết chưa phải là hết và không để cho người chết
“chết suông, đi không” người Mường tổ chức tang lễ để báo hiếu với cha mẹ, trả
ân với người chết và chuẩn bị hành trang, đồ lễ cho người chết sang thế giới
Mường Ma. Về mặt nhân sinh đó là bài thuốc tinh thần để giải tỏa lo lắng, trấn
an người sống, động viên họ chấp nhận tai ương, vững lòng tin vào ngày mai để
an tâm lao động, sản xuất.
2.2 Phần lễ trong nghi thức đưa Tang
Tang lễ cổ truyền của người Mường chủ yếu được diễn ra trong 3 bước
khi trong nhà có người cao tuổi
Nhiều trường hợp khi xảy ra chết,
2
Chuẩn bị chăn, gối, quần, áo
người mới hối hả, gấp rút cắt vài,
may quần áo, chăn, gối, khâm liệm
3
Công việc này làm trước khi người đó
Làm vía cho người sắp chết
chết
Công việc này túy theo từng trường
hợp nhiều người con cháu đã chuẩn bị
4
quan tài sẵn sáng, làm đẹp từ khi còn
Sửa sang quan tài
sống, xong có nhiều trường hợp đột
tử người ta mới chặt cây, đục đẽo
quan tài.
Giá đất, keo dính miết kẽ hở quan
tài
Tắm gội cho thi hài, đặt quan tài lên
đúng vị trí làm tang lễ
Cho người đi đến nhà thầy Mo nhờ
thầy đến làm lễ
Hai việc này thường phân công tiến
Cho người đi nhờ thầy kén và
hành cùng lúc
phường trống
13
Mặc quần áo khâm liệm cho thi hài
14
Cho thi hài nhập quan tài
15
16
Lập bàn thờ hồn người chết phía
trên đầu quan tài
Nghi lễ Mo nhập quan tài thức gọi
Hình thức thể hiện
Ghi chú
chính
1
Chuẩn bị hậu
Xay gạo, bếp núc, mổ lợn,
cần phục vụ
mổ trâu, mổ vịt, nấu
Tang lễ
nướng phục vụ Tang lễ
Mũ mẩn của con gái,
2
Để Tang
Mặc Tang phục, con trai
con dâu của người chết
đội mũ rơm, các con gái,
nước, viết giấy
hành
thông hành…
đêm Mo
Tổ chức đón tiếp
4
người đến phúng
viếng
Nghi lễ
thắp
hương
viếng
Đêm cuối thi hài
còn ở trong nhà
5
toàn bộ con,
cháu ở nhà gọi
hồn người chết
về
những ngày làm Tang lễ
đón tại đó
Chuẩn bị đồ đạc,
những vật dụng
6
mà được sử dụng
hàng ngày của
người chết trước
Bày tất cả các vật dụng ví
Nghi lễ
chia của
cải
khi mất
dụ như quốc, xẻng, bừa,
cày, quần áo của người
chết, chăn màn, dao kéo,
chiếu, nồi niêu, dưới chân
quan tài
Ông Mo và con trai cả của
người mất đi tìm đất đào
Nghi lễ
7
huyệt đến mảnh đất vừa ý,
9
Làm nhà Không
Lộng, nhà Tham
Làm nhà Tham bằng cây
tre, cây bương rắn chắc
dùng đặt quan tài lên trên
khi đưa ma nó được dựng
ở ngoài đường, bên ngoài
ngõ
Nhấc khênh
10
quan tài ra nhà
tham để buộc
cho chắc chắn
Tại đây quan tài được
buộc cố định bên nhà
tham để khi khênh đi trèo
đèo lội suối quan tài
không bị lăn, xê dịch…..
19
Trong đoàn người đưa
ma có một con cháu
cho áo trôi rồi tiếp tục
tài là đoàn phụ nữ đưa ma
vác hai ống nước đưa
vừa đi vừa khóc
tang,lúc quay về con
cháu giặt sạch chiếc áo
đó và mang về bàn thờ
Sau khi ông mo lấy hai
12
Vào trong đống
thanh kiếm vẽ hai
mả người ta cho
đường của hai góc dưới
tháo Không
chân mả,một đường đi
Lộng ra lấy hai
quán, lễ nghi, giỏi đối ngoại, thay mặt cả họ để tiến hành đám Tang. Trong một
đám Tang của người Mường Ông trưởng họ có vai trò rất quan trọng trong việc
tổ chức và điều hành chung xuyên suốt đám Tang.
Sau cuộc họp đó. Trưởng họ tổ chức thành lập ban tổ chức đám Tang gồm:
- Trưởng họ điều hành chung xuyên suốt đám Tang.
- Một người chuyên lo giúp trưởng họ điều hành các thủ tục lễ nghi, thờ
cúng (người này phải là người có kinh nghiệm, người ngoài họ cũng được)
- Một người con cháu trong dòng họ đứng ra chuyên ghi chép những đồ
phúng viếng của anh em, họ hàng, bạn bè, bản mường gần xa…
- Phân ra hai Rể Chầu lấy cháu rể bên Nội và cháu rể bên Ngoại của
người mất (con chú, con bác) chuyên giúp Ông Mo thực hiện các nghi lễ và
phục vụ ăn uống cho Ông Mo và phường Kèn.
- Vài người chuyên quản lý bếp núc lo phần ăn uống cho cả mọi người
trong đám Tang.
- Một người chuyên đón tiếp và cảm ơn khách đến phúng viếng (người
này phải là anh hay chú, bác của người quá cố)
- Một người phụ nữ điều hành số chị em đến giúp đám tang chuyên lo
gạo, nước, củi đuốc, lá chuối lót mâm cơm cho đám tang.
Tất cả những người được phân công trách nhiệm trên phải tuân theo sự
điều hành của trưởng họ. Nếu có gì khó khăn phải báo ngay cho trưởng họ biết
để cùng giải quyết.
Sau khi phân công xong các đầu việc, trưởng họ mới quy định:
- Những ai làm Rể Chầu?
- Số ngày đám Tang là bao lâu? Thống nhất số ngày làm đám Tang rồi
trưởng họ phân bổ bữa ăn cho các con cháu.
- Phân công người đi dạm, mời Ông Mo và phường Kèn
- Nhờ thợ cắt, thêu tấm vải phủ, làm nhà Không lộng…
21
22
bàn cúng, hai rể vái lạy rồi rót rượu xong, đi giật lùi trở lại để cho các con cháu
vào rót rượu (châng nược) hầu người quá cố. Con cháu khi vào rót rượu phải vái
lạy 3 lần rồi rót 3 lần vào chén cho rượu đầy tràn , trước khi ra phải vái lạy 3 lần
nữa mới tiếp tục đến con cháu khác. Cùng lúc ấy khấn mời hồn người chết dung
cỗ con cháu dâng. Trong lúc dâng cỗ, trống kèn đều hòa nhạc, khi cuộc dâng
rượu dứt thì người quản chiêng dóng lên 3 hồi cụt, tiếng trống kèn ngừng, ông
Mo cũng nghỉ uống nước, hút thuốc rồi mới vào đọc văn tế theo thứ tự đã được
quy định. Công việc cuối cùng của ông Mo là tiễn người quá cố ra đến huyệt,
cúng, dặn dò, lấy kiếm vẽ đường đi làm ăn cho người chết và nhập cho hồn thổ
địa. Ông Mo phải có một mâm cơm riêng với chế độ đặc biệt.
Công việc của Rể Chầu
Rể Chầu mặc áo bình thường, rút khăn Tang trên đầu xuống buộc ngang
lưng, vai vác dao nhọn, đứng dưới chân linh cữu khoảng cách 2m, ngồi trên ghế
và đứng trên sàn, dưới gầm ghế đặt con dao nhọn chĩa mũi dao nhọn xuống gầm
sàn. Cứ mỗi bữa ăn Rể bưng mâm cỗ lên đặt vào bàn thờ người quá cố, cầm theo
con dao nhọn đi từng bước, đặt mâm, thắp hương, rót rượu, vái 3 lần rồi đi giật
lùi về vị trí cũ. Nhiệm vụ của 2 rể chầu còn phải chuẩn bị thức ăn cho Ông Mo
và phường Kèn( Rể bên Nội chuẩn bị cho Ông Mo, Rể bên ngoại chuẩn bị cho
phường Kèn).
Vợ hoặc chồng của người mất
Nếu vợ chết người chồng ngồi bên phải phía trên đầu linh cữu.
Nếu chồng chết người vợ ngồi bên trái phía trên đầu linh cữu.
Các con trai, con rể:
Con trai, con rể ngồi bên phải linh cữu, xếp từ con trưởng từ trên đầu
xuống các con thứ, con trai mặc quần áo Tang, đội mũ rơm, lúc chầu hầu bữa
người quá cố thì phải đứng chống gậy. Khi phường kèn tấu nhạc thì bỏ gậy ngồi
úp mặt vào linh cữu mà than khóc.
3. Đồ bằng đá
4. Đồ bằng răng
+ Đồ bằng quả thực vật
+ Một số loại quặng
+ Đồ bằng củ
Khénh
24
Đây là chuông đồng nhỏ có cán cầm người Mường gọi là Khénh. Đay là
công cụ rất quan trọng của Thầy Mo, khénh rung lên tạo âm thanh linh thiêng, là
tiếng chuông của thầy Mo dẫn đường cho hồn người chết khỏi bị lạc đường.
Khénh còn là nhạc cụ chủ như cái gậy chỉ huy của nhạc trưởng để cho phường
kèn trống biết lúc nào biết tấu nhạc trong từng nghi lễ. Khénh của thầy mo có
cán hình chân chim, chuông nhỏ cán cầm dài khoảng 7-10cm, một đầu gắn vào
đỉnh chuông, đầu kia có hình chân chim 3 ngón khum. Mỗi ông mo phải có từ 35 chiếc Khénh.
Gươm, dao đô
Gươm là loại dao nhọn , dài khoảng 40cm. Đây là “đạo cụ” của các ông
mo. Ông mo thường chống kiếm trong lúc đứng tế lễ và một số nghi lễ mo, dung
chấn, đuổi tà ma.
Dao đô là con dao nhỏ được làm bằng sừng hoẵng khâu cạp bạc hoặc
đồng có chạm trổ rất tinh xảo, ông mo dung dao đô để thái ngảil làm thuốc và
mằn hà trong chữa bệnh.
Quạt
Đây là dụng cụ bắt buộc phải có của các ông mo. Họ cho rằng quạt có sức
mạnh có thể quạt đuổi ma quỷ, mang tiếng thầy mo đến mường ma, nên nghề
làm thầy mo đều phải có quạt coi đó là công cụ hành nghề không thể thiếu được.
Quạt của ông Mo là quạt làm bình thường bằng giấy hoặc vải. Số nan quạt phải
là số lẻ và có ít nhất 13 nan trở lên.
Cáo-quẻ xin âm dương