ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐẶNG VĂN NAM
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ LOÀI CÂY NGUYÊN LIỆU
LÀM HƯƠNG CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC TÀY TẠI
XÃ TÂN HỢP - HUYỆN VĂN YÊN - TỈNH YÊN BÁI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Lâm nghiệp
Lớp : K41 - LN
Khoa : Lâm nghiệp
Khoá : 2009 – 2014
Giáo viên hướng dẫn : TS. Trần Công Quân
Giảng viên Khoa Lâm nghiệp – trường ĐHNL Thái Nguyên
Nghip, Trờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tụi ó tin hnh ti
nghiờn cu: Nghiờn cu mt s loi cõy nguyờn liu lm hng ca
ng bo dõn tc Ty ti xó Tõn Hp - huyn Vn Yờn- tnh Yờn Bỏi.
Tụi xin gi li cm n sõu sc ti TS. Trn Cụng Quõn, ngi ó
trc tip hng dn tụi trong quỏ trỡnh thc hin v hon thnh ti.
Trong quỏ trỡnh thc hin ti tụi ó nhn c s giỳp tận tình
ca nhiu thy giáo, cô giáo; bà con nhân dân, chính quyền a phng x&
Tõn Hp v bn bố ng nghip.
Tụi xin by t lũng cm n ti cỏc thy giỏo, cụ giỏo trong khoa Lõm
Nghip, ó nhit tỡnh giỳp trong quỏ trỡnh thc hin ti.
Tụi xin by t lũng cm n ti chớnh quyn a phng v b con
nhõn dõn xó Tõn Hp cùng các đồng nghiệp ó to iu kin giỳp tụi
trong quỏ trỡnh thc hin đề ti ti a phng.
Do trỡnh cũn nhiu hn ch, thi gian có hạn nên ti khụng trỏnh
khi nhiu thiu sút. Kớnh mong đợc s gúp ý, ch bo ca thy cụ giỏo
chuyờn c hon thin hn.
Xin chõn thnh cm n.!
Thỏi Nguyờn, ngy 27 thỏng 05 nm 2014
Sinh viờn
NG VN NAM
3
MỤC LỤC
Phần 1: MỞ ĐẦU 9
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ 9
1.2. Mục đích nghiên cứu 11
1.3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 11
1.4. Ý nghĩa của đề tài 11
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu 11
3.4.2.1. Tính kế thừa 26
3.4.2.2. Chuẩn bị dụng cụ và thu thập tài liệu thứ cấp 26
Phần 4.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
4.1. Thực trạng sử dụng 1 số loài cây rừng dùng làm nguyên liệu sản
xuất Hương 27
4.2. Đặc điểm của một số loài dùng làm nguyên liệu sản xuất Hương 31
4.2.1. Cây Hương bài 31
4.2.1.1. Phân bố và đặc điểm hình thái 32
4.2.1.2. Kỹ thuât tạo giống và chăm sóc 35
4.2.1.3. Kỹ thuật khai thác và sử dụng để làm hương 36
4.2.2. Cây Quế 37
4.2.2.1. Đặc điểm hình thái 38
4.2.2.2 Phân bố 39
4.2.2.3. Kỹ thuật nhân giống, gây trồng 41
4.2.2.4. Khai thác, chế biến và bảo quản 45
4.2.3. Cây thiên niên kiện (sơn thục) 47
4.2.3.1. Đặc điểm hình thái 48
4.2.3.2. Phân bố và đặc điểm sinh học 49
4.2.3.3. Cách trồng và chăm sóc 49
4.2.3.4. Kỹ thuật thu hái và sơ chế 49
4.2.4. Cây Tre 50
2.2.4.1. Đặc điểm hình thái 51
2.2.4.2. Phân bố và đặc điểm sinh thái 51
2.2.4.3. Kỹ thuật chọn tạo giống, trồng và chăm sóc 52
5
4.2.4.4. Kỹ thuật khai thác sử dụng sản xuất chân hương 56
4.3. Tìm hiểu kinh nghiệm và cách chế biến, sản xuất Hương của đồng
7
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 4.1: Kiến thức của người dân địa phương về những loài
cây được làm hương 20
Bảng 4.2: Mức độ xuất hiện của những loài cây ở xã Tân Hợp
qua điều tra kiến thức bản địa 21
Bảng 4.3: Những loài cây chủ yếu dược làm hương ở xã Tân Hợp
qua điều tra kiến thức của người dân bản địa 22
8
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Cây Hương bài 23
Hình 4.2: Bộ rễ cây Hương bài sau 6 tháng trồng 25
Hình 4.3: Hạt cây Hương bài 26
Hình 4.4: Một góc nhỏ đồi quế ở Văn Yên 29
Hình 4.5: Người dân phơi vỏ quế sau khi thu hoạch 39
Hình 4.6: Vỏ quế dược làm sạch phơi khô, bột quế 39
Hình 4.7: Cây thiên niên kiện 40
Hình 4.8:
Thiên niên kiện sau khi thu hoạch
42
Hình 4.9: Cây tre hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt Nam 43
Hình 4.10: Mỗi que hương đều được người dân chăm sóc kỹ càng 50 9
không thể thiếu trong những ngày này.
Những sợi khói nhang cuộn tròn, rồi phảng phất bay đi để lại mùi
hương thoang thoảng, dịu dàng như một sợi dây thiêng liêng gắn kết cuộc
sống con người với đất trời, là cầu nối giữa con người ở trần gian với thần
thánh, ông bà, tổ tiên đang ở cõi vĩnh hằng.
K hói nhang ngày Tết là nét đẹp văn hóa truyền thống không thể thiếu
trong các dịp lễ của Phật giáo, hoặc các dịp chạp giỗ, lễ Tết, đám ma Có
thể khẳng định, nhang đã len lỏi vào tận hang cùng ngõ ngách của đời sống
và có một vị trí quan trọng trong cuộc sống của người Việt Nam. Cây
nhang, nén hương như chiếc cầu nối thiêng liêng giữa con người với cõi
tâm linh, trời đất, thậm chí còn lan rộng đến một số nước ở châu Á và cộng
đồng người Việt sống ở châu Âu cũng như toàn thế giới. Những ngày cuối
năm, các gia đình khi đi mua sắm các thứ lễ vật để chuẩn bị cho ngày Tết,
hầu như ai cũng mua những hộp nhang, hương thơm về cúng Phật, cúng
ông bà Tổ tiên của mình. Khi vào thời khắc giao thừa, lúc giao hòa giữa
năm cũ và năm mới, giữa trời và đất. Cả dân tộc Việt Nam đón chào hân
hoan, cầu mong gia đạo bình an, đời sống thịnh vượng hạnh phúc và một
năm làm ăn phát tài phát lộc.
Tuy nhiên, trên thị trường hiện nay có rất nhiều loại hương được
người dân sử dụng có nguồn gốc khác nhau, với nguyên liệu tạo ra đặc
trưng của từng vùng, miền mà tạo ra mùi hương khói riêng biệt, được
người dân ở đó và các khu vực xung quanh ưa chuộng, tin dùng tạo nên
một thói quen sử dụng những sản phẩm chính nơi họ tạo ra.
Vì vậy, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số loài cây
nguyên liệu làm hương của đồng bào dân tộc Tày tại xã Tân Hợp -
huyện Văn Yên - tỉnh Yên Bái” nhằm nghiên cứu và bảo vệ nghề làm
11
hương, giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc Tày tại xã Tân
Hợp, huyện Văn Yên , tỉnh Yên Bái.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Thấy được vai trò của lâm sản ngoài gỗ (LSNG) đối với các nước
đang phát triển nhất là các nước vùng nhiệt đới, nhiều tổ chức quốc tế đã
tiến hành nhiều dự án nhằm làm rõ vai trò của LSNG, các chính sách liên
quan.
Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp đặt tại Indonesia (CIFOR) đã chú
trọng nhiều về LSNG. Trung tâm đã đề ra phương pháp phân tích với lâm
sản thương mại thế giới. Trung tâm quốc tế về nông lâm kết hợp (ICRAF)
đã và đang thực hiện làm thế nào để sản xuất, nâng cao chất lượng của cây
rừng có nhiều tiềm năng. Tổ chức lương thực và nông nghiệp của Liên hợp
quốc (FAO) và trung tâm đào tạo vùng lâm nghiệp cộng đồng (RECOFTC)
cũng có nhiều nghiên cứu về LSNG trong đó cách tiếp cận về phương pháp
luận về “từ sản xuất đến hệ thống tiêu thụ” coi nhiệm vụ của rừng là sản
xuất cần thiết cho cung cấp bền vững, phân phối thu nhập, đảm bảo thị
trường và chính sách thị trường định chế. Trên thế giới cộng đồng quốc tế,
có nhiều nghiên cứu nhằm nỗ lực làm thay đổi tài nguyên rừng vào đầu
những năm 1980. Một chiến lược bảo tồn mới được hình thành và khẳng
định tính ưu việt của nó. Đó là liên kết quản lý bảo tồn thiên nhiên và vườn
quốc gia với các họat động sinh kế của các cộng đồng địa phương, cần thiết
có sự tham gia bình đẳng của các cộng đồng, trên cơ sở tôn trọng nền văn
hóa trong quá trình xây dựng các quyết định. Một dự án đã được thử
nghiệm với tên gọi: “ quản lý rừng bền vững thông qua sự cộng tác” thực
hiện tại Pu kheio Wildife Santuary, Tỉnh Chaiyaphum ở miền Đông Bắc
Thái Lan. Kết quả chỉ rằng “Điều căn bản để quản lý bền vững tài nguyên
13
là phải thu hút sự tham gia của các bên liên quan và đặc biệt là bao gồm cả
phát triển cộng đồng địa phương bằng các họat động thu nhập của họ”.
LSNG không những góp phần quan trọng về kinh tế xã hội mà còn có
giá trị lớn đối với sự giàu có của hệ sinh thái và sự đa dạng sinh học của
rừng. Đã từ lâu, LSNG được sử dụng đa mục đích trong nhiều lĩnh vực của
đời sống xã hội như làm dược liệu, đồ trang sức, đồ gia dụng, hàng thủ
mọi người Châu Á đều tin rằng nén hương khi đốt lên, cũng như một nhịp
cầu vô hình nối kết hai thế giới hữu hình và vô hình với nhau. Tuy nhiên về
mặt tâm linh, có người vẫn còn hiểu một cách mơ hồ, nhất là về ý nghĩa
dâng hương theo truyền thống của ông bà. Thậm chí ngày nay có người còn
không biết vì sao trong nhà mình có một bàn thờ với những pho tượng,
hình ảnh Chư Phật Bồ Tát, thần thánh hoặc tổ tiên. Phải chăng có một
“ông” Phật sống ở trên bàn thờ ?
Theo Pháp sư Tịnh Không về Đốt hương thì hương đại biểu cho
hương tín, đây là một tín hiệu mà người xưa đã dùng rất rộng rãi. Rõ ràng
nhất, nơi Vạn lý trường thành chúng ta thấy cách một đoạn có một phong
hỏa đài, phong hỏa đài là đài truyền tin gấp rút. Phong hỏa đài giống như
cái lò hương. Người ta dùng lửa đốt phân sói, mật độ của khói phân sói
không giống như khói khác, gió không thể thổi tan và duy trì lâu. Ở xa
trông thấy chỗ có khói thì biết rằng chỗ kia có biến cố, đây là cách
truyền tin gấp của người xưa. Việc đốt hương để truyền tin gấp đến chư
Phật và Bồ tát khiến cảm ứng đạo giao cũng xuất phát từ ý niệm truyền tin
kiểu này.
Đạo Phật đã được truyền bá vào Việt Nam từ những thế kỷ trước
công nguyên, văn hóa Phật giáo hòa quyện cùng văn hóa bản địa đã tạo ra
một văn hóa tín ngưỡng rất đặc thù. Tập tục dâng hương theo quan điểm
của Phật giáo, Hương thắp lên vừa đạt được ý nguyện tâm linh dâng mùi
15
thơm và chuyển lời cầu nguyện lên ngôi Tam bảo chứng minh, vừa để biểu
hiện chính tâm hướng tới điều thiện.
Khi đốt hương cúng Phật chúng ta thường đọc những câu mật ngữ
như: Hương Yên khiết thể, thông xuất tam giới, ngũ uẩn thanh tịnh, tam
độc liễu nhiên. Trong lúc cầm ba nén nhang vị chủ lễ xướng to bài kệ: Thử
nhất biện hương, bất tùng thiên giáng, phi thuộc địa sanh. Lưỡng nghi vị
phán chi tiên, căn nguyên sung tắc tam giới, nhứt khí tài phân chi hậu. Chi
diệp biến mãn thập phương. Siêu nhật nguyệt chi quang hoa, hàm sơn
từ Phạn ngữ là mộc đề, mộc xoa nghĩa là rời bỏ mọi sự trói buộc mà được
tự tại, cởi bỏ sự trói buộc của hoặc nghiệp, thoát ra khỏi khổ quả của tam
giới. Theo từ điển tiếng Việt của Minh Tân - Thanh Nghị - Xuân Lãm do
viện ngôn ngữ Việt Nam ấn hành định nghĩa từ giải thoát như sau: 1) làm
cho thoát khỏi sự giam hãm, ràng buộc hay bế tắc, giải thoát được những ý
nghĩ nặng nề. 2) thoát khỏi mọi điều đau khổ trên cuộc đời. Muốn được
giải thoát ta phải vâng lời Phật dạy tu tập theo tam vô lậu học. Nhân giới
sanh định, nhân định phát huệ. Bởi vì Giới Định Huệ là 3 môn học chi phối
toàn bộ giáo pháp giải thoát của Đức Phật và luôn luôn đòi hỏi ở năng lực
hành trì thâm hậu của tất cả Phật tử chúng ta. Làm được điều đó tâm hồn
chúng ta sẽ phơi phới hạnh phúc, tràn đầy niềm vui và đem lai sự an lạc
giải thoát đến với mọi người. Đây là ý nghĩa Giải Thoát hương.
Giải Thoát Tri Kiến Hương: Tri kiến là sự nhận định, nhận thức của
con người. Ở đời có những sự kiện xảy ra thường không đúng sự thật vì
chủ quan con người ấn định. Cùng một sự kiện, nhưng quan niệm của mỗi
người nhận định mỗi khác, đó là do chủ quan của con người. Do sự thương
ghét của chúng ta tác động vào sự tin tưởng của chúng ta cho nên khi bị
cảm giác kích động con người sanh ra chủ quan, mà chủ quan theo danh từ
17
Phật học gọi là tri kiến hay kiến trược. Khi đã bị chủ quan thì không bao
giờ có nhận xét đúng. Bởi vậy, người ta phải tránh chủ quan, bởi vì chủ
quan là nguồn gốc lôi kéo chúng ta đi vào những nhận xét sai lệch. Nên
tránh được chủ quan cũng chính là giải thoát tri kiến thì ta sẽ trở thành một
người đức hạnh gọi là giải thoát tri kiến hương.
Có nhiều người thắc mắc Tại sao thắp hương lại dùng những con
số lẻ nén nhang 1,3,5,7, 9 v.v Thường thì 3 nén nhang và 2 bàn tay luôn
luôn chắp lại và miệng thì lâm râm thầm khấn nguyện? Phải chăng số lẻ là
con số tượng trưng cho sự linh thiêng, tượng trưng cho trời vì chiếu theo
luật cơ -ngẫu của dịch lý thì số lẻ thuộc Dương, số chẵn thuộc Âm. Dương
tượng trưng cho trời, cho sự linh thiêng, cho vô hình, cho sự trong sạch
lợi ích cho mình trong việc tu tạo bản thân và giáo dục con em của mình trở
thành những con người tài đức vẹn toàn để cống hiến và xây dựng một xã
hội văn minh và hạnh phúc.
Ngày nay, trong xu thế hướng về nguồn cội để giữ gìn và phát huy
những truyền thống bản sắc văn hóa của dân tộc thì tập tục dâng hương lại
là một trong những đề tài hướng đến Chân Thiện Mỹ để chúng ta suy gẫm
và phát huy nhiều hơn nữa những giá trị văn hóa tâm linh cao quý này.
2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước
2.2.1. Những nghiên cứu về hương sử dụng trên thế giới
Nghi thức dâng hương là tập quán mà hầu như mọi người dân châu Á
bất kể lứa tuổi nào và sống ở nơi đâu đều biết đến. Nén hương đã đi vào
đời sống văn hóa, tín ngưỡng như một nét đẹp truyền thống, gần gũi và
thiêng liêng.
Để tìm hiểu sâu hơn về lịch sử của việc sử dụng hương nhang. Từ
buổi sơ khai, con người đã thấy rằng khi ngọn lửa cháy lên với một vật liệu
dùng để đốt sẽ tỏa một mùi đặc trưng. Khi đốt hương, khói hương nghi
19
ngút tạo nên không khí thanh tịnh, ấm áp và trang nghiêm. Theo lịch sử ghi
lại, việc đốt nhang bắt nguồn từ khoảng năm 3700 BC (cách đây khoảng
5700 năm), từ nước Ấn Độ. Đến năm 618 AD vào đời nhà Tần mới có một
vị Tăng đem hương trầm qua Trung Quốc, từ đó hình thức đốt nhang được
phát triển mạnh mẽ và hưng thịnh nhất vào đời nhà Minh, sau đó được phổ
biến đến khắp các nước láng giềng. Có thể nói hình thức đốt hương phổ
biến nhất ở Nhật Bản, tại đây họ lại chế thêm nhiều cách đốt hương; sản
phẩm quen thuộc nhất là nén trầm hình tròn đầu nhọn vào thế kỉ 17, ngày
nay vẫn còn dùng. Nhiều tài liệu cho thấy việc đốt nhang đã có từ thời sơ
khai. Trong các đền thờ của vua chúa Ai Cập (Ancient Egypt) có rất nhiều
những hình vẽ hoặc hình chạm trên tượng mô tả nghi thức này. Ngày này
việc đốt nhang đã trở thành một tập quán trong các ngày lễ hội như Rằm
tháng bảy, lễ Vu Lan, Vía quan Thế Âm, ngày tết hái lộc đầu năm, Phật
hương là nét văn hóa rất đẹp trong nghi lễ thiền môn.
Ngày xưa, Lý Thường Kiệt với lời Tuyên Ngôn: Nam Quốc Sơn Hà
Nam Đế Cư đã từng “mượn” y linh của đền thờ Trương Hống, Trương Hát
mà khích lệ ba quân tướng sĩ, Chính sử và Dả sử còn ghi lại những hiện
“âm phù”, “báo mộng” của các Thần linh đối với vua chúa đem quân đi
chống giặc. Tín ngưỡng niềm tin ấy một khi được giải tỏa nó đã từng có
những tác dụng không nhỏ trong cuộc sống của con người, nhiều khi có tác
dụng làm lay động cả một cộng đồng.
Theo Phan Kế Bính “Việt Nam phong tục, 1915” đốt hương xuất phát
từ Tây Vức. Đốt hương nghĩa là cầu cho quỷ thần giáng cách. Khi xưa tục
Tàu tế tôn Miếu chỉ dùng cỏ tiêu (cỏ thơm) trộm với mỡ đốt cho thơm. Đến
đời vua Vũ đế nhà Hán, Sai tướng sang đánh nước Hồn Gia (xứ Tây Vức)
Vua nước ấy đầu hàng, dâng một thân tượng bằng vàng, Vua Vũ Đế đem
21
tượng về đặc trong cung Cam Toàn để dâng hương Tế lễ. Kể từ đó Tàu mới
có tục đốt hương.
2.3. Tổng quan điều kiện TN – KT và XH khu vực nghiên cứu
2.3.1. Vị trí địa lý
Xã Tân Hợp cách trung tâm huyện Văn Yên 15 km về phía Tây, xã
ranh giới hành chính giáp với nhiều xã cụ thể như sau:
- Phía Bắc giáp xã An Thịnh
- Phía Nam giáp xó Đông An
- Phía Đông giáp xã Đại Sơn
- Phía Tây giáp Thị Trấn Mậu A
Xã có diện tích tự nhiên là 16.098,00 ha, chiếm 25% diện tích tự nhiên
toàn huyện; diện tích đất lâm nghiệp của xã là 13.452,94 ha, chiếm 83,56%
diện tích tự nhiên của xã. Diện tích đất có rừng là: 5.440,87 ha, trong đó
rừng tự nhiên: 4945,35 ha; rừng trồng: 494,52 ha, độ che phủ rừng trên địa
bàn xã là 33,80% (Theo báo cáo số liệu diễn rừng ngày 31/12/2010).
2.1.2. Địa hình
0
C, làm cho cây cối chết khô tạo ra một
lượng lớn cành khô lá rụng. Do bị che chắn bởi cánh cung An Thịnh nên có
lượng mưa trung bình từ 820-1000mm/năm.
- Độ ẩm không khí trung bình của khu vực là 84%. Trong các tháng
01 và tháng 12 lượng mưa lượng mưa thấp hơn lượng bốc hơi nước nhiều
lần đây là nguyên nhân chính gây ra khô hạn.
2.1.5. Đặc điểm tài nguyên rừng khu vực nghiên cứu
Theo số liệu thống kê diễn biến rừng năm 2010, xã Tân Hợp có tổng
diện tích rừng là 5.440,87 ha, chủ yếu là rừng tự nhiên với 4.945,35 ha
chiếm 89,99% tổng diện tích rừng của xã. Trong đó trạng thái IIa là 2.845,0
ha, IIb 1.911,02 ha, hai trạng thái này là rừng mới tái sinh phục hồi sau
canh tác nương rẫy các loài cây tiên phong, sinh trưởng phát triển nhanh do
vậy thảm thực bì rất dầy, tập trung ở các thôn: Làng Lớn, Đá mốc, Pù áng,
Ma Nòn; trạng thái IIIa có diện tích là 189.33 ha, đây là những khu rừng
nghèo còn sót lai ở những đỉnh núi cao, tập chung ở khu vực thuộc thôn
Khuổi Bin, thôn Làng Lớn và thôn Đá mốc. Rừng trồng: 494,52 ha, chiếm
10,01%, tập trung ở các thôn vùng thấp gần trung tâm xã như Bằng lãng,
Khuôn Pì được đầu tư trồng từ nguồn vốn của các dự án 327, 661, Pam, dự
án định canh định cư. Toàn bộ diện tích rừng trồng trên địa bàn xã là rừng
keo đang ở giai đoạn rừng non.
23
2.2. Đặc điểm về dân sinh-kinh tế-xã hội
2.2.1. Dân sinh
Tân Hợp là một xã miền núi có 4 dân tộc anh em (Tày, Kinh, Nùng,
Dao) cùng làm ăn sinh sống trên địa bàn 15 thôn, bản. Có tổng số hộ là 623
hộ với 3075 nhân khẩu (Bình quân 5 khẩu/hộ), trongđó :
- Dân tộc Kinh 1.476 người, chiếm 48.0%
- Dân tộc Tày: 1.184 người, chiếm 38.5%
- Dân tộc Dao: 231 người, chiếm 7.5%
đi lại rất khó khăn nhất là các thôn vùng cao, vùng sâu, vùng xa chủ yếu là
đi bộ. Đây là một rào cản trong việc phát triển kinh tế của địa phương.
- Thuỷ lợi: Hệ thống thuỷ lợi của xã kém phát triển, cả xã chỉ có 3
công trình mương phai lớn kiên cố, còn lại chủ yếu là nhỏ lẻ mương máng
tạm thời do dân tự đắp, không đảm bảo cho nhu cầu sản xuất, một phần
diện tích gieo cấy vẫn phụ thuộc vào thiên nhiên.
- Thông tin liên lạc: Mạng lưới thông tin liên lạc đã được đầu tư xây
dựng, kết nối mạng điện thoại di động và cố định ở trung tâm xã và một số
thôn. Xã có 01 trạm tiếp sóng phát thanh truyền hình đặt ở khu vực trung
tâm xã, phục vụ tiếp sóng đài phát thanh truyền hình Trung ương và địa
phương cho các thôn vùng thấp.