Điều tra thành phần loài cây làm thuốc của đồng bào dân tộc Thái ở xã Thanh Lâm, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa - Pdf 31

1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, Việt Nam được đánh giá là nước
đứng thứ 16 trên thế giới về sự phong phú, đa dạng sinh vật với số loài thực
vật bậc cao có mạch ở nước ta hiện có tới 10.386 loài thuộc 2.257 chi và 305
họ, chiếm 4% tổng số loài,15% tổng số chi và 57% tổng số họ của toàn thế
giới [28]. Ở nước ta nguồn tài nguyên cây làm thuốc chiếm khoảng 30% trong
tổng số loài thực vật bậc cao có mạch, được thế giới đánh giá cao về sự phong
phú, ý nghĩa thực tiễn, giá trị khoa học cũng như kinh tế của nguồn tài nguyên
cây thuốc Việt Nam nói chung và trong các cộng đồng dân tộc thiểu số nói
riêng.
Thực vật không chỉ với vai trò là lá phổi xanh khổng lồ điều hòa khí hậu,
là khâu quan trọng trong chu trình tuần hoàn vật chất của tự nhiên, thảm thực
vật rừng còn là nguồn tài nguyên vô giá cung cấp nguyên liệu cho ngành công
nghiệp (gỗ, giấy, dệt…) là thức ăn cho động vật nói chung, đặc biệt là nguồn
dược liệu quý giá đối với việc bảo vệ sức khỏe cho con người. Lịch sử phát
triển và tiến hoá của loài người gắn liền với việc sử dụng tài nguyên thiên
nhiên, trong đó cây cỏ được con người sử dụng đầu tiên để phục vụ cuộc
sống. Qua thời gian các kiến thức chữa bệnh bằng cây cỏ được lưu truyền từ
đời này qua đời khác, đã tạo nên kho tàng tri thức về y học cổ truyền cho
nhân loại.
Đảng ta chủ trương đề ra đường lối phát triển nền y dược học Việt Nam
là kết hợp y dược học hiện đại và y dược học cổ truyền, nhằm xây dựng nền y
dược học dân tộc. Nhờ đó mà dược liệu Việt Nam đang được quan tâm chú ý
phục vụ cho việc phòng, chữa bệnh. Ngày nay, dược liệu làm từ thực vật ngày
càng được ưa chuộng bởi những ưu điểm: vừa đáp ứng được nhu cầu người
bệnh, có tác dụng chữa bệnh tốt lại rẻ tiền, việc sử dụng tương đối dễ dàng và
đặc biệt là ít gây tác dụng phụ cho người bệnh. Những tính năng ưu việt trên




3
- Xây dựng danh lục các loài cây thuốc và đánh giá tính đa dạng nguồn
tài nguyên cây thuốc tại địa bàn nghiên cứu.
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc trên thế giới
Lịch sử nghiên cứu cây cỏ để sử dụng chúng làm các vị thuốc đã xuất
hiện cách đây hàng nghìn năm trước. Nhiều nước trên thế giới cũng như ở
nước ta đã chú ý sử dụng cây thuốc trong phòng và chữa bệnh, đặc biệt phát
triển rộng rãi ở các nước phương Đông. Tài liệu cổ về cây thuốc hiện còn lại
không nhiều, tuy nhiên có thể coi năm 2838 trước Công nguyên (TCN) là
năm hình thành bộ môn nghiên cứu cây thuốc và dược liệu. Cũng vào năm
này, Thần Nông viết cuốn: "Bản thảo đầu tiên" đã ghi chép 365 vị thuốc, đây
là bộ sách cổ nhất của Đông y [Theo 28].
Nhiều thế kỷ TCN người Hy Lạp đã biết trồng và sử dụng cây làm thuốc.
Thời Ai Cập cổ đại người ta đã sử dụng cây Lô hội (Aloe barbadensis) để
chữa trị vết thương cho các chiến binh [18].
Năm 79 - 23 (TCN), nhà tự nhiên học người La Mã: Plinus soạn thảo bộ
sách: "Vạn vật học" gồm 37 tập giới thiệu 1000 loài cây có ích.
Năm 60 - 20 (TCN), Thầy thuốc Dioscorides người Hy Lạp giới thiệu
600 loài cây cỏ chủ yếu để chữa bệnh. Đồng thời, ông cũng là người đặt nền
móng cho nền y dược học [Theo 7].
Trong đời sống hằng ngày các thổ dân da đỏ ở Trung Mỹ đã dùng một
số loại cây cỏ để trị các chứng viêm, sưng và làm thuốc trường thọ, người Ai
Cập cổ và người La Mã thường sử dụng loài Cúc (Chamomile recutita) đắp
lên vết thương cho chóng lành sẹo; việc dùng Tỏi (Allium sativan) làm thuốc
cũng đã có hàng ngàn năm trước đây, người Ai Cập khi xây dựng các kim tự
tháp ăn rất nhiều Tỏi để tăng cường sức lực chống lại bệnh tật, các binh sĩ ăn
nhiều tỏi để lấy dũng khí trước khi ra trận [9],[27]. Nhân dân Trung Quốc
dùng Tỏi để chữa bệnh đau màng óc và xơ vữa động mạch, chữa huyết áp cao

tinh dầu đáng kể [26].


5
Người Ấn Độ dùng lá cây Me rừng (Phyllanthus emblica L.) làm thuốc
mát lợi tiểu, nhuận tràng, ngoài ra người ta còn dùng quả Me rừng khô để trị
sốt xuất huyết, tiêu chảy, lỵ, nước lên men của quả Me rừng dùng để trị bệnh
vàng da, trị ho và ở Thái Lan quả Me rừng cũng được chế biến thành thuốc
chữa long đờm, hạ nhiệt, lợi tiểu [8], [10], [26].
Ở Malayxia người ta dùng cây Mùi tàu (Eryngium foetidum) phối hợp
với cam thảo làm thuốc lợi tiểu, chữa rối loạn tiêu hoá, ỉa chảy, giải độc, trị
phong thấp [10].
Ở Trung Mỹ từ lâu người Haiti và Dominic thường dùng cây cỏ Lào
(Chromolaena odorata (L) R.King et H.Rob.) để chữa vết thương nhiễm
khuẩn, chữa cầm máu, trị vết loét lâu ngày không liền sẹo [19] ,[30]. Ở Cuba
người ta dùng bột Papain lấy từ mủ cây Đu đủ (Carica papaya L.) kích thích
tổ chức cơ, trị vết thương mau lành. Ở Pêru người ta lấy hạt cây này để chữa
viêm bàng quang, viêm phế quản và đã chiết xuất được chất tromalit có tác
dụng kháng khuẩn cao [18].
Theo Y học Trung Quốc cây Lấu (Psychotria rubra Lour) dùng toàn
thân giã nhỏ chữa gãy xương, chữa tiêu sưng, mụt nhọt [26]. Trong cuốn sách
“Cây thuốc Trung Quốc” xuất bản năm 1985 đã liệt kê một loạt các cây cỏ
làm thuốc chữa bệnh như rễ cây Gấc (Momordica cochinesis) để chữa nhọt
độc, viêm tuyến hạch, hạt gấc trị sưng tấy đau khớp, chữa vết thương tụ máu
[10],[29]. Các nhà khoa học công nhận rằng tất cả các loài cây đều có tính
kháng khuẩn, tác dụng kháng khuẩn của các hợp chất tự nhiên thường gặp
trong cây cỏ là Phelnolic, Antoxian, các dẫn xuất của Quinon, Ancaloid,
Heterosid. Trong quá trình nghiên cứu các hoạt chất hoá học thực vật người ta
đã biết được trong cây thuốc có các thành phần vô cơ như các muối Kali,
Canxi, các chất hữu cơ có Acid silixic, các Acid hữu cơ có Glucosit, Tamin,

nhập khẩu thảo dược tăng từ 21.000 tấn (năm 1979) lên 22.640 tấn (năm
1980) tương đương 50 triệu USD, ở Mỹ đạt 4,5% tổng giá trị GDP (tương
đương 75 triệu USD) thu được từ cây hoang dại làm thuốc, Theo Alan
Hamilton (một chuyên gia thực vật) cho biết thị trường thuốc thảo dược ở Bắc
Mỹ và Châu Âu trong thập kỷ qua tăng 10% [15]. Điều này chứng tỏ ở các


7
nước công ngiệp phát triển, cây thuốc phục vụ cho Y học cổ truyền phát triển
nhanh, mạnh, cây thuốc là loài cây cung cấp nhiều hoạt chất có giá trị chữa
bệnh, bảo vệ sức khoẻ cho con người.
Như vậy, thế giới thực vật vô cùng phong phú và đa dạng đem lại nhiều
nguồn lợi cho con người nhất là trong việc chữa bệnh. Những công trình
nghiên cứu về dược liệu đã có từ lâu đời, hình thành phát triển cùng với tiến
trình lịch sử của nhân loại. Tuy nhiên, do sự hạn chế của trình độ khoa học
đương thời nên những công trình này chỉ dừng lại ở mức độ mô tả, thống kê
và chỉ ra công dụng của chúng, chưa có cơ sở khoa học để chứng minh thành
phần hóa học của chúng có tồn tại trong đó và tham gia vào việc chữa bệnh
như thế nào. Chỉ đến khi khoa học kỹ thuật phát triển thì vấn đề này mới được
làm sáng tỏ tạo độ tin cậy đối với người bệnh khi sử dụng.
1.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam
Ở nước ta tập quán sử dụng cây cỏ làm thuốc đã có từ lâu đời. Dưới thời
các vua Hùng, nhân dân ta đã biết sử dụng hành, tỏi, gừng, riềng,.. làm gia vị
trong những bữa ăn hàng ngày.
Thế kỷ XI (TCN), nhân dân ta có tục ăn trầu cho ấm người, thơm
miệng, uống nước chè xanh cho mát, nụ vối cho dễ tiêu,... Điều đó nói lên
những hiểu biết về dinh dưỡng và sử dụng thuốc của dân tộc.
Thế kỷ II (TCN), hàng trăm loại thuốc đã được phát hiện như: sắn dây,
khoai lang, mơ, quýt,...và trong thời kỳ Bắc thuộc, nhiều vị thuốc của ta đã
được xuất sang Trung Quốc.

nhiều sách thuốc. Trong 10 năm khổ công tìm tòi nghiên cứu, ông đã viết bộ
“Y tôn tâm lĩnh” gồm 66 quyển đề cập tới nhiều vấn đề y dược như: “Y huấn
cách ngôn”, “Y lý thân nhân”, “Lý ngôn phụ chính”, “Y nghiệp thần chương”
xuất bản năm 1772. Trong bộ sách này ngoài sự kế thừa “Nam dược thần
hiệu” của Tuệ Tĩnh ông còn bổ sung thêm 329 vị thuốc mới. Trong quyển
“Lĩnh nam bản thoản”. Ông đã tổng hợp được 2854 bài thuốc chữa bệnh bằng
kinh nghiệm dân gian. Mặt khác ông mở trường đào tạo y sinh, truyền bá tư
tưởng và hiểu biết của mình về y học. Do vậy Lãn Ông được mệnh danh là
“ông tổ” sáng lập ra nghề thuốc Viêt Nam. Cùng thời với Hải Thượng Lãn
Ông còn có hai trạng nguyên là Nguyễn Nho và Ngô Văn Tĩnh đã biên soạn
bộ “Vạn phương tập nghiêm” gồm 8 quyển xuất bản năm 1763 [13].
Triều Tây Sơn (1788 - 1808) Nguyễn Hoành đã để lại tập "Nam dược"
với 620 vị thuốc, với các phương thuốc kinh nghiệm gia truyền. Đến thời
Triều Nguyễn (1802 - 1845), Nguyễn Quang Lương viết về phương thuốc
dân gian trong cuốn "Nam dược tập nghiệm quốc âm"


9
Trong thời Pháp thuộc (1848 - 1945), nhiều nhà thực vật học người
Pháp và người Việt góp công nghiên cứu cây thuốc Việt Nam như bộ "Trung
Việt dược tính hợp biên" của Đinh Nho Chân với 1600 vị thuốc Nam Bắc.
Công trình nghiên cứu của Ch.Crevost và A.Petelote (1917), đã nghiên cứu và
công bố kết quả điều tra về tài nguyên thực vật ở Việt Nam và Đông Dương.
Năm 1954, A.Petelote đã xuất bản bộ sách: "Những cây thuốc của
Campuchia, Lào, và Việt Nam" gồm 4 tập [Theo 14].
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, y dược học cổ truyền đạt được những
thành tựu to lớn. Dưới sự lãnh đạo của Bộ y tế cùng y học hiện đại, sức khỏe
của người dân được quan tâm và khuyến khích công tác điều tra và nghiên
cứu nguồn cây thuốc.Vì vậy, sau khi nước nhà thống nhất việc nghiên cứu cây
thuốc ở nước ta được quan tâm nhiều hơn. Có nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu,

họ, 101 bộ [2],[3]. Võ Văn Chi (1976), trong luận văn PTS của mình đã thống
kê được 1360 loài cây thuốc 192 họ trong ngành hạt kín ở miền Bắc. Đến năm
1991, trong báo cáo tham gia hội thảo quốc gia về cây thuốc lần thứ 2 tại
thành phố Hồ Chí Minh Ông giới thiệu 2280 loài thuộc 254 họ. Năm 1996 Võ
Văn Chi xuất bản quyển “Từ điển cây thuốc Việt Nam” đã mô tả kỹ 3200 cây
thuốc của Việt Nam [7], ngoài ra Ông còn nghiên cứu cây thuốc cho nhiều địa
phương khác trong cả nước như “Hệ cây thuốc Lâm Đồng” (1982), “Hệ cây
thuốc Tây Nguyên” (1985) [8],[9]. Vương Thừa Ân (1995) xuất bản cuốn “Cây
thuốc quanh ta” [1]; “Cây thuốc trong trường học” của Ngô Trực Nhã (1985).
Viện Dược liệu với cuốn “Tài Nguyên Cây thuốc Việt Nam”. Trần Đình Lý và
cộng sự (1995) với công trình “1900 loài cây có ích ở Việt Nam” [27]. Nguyễn
Nghĩa Thìn (1994), với công trình nghiên cứu cây thuốc ở Lâm Sơn – Lương
Sơn – Hà Sơn Bình đã giới thiệu 112 loài thuộc 50 họ [Theo 18], [30].
Ngoài điều tra tài nguyên các loài cây thuốc thì công tác chiết xuất các
hoạt chất hoá học từ cây thuốc cũng được đẩy mạnh, như chiết xuất hoạt chất
Taxol từ các loài Thông đỏ (Taxus spp.) ở Đà Lạt có giá trị chữa trị ung thư,
các nhà khoa học Việt Nam đã chiết xuất thành công chất Rutin, Troxerutin
có trong hoa Hòe (Sophora japonica) – dùng để sản xuất thuốc làm bền mạch
máu, điều trị chứng xuất huyết não. Chất Curcumin, Quercetin có trong Nghệ
(Curcuma xanthorrhiza) để sản xuất thuốc chống khối u, hỗ trợ điều trị ung
thư dạ dày, sốt xuất huyết) [9], [10], [16].


11
Và còn rất nhiều bài báo đăng trên các tạp chí trung ương, địa phương
giới thiệu về cây thuốc, bài thuốc và tác dụng làm thuốc của cây cỏ quanh ta,
nhiều tổ chức về y học dân tộc được thành lập: Hội Đông y Việt Nam, Viện
nghiên cứu Đông y... đã có thành công trong việc điều tra, sưu tầm dược liệu.
Trên đây là các công trình nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn
rất lớn phục vụ cho ngành dược và các nhà thực vật học. Hiện nay ở nước ta

vùng khác trên cả nước. Ở đây việc sử dụng cây cỏ làm thuốc chỉ mới được
các ông Lang, bà Mế khai thác và sử dụng theo kinh nghiệm gia truyền, cho
đến nay chưa có công trình nghiên cứu về nguồn dược liệu tại đây.
Nói chung việc điều tra cây thuốc của đồng bào các dân tộc miền núi
Thanh Hóa đã và đang được tiến hành nhưng còn rất ít. Vì vậy cần phải tiến
hành điều tra, nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống trên qui mô toàn
tỉnh để thu thập cây thuốc, bài thuốc có giá trị nhằm đưa ra phương pháp nhân
rộng, khai thác khoa học hiệu quả và để bảo tồn nguồn gen, bài thuốc quý
tránh không bị thất truyền và mai một theo thời gian.
1.4. Điều kiện tự nhiên và xã hội khu vực nghiên cứu
1.4.1. Điều kiện tự nhiên của huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa
1.4.1.1. Vị trí địa lý
Như Xuân là huyện miền núi phía Tây Nam tỉnh Thanh Hóa, cách Thành
phố Thanh Hóa 60 km. Phía Bắc giáp huyện Thường Xuân; phía Nam và phía
Tây giáp tỉnh Nghệ An; phía Đông giáp huyện Như Thanh.


13

Bản đồ vị trí địa lí huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa
1.4.1.2. Điều kiện đất đai
Tổng diện tích huyện Như Xuân: 71.994 ha, trong đó diện tích đất nông
nghiệp: 10.740,07 ha, diện tích đất lâm nghiệp: 52.614 ha và diện tích đất chưa
khai thác: 4.383,97 ha.
1.4.2. Điều kiện xã hội của huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa
Huyện Như Xuân có tất cả 18 đơn vị hành chính, bao gồm 01 thị trấn là Thị
trấn Yên Cát và các xã: Thượng Ninh, Bãi Chành, Xuân Bình, Hóa Quỳ, Xuân
Quỳ, Bình Lương, Yên Lễ, Cát Vân, Cát Tân, Tân Bình, Thanh Quân, Thanh
Xuân, Thanh Hòa, Thanh Phong, Thanh Lâm, Thanh Sơn, Xuân Hòa.
Toàn huyện có tất cả 11 xã thuộc diện xã đặc biệt khó khăn nằm trong

- Phía Bắc giáp với núi Nùn, xã Cát Tân, xã Thanh Xuân
- Phía Nam giáp xã Thanh Hòa
- Phía Đông giáp với xã Xuân Quỳ, xã Cát Vân
- Phía Tây giáp xã Thanh Phong, xã Thanh Quân
Xã Thanh Lâm thuộc địa hình đồi núi cao với địa hình dốc, bị chia cắt
bởi nhiều khe, suối và được hình thành bởi nhiều quả đồi khác nhau.Tài
nguyên rừng tài nguyên đất đai còn rất lớn.
Thanh Lâm nằm ở tiểu vùng khí hậu Trung du Tây Nam, có nhiệt độ
thấp hơn các huyện đồng bằng. Tổng nhiệt độ năm 7.600 0 C – 8.0000C. Mùa
Đông tương đối lạnh, nhiệt độ trung bình vào 14- 15 0 C, nhiệt độ thấp nhất


15
tuyệt đối có thể xuống 00C ở nhiều nơi, mùa hè khá mát, nhiệt độ trung bình
tháng 7 từ 25 – 270C. Tổng lượng mưa trên 2000 mm/năm, mùa đông là 40
mm/tháng
Thanh Lâm có sông Chàng chảy qua, suối mặt nước chuyên dùng với
diện tích 57,11 ha, hàng năm cung cấp lượng nước tưới phục vụ nông nghiệp,
đồng thời vừa cải thiện được môi sinh, môi trường. Đăc trưng của dòng sông
Chàng là thời gian mưa lũ bắt đầu từ tháng sáu và kết thúc vào tháng 9, mùa
khô bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 5 năm sau.
Tài nguyên đất đai: Tổng diện tích đất tự nhiên 3.447,12 ha, diện tích
đất nông nghiệp: 429,43 ha; trong đó: 598,20 ha là diện tích đất phi nông
nghiệp và 95,15 ha là diện tích đất chưa sử dụng.
Tài nguyên rừng: Xã có 2.323,48 ha đất lâm nghiệp, trong đó diện tích
rừng phòng hộ là 710,04 ha, rừng sản xuất là 1.613,44 ha với các cây trồng
chủ yếu là: Lao, keo lá tràm và các loại cây bản địa khác có nhiều giá khác
Tài nguyên nước: Nước mặt chủ yếu được khai thác sử dụng từ các con
sông, suối, ao, hồ trên địa bàn, đặc biệt là hệ thống sông Chàng và diện tích
ao hồ đây là nguồn dự trữ nước khi mực nước sông chính xuống thấp, đặc biệt

cần có những chính sách hợp lí của Đảng và Nhà nước để đảm bảo sự khai
thác và phát triển bền vững nguồn tài nguyên thiên.


17

CHƯƠNG 2 . ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Toàn bộ thực vật bậc cao có mạch được đồng bào Thái sử dụng làm
thuốc tại xã Thanh Lâm, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
2.2. Thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ tháng 9 năm 2012 đến tháng 6 năm
2013, chia thành 3 đợt :
- Đợt 1: từ 18 đến 25/ 09 /2012.
- Đợt 2: từ 22 đến 28/2/2013.
- Đợt 3: từ 20 đến 25/ 6/2013.
2.3. Nội dung nghiên cứu
- Xây dựng bảng danh lục các loài cây cỏ được đồng bào Thái xã Thanh
Lâm, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa làm thuốc chữa bệnh.
- Phân tích, đánh giá tính đa dạng tài nguyên cây thuốc về các mặt:
+ Đa dạng về bậc phân loại
+ Đa dạng về dạng cây
+ Đa dạng về môi trường sống


18
+ Đa dạng về bộ phận sử dụng
+ Đa dạng về cách sử dụng
+ Đa dạng về nhóm bệnh chữa trị

Mẫu cây được đánh số hiệu và được đặt vào trong khổ giấy gấp 4, cho
vào cặp mắt cáo khoảng 20 đến 30 mẫu /cặp.
- Xử lý và trình bày mẫu: Các mẫu thu thập từ thực địa được làm tiêu bản
theo phương pháp của Nguyễn Nghĩa Thìn [29].
Sau khi mẫu được xử lý sơ bộ ở ngoài thực địa, tiếp tục xử lý tại phòng
Bảo tàng thực vật của Khoa Sinh học, Trường Đại học Vinh. Sau khi ép mẫu
khô và xử lý theo đúng tiêu chuẩn, kết hợp với các thông tin thu thập tại thực
địa, chúng tôi tiến hành xác định tên khoa học của các loài.
2.4.4. Phương pháp xác định tên khoa học
- Xác định mẫu theo họ và chi

Giám định nhanh họ và chi mẫu cây ngoài thiên nhiên theo tài liệu “
Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật” của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [29].
“Cẩm nang nghiên cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam” của
Nguyễn Tiến Bân (1997) [2].
- Xác định tên loài
Mẫu vật được xác định tên khoa học chủ yếu dựa vào phương pháp
hình thái so sánh. Trong quá trình tiến hành xác định tên khoa học phải theo
các nguyên tắc:
+ Phân tích tổng thể từ bên ngoài đến chi tiết bên trong.
+ Phân tích đi đôi với ghi chép và vẽ hình.
+ Phân tích đi đôi với viêc tra khóa xác định.
+ Hoàn toàn trung thực, khách quan với mẫu thực.
+ Khi tra khóa luôn đọc từng cặp đặc điểm đối nhau cùng một lúc để
dễ phân định các cặp dấu hiệu.
Các tài liệu chính dùng trong quá trình xác định tên khoa học bao gồm:
- “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ (1999-2000) (3 tập) [19].
- “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi (1986-2003) [26].




21
Dựa vào kinh nghiệm của người dân và các ông Lang, bà Mế dân tộc
Thái tại khu vực nghiên cứu.
2.4.8. Đánh giá sự đa dạng về nơi sống của cây thuốc
Dựa vào sự phân bố môi trường sống của các loài thực vật khi thu mẫu.
2.4.9. Đánh giá sự đa dạng các loài cây thuốc theo cách sử dụng
Dựa vào kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các thầy lang Thái.
2.4.10. Đánh giá sự đa dang theo nhóm bệnh có khả năng chữa trị
Dựa vào kinh nghiệm chữa bệnh của các thầy lang dân tộc Thái.
2.4.11. Thu thập một số bài thuốc
Việc thu thập một số bài thuốc dựa vào các Thầy lang dân tộc Thái ở xã
Thanh Lâm, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Các loài cây làm thuốc của đồng bào Thái ở xã Thanh Lâm, huyện Như
Xuân, tỉnh Thanh Hóa
Kết quả điều tra, thu thập các loài cây được các ông Lang, bà Mế và bà
con dân tộc Thái ở xã Thanh Lâm, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa sử dụng
làm thuốc thể hiện ở bảng 3.2 gồm 173 loài, 141 chi, 70 họ thuộc 4 ngành.
3.2. Đánh giá tính đa dạng thành phần loài cây thuốc ở xã Thanh Lâm
3.2.1. Đa dạng taxon của các ngành thực vật
Số lượng các loài cây thuốc được đồng bào Thái ở khu vực nghiên cứu
sử dụng gồm 173 loài thuộc 141 chi, 70 họ, 4 ngành được thể hiện bảng 3.1.
Bảng 3.1. Bảng phân bố các taxon ngành cây thuốc của dân tộc Thái ở
xã Thanh Lâm
Họ
Số họ Tỉ lệ %
Lycopodiophyta
1

1.73
0.58


22
Magnoliophyta
Tổng số

65
70

92.85
100

136
141

96.45
100

168
173

97.11
100

Qua bảng 3.1 cho thấy: các loài cây thuốc được điều tra của dân tộc Thái
phân bố không đều ở 4 ngành là ngành Thông đất (Lycopodiophyta), Dương
Xỉ (Polypodiophyta), Thông (Pinophyta) và Ngọc lan (Magnoliophyta). Trong
đó cây thuốc chủ yếu tập trung ở ngành Ngọc lan (Magnoliophyta), chiếm tới

4

5

Pteris multifida Poir.
III. PINOPHYTA
1. Gnetaceae
Gnetum montanum Markgr.

Tên phổ
Tên Dạng MT BP
thông
dân tộc thân sống SD
Ngành Thông đất
Họ Quyển bá
Quyển bá
đốm

Nhà tạc B

Công
dụng

Cách
dùng

Ca

Cầm máu


lở ngứa

Sắc
uống

R

T,
Re

Đ, R

Giả
đắp

Ngành Dương xỉ
Họ Bòng bong
Bòng bong

Cụt
hươn

Le

Họ Dương xỉ
Ráng liên
sơn sáng

Hăng
ca

Justicia candida Benoist

Xuân tiết
trắng

7

Justicia gendarussa Burm.f.

Thanh táo

8

Phlogacanthus pubiflorus Lindau

9

Thunbergia eberhardtii Benoist

10

Achysanthes aspera L.
3. Anacardiaceae

11

Allospondias lakonensis (Pierre) Stapf

Công
dụng

Chừa
nậm nẹ

Ỉa chảy,
đau bụng
Rắn cắn,
gãy xương

Giả
nhỏ
xoa
bóp
Sắc
uống

đắp
Ăn
sống
Đắp,


Tiểu tiện ít, đái
dắt, đái buốt

Sắc
uống

Bỏng

Đắp


L

Th

Đ

Ca

Họ Xoài
Giâu da
xoan

G

R

Vo


25

TT Tên khoa học

Tên phổ
thông

12

Dracontomelon duperreanum Pierre


Holarrhena antidysenterica Wall.
6. Araliaceae

17

Aralia armata (G. Don) Seem.

18

Brassaiopsis aff. stellata Fang

19

Cayratia tenuifolia (Wight et Arn.)
Gagnep.

R
Đ

Qu
Vo
Re,
L

Công
dụng

Cách
dùng


Đ

Ca

G

Đ

Vo

Thông huyết
Điều kinh tiêu
hóa kém, lỵ,
đi tiểu đỏ
Lỵ, lỵ amíp,
viêm gan

Mức hoa
trắng
Họ Nhân sâm


mục

Đinh lăng
gai


tang


Ca

Viêm gan cấp,
viêm họng, viêm
khớp.

Sắc
uống
Sắc
uống
Sắc
uống
Sắc
uống
Giả
nhỏ
đắp
Sắc
uống



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status