B GIO DC & O TO
TRNG I HC S PHM H NI
Lề VIT DNG
HÔN NHÂN CủA NGƯờI THáI ĐEN ở HUYệN THUậN CHÂU
( TỉNH SƠN LA): TRUYềN THốNG Và HIệN ĐạI
Chuyờn ngnh: Lch s Vit nam
Mó s : 60220313
LUN VN THC S KHOA HC LCH S
Ngi hng dn khoa hc: TS. Lờ Hin Chng
HÀ NỘI - 2015
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài “Hôn nhân của người Thái đen truyền
thống và hiện đại ở huyện Thuận Châu Tỉnh Sơn La”, dưới sự giúp đỡ của TS.
Lê Hiến Chương, Phòng Văn hóa huyện Thuận Châu – tỉnh Sơn La đã tạo điều
kiện cho tôi đi sâu, cung cấp các tư liệu cho tôi tìm hiểu những kiến thức, nội
dung còn thiếu sót.
Với đề tài này, tôi đã tìm hiểu, nghiên cứu giữa truyền thống và hiện đại, từ
đó đã đưa ra các kinh nghiệm, hiểu biết cho bản than trong việc tổ chức cưới xin,
bản sắc văn hóa của người Thái lại được thể hiện ở chu trình của lễ cưới từ bước đi
tìm hiểu cho đến khi kết thúc đám cưới.
Do kiến thức, kinh nghiệm còn hạn chế, vì vậy luận văn không tránh khỏi
những thiếu sót, vì vậy tôi rất mong sự góp ý kiến của thầy cô, phòng Văn hóa
1.328.725 người, chiếm 1,74 % dân số cả nước, cư trú tập trung tại các tỉnh Lai
Châu, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An (số
lượng người Thái tại 8 tỉnh này chiếm 97,6 % tổng số người Thái ở Việt Nam).
Trong đó tại Sơn La có 482.485 người (54,8 % dân số), Nghệ An có 269.491 người
(9,4 % dân số), Thanh Hóa có 210.908 người (6,1 % dân số), Lai Châu cũ (nay là
Lai Châu và Điện Biên) có 206.001 người (35,1 % dân số).
Nhóm Thái Đen (Tay Lằm) cư trú ở khu vực tỉnh Sơn La và Điện Biên. Các
nhóm Tày Thanh (Man Thanh), Tày Mười, Tày Khăng ở miền Tây Thanh Hóa (Tân
Thanh-Thường Xuân - Thanh Hóa), Nghệ An cũng mới từ mạn Tây Bắc chuyển
xuống cách đây vài ba trăm năm và bị ảnh hưởng bởi văn hóa và nhân chủng của cư
dân địa phương và Lào. Nhóm Tày Thanh từ Mường Thanh (Điện Biên) đi từ Lào
vào Thanh Hóa và tới Nghệ An định cư cách đây hai, ba trăm năm, nhóm này gần
gũi với nhóm Thái Yên Châu (Sơn La) và chịu ảnh hưởng văn hóa Lào.
Người Thái sử dụng các họ chủ yếu như: Bạc, Bế, Bua, Bun, Cà (Hà, Kha,
Mào, Sa), Cầm, Chẩu, Chiêu, Đèo, Điều, Hà, Hoàng, Khằm Leo, Lèo, Lềm (Lâm,
Lịm), Lý, Lò (Lô, La), Lộc (Lục), Lự, Lường (Lương), Manh, Mè, Nam, Nông,
Ngần, Ngưu, Nho, Nhật, Panh, Pha, Phia, Phìa, Quàng (Hoàng, Vàng), Quảng, Sầm,
Tạ, Tày, Tao (Đào), Tạo, Tòng (Toòng), Vang, Vì (Vi), Xa (Sa), Xin.
Đối với một dân tộc, di sản văn hoá cổ truyền là một tài sản vô giá mà văn
hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tình thần do con người sáng tạo ra
và tích luỹ qua quá trình thực tiễn trong sự tương tác giữa con ngươi với môi trường
tự nhiên và xã hội. Qua quá trình tồn tại và phát triển mỗi một cộng đồng người đều
để lại một di sản văn hoá lâu đời được lưu truyền từ đời này sang đời khác, nó được
khẳng định đứng vững rồi trở thành văn hoá cổ truyền của một dân tộc.
Sơn La là miền đất còn hoang sơ thuần khiết của rừng, của núi, của những
1
dòng suối nước trong veo, của những thắng cảnh thiên nhiên hùng vĩ và cả
chính thức của hôn nhân. Hôn nhân là mối quan hệ cơ bản trong gia đình ở hầu hết
xã hội, gia đình là tế bào của xã hội, sự bền vững của gia đình là nền tảng cho sự
phát triển của xã hội.
Trong những năm gần đây, dưới tác động của các điều kiện kinh tế - xã hội,
đời sống văn hóa, phong tục tập quán truyền thống, trong đó có hôn nhân, cưới xin,
đã có những thay đổi về nhiều mặt. Cùng các yếu tố văn hóa mới cũng góp phần tác
động nhiều đến đời sống xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu các phong tục tập quán
truyền thống, trong đó có hôn nhân và cưới xin đặt ra như nhiệm vụ cấp thiết.
Theo thời gian, luật tục của các dân tộc cũng đang đứng trước sự mai một
phá hoại bởi thời gian và con người. Nhiệm vụ của chúng ta hiện nay là phải cứu
lấy di sản quí báu đó, vì vậy tôi chọn đề tài “Hôn nhân của người Thái đen ở huyện
Thuận Châu tỉnh Sơn La” để giữ gìn phong tục cưới hỏi của người Thái đen đang
dần bị mai một, giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống
của dân tộc Thái.
Trong khuôn khổ của đề tài, tôi chỉ tập trung tìm hiểu hôn nhân của người
Thái đen truyền thống và hiện đại tại huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.
Về thực tiễn, việc nghiên cứu về hôn nhân và cưới xin của người Thái đen ở
Thuận Châu cũng sẽ cho thấy những giá trị tích cực cũng như những yếu tố không
phù hợp với đời sống văn hóa mới, cùng với sự thay đổi của nó, nhằm giúp cho các
nhà quản lý ở địa phương có thêm cơ sở khoa học trong việc hoạch định chính sách
và tìm ra những giải pháp thích hợp trong việc bảo lưu, gìn giữ và phát huy bản sắc
văn hóa dân tộc, theo tinh thần Nghị quyết của Hội nghị TW 5, khóa VIII về xây
dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay hôn nhân của người Thái đen Tây bắc được đề cập trong các
tài liệu, một số công trình đã được công bố. Về mặt thực tiễn , việc nghiên cứu
về hôn nhân và cưới xin của người Thái huyện Thuận Châu cũng cho thấy được
những giá trị tích cực cũng như những yếu tố không phù hợp với đời sống văn
dân tộc Thái Đen, trên cơ sở đó đề xuất nội dung, giải pháp xây dựng mô hình văn
hóa“, 1999, UBND tỉnh Sơn La; “ Vài nét về người Thái ở Sơn La “, Vì Trọng
Liên, Nxb Văn Hóa dân tộc, Hà Nội, 2002. “ Hoa Văn Thái“, Hoàng Lương, Nxb
Lao động, Hà Nội, 2003; “ Bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống ở vùng núi
4
Bắc Trung Bộ hiện nay“, Cao Văn Thanh ( chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2004. Và nhiều các bài viết trên các dân tộc tạp chí: Dân tộc học, nghiên cứu
lịch sử... Nhìn chung: Các công trình, tác phẩm đều đã đi vào khai thác những đặc
điểm chung về bản sắc văn hóa; văn hóa dân tộc thiêu số; văn hóa dân tộc Thái ở
nước ta. Tuy nhiên, những nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu những
giá trị văn hóa, phong tục tập quán của người thái ( nói chung ), người Thái Tây
Bắc ( nói riêng ) nhằm giới thiệu về người thái; những nét đặc sắc – cái hay, cái đẹp
của văn hóa dân tộc thái
Trong các công trình, bài viết kể trên, người Thái đã được giới thiệu đầy đủ
từ góc độ tộc danh, dân số, địa bàn cư trú… cho đến các hoạt động kinh tế truyền
thống, các dạng thức văn hóa cổ truyền thống của họ. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn
còn thiếu vắng một khảo cứu mang tính chuyên sâu về phong tục hôn nhân và cưới
xin của họ. Đặc biệt, vẫn còn rất ít công trình, bài viết riêng về dân tộc Thái Đen ở
Thuận Châu nói chung và các phong tục hôn nhân và cưới xin nói riêng.
Mặc dù rất nhiều các tác phẩm, tạp chí và một số các công trình cá nhân tập
thể nghiên cứu về vấn đề hôn nhân của dân tộc Thái Đen. Tuy nhiên cho đến nay
chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về vấn đề hôn
nhân của dân tộc Thái Đen huyện Thuận Châu – Tỉnh Sơn la. Đây là cơ sở để người
viết kế thừa những gợi mở, thành quả của những người đi trước tiếp tục đi sâu
nghiên cứu một cách toàn diện hơn về vấn đề này.
3. Đối tượng,nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn có sử dụng các phương pháp nghiên
cứu sau:
- Phương pháp luận: phương pháp biện chứng, phương pháp lịch sử, phương
pháp lôgic.
- Phương pháp cụ thể: thu thập tư liệu, đính chính tư liệu, chỉnh lí tư liệu,
phân loại, hệ thống tư liệu, Phương pháp phân tích, đánh giá tổng hợp, khảo sát,
điều tra dân tộc, phỏng vấn trực tiếp các nhân chứng tại địa bàn nghiên cứu, khóa
luận có sử dụng tài liệu, số liệu của phòng Văn hóa - xã hội huyện Thuận Châu, Ủy
ban Dân tộc huyện Thuận Châu và một số tài liệu khác.
6
5. Đóng góp của đề tài
Luận văn dự kiến hướng đến những đóng góp sau :
- Thứ nhất, là công trình nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về
quan niệm, quy tắc, nghi lễ hôn nhân của người Thái Đen huyện Thuận Châu,
tỉnh Sơn la.
- Thứ hai, là tài liệu tham khảo nghiên cứu về giảng dạy trong các giờ ngoại
khóa của các trường PTDT nội trú về vấn đề hôn nhân.
- Thứ ba, do chịu sự tác động nhiều mặt của nền kinh tế thị trường, nhiều nét
bản sắc văn hoá của người Thái cũng đã bị mai một lãng quên hoặc bị đơn giản hoá.
Do vậy, để giữ gìn và phát huy những bản sắc văn hoá đó ta cần phải tìm hiểu và
nhận thức đúng đắn về nết văn hóa này
Thông qua việc tìm hiểu Phong tục cưới hỏi của người Thái Đen ở huyện
Thuận Châu tỉnh Sơn La, luận văn sẽ giúp người đọc có được một cái nhìn tổng
quát, có hệ thống và sâu sắc hơn về các giá trị văn hoá trong tập tục cưới xin của
người Thái Đen nói chung và người Thái đen ở huyện Thuận Châu tỉnh Sơn La nói
riêng. Không những thế đề tài còn nêu lên những bất cập, những phong tục lạc hậu
1.1.1.2. Điều kiện tự nhiên
Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện: 154.126 ha. Trong đó, đất nông nghiệp
91.195,54 ha (chiếm 59,17%); đất phi nông nghiệp 3.143,93 ha (chiếm 2,04%); đất
chưa sử dụng 59.786,53 ha (chiếm 38,79%). [ 8,Tr.45]
Địa hình Thuận Châu bị chia cắt mạnh, cao và dốc, có đỉnh núi Copia cao
1.817m. Huyện Thuận Châu thuộc lưu vực Sông Đà, có nhiều suối lớn như: Suối
Muội, Suối Ty, Suối Nậm Húa, Suối Nậm Nhứ,... tạo thành mạng lưới sông suối khá
dày, đây là nguồn nước quan trọng phục vụ cho đời sống và sản xuất của nhân dân, tạo
ra các tiểu vùng thích hợp với nhiều loại hình sản xuất nông lâm - nghiệp, chăn nuôi
đại gia súc, phát triển nghề rừng…
Đèo Pha Đin có độ dài 32 km với điểm cao nhất là 1.648m, là ranh giới hai
huyện Thuận Châu (Sơn La) và Tuần Giáo (Điện Biên). Tên gọi đèo Pha Đin
8
nguyên gốc xuất phát từ tiếng Thái, nghĩa là “Trời và Đất”, hàm nghĩa nơi đây là
chỗ tiếp giáp giữa trời và đất.
Đường quốc lộ 6 chạy qua Thuận Châu nên việc đi lại, giao lưu hàng hóa
tương đối thuận tiện. Tuy nhiên địa hình dốc và mùa mưa kéo dài có những trận
mưa lớn gây sạt lở ách tắc giao thông, gây nhiều khó khăn cho việc vận chuyển
hàng hóa và đi lại của nhân dân
Trên địa bàn có 2 con sông Đà, Nậm Ma chảy qua, tạo ra các tiểu vùng thích
hợp với nhiều loại hình sản xuất nông lâm - nghiệp, chăn nuôi đại gia súc, phát triển
nghề rừng…
Tài nguyên: Ở Thuận Châu có vàng sa khoáng, mỏ đồng ở xã Mường Bám
và nguồn nước phong phú, chất lượng tốt cung cấp cho toàn bộ thị trấn Thuận Châu
(mó nước ở bản Bó).
Rừng Thuận Châu chiếm 70,2% diện tích tự nhiên, chủng loại động thực vật
phong phú, có nhiều loại gỗ quý hiếm và có giá trị kinh tế cao như: gỗ lát, nghiến,
2003 toàn huyện có 34 xã và 1 thị trấn, huyện lỵ đặt tại thị trấn Thuận Châu.[8,Tr.34]
Thực hiện Nghị quyết số 43/2002/NQ - HĐND ngày 11/1/2002 của Hội
đồng nhân dân tỉnh Sơn La khóa XI - kỳ họp thứ 5, về xây dựng phương án điều
chỉnh địa giới hành chính một số huyện, xã của tỉnh do ảnh hưởng di dân tái định cư
xây dựng nhà máy thủy điện Sơn La [7,Tr.25]. Ngày 2 tháng 12 năm 2003, chuyển
25.911 ha diện tích tự nhiên và 26.659 nhân khẩu gồm toàn bộ các xã Mường
Giàng, Chiềng Bằng, Mường Sại, Liệp Muội, Nặm Ét, Chiềng Khoang của huyện
Thuận Châu về huyện Quỳnh Nhai quản lý. Đến nay huyện Thuận Châu có 28 xã và
01 thị trấn.
Huyện Thuận Châu với 29 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm thị trấn
Thuận Châu (huyện lỵ) và 28 xã.
1. Phổng Lái
15. Chiềng Ngàm
2. Thôm Mòn
16. Mường É
3. Bon Phặng
17. Co Mạ
4. Mường Khiêng
18. Pá Lông
5. Bản Lầm
19. Tông Cọ
26. Chiềng Bôm
13. Chiền Pha
27. Chiềng Ly
14. E Tòng
28. Phổng Lập
29. Thị trấn Thuận Châu
1.1.2. Dân cư, kinh tế, văn hóa
1.1.2.1. Dân cư
Thuận Châu là địa bàn sinh sống của các dân tộc thiểu số là chủ yếu: Tổng
dân số năm 2014 là 14.7073 người, bao gồm các dân tộc anh em cùng chung sống.
Trong đó dân tộc Thái: 10.2788 người; dân tộc Mông: 15.643 người; dân tộc Kinh:
5.019 người; dân tộc Khơ Mú: 1.956 người; dân tộc Kháng: 3.388 người; dân tộc
La Ha: 2399 người; dân tộc khác 137 người.[ 17,Tr.89]
Dân tộc Thái
Trong đại các gia đình dân tộc Việt nam, có một cộng đồng dân tộc tự nhận
mình bằng tên riêng Tăy hay Thăy và được chính thức gọi là Thái.
Dân tộc Thái có dân số rất đông, theo thống kê năm 1973 là trên 36 vạn
người. Đến năm 1999, dân số của người Thái có 1.328.725 người sống trải khắp
vùng quê miền Tây và Tây Bắc Việt Nam. Bắt đầu từ phía Đông miền đất người
Thái gọi là Mường Lò quê tổ ở Tây Bắc tỉnh Yên bái (nay chia thành 3 huyện thuộc
tỉnh Yên bái: Văn Chấn, Mù Cang Chải, Trạm Tấu và thị xã Nghĩa Lộ). Sang phía
Tây gồm toàn bộ địa phận ba tỉnh Lai Châu, Điện Biên và Sơn la. Phía Nam người
Thái sinh sống ở miền Tây Bắc Hòa Bình ( nay là huyện Đà Bắc và Mai Châu),
miền Tây hai tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An. Cuối cùng còn thấy những nhóm sống rải
rác trong các tỉnh thuộc Tây Nguyên, trong đó huyện Đức Trọng tỉnh Lâm Đồng là
dân gian, truyện thơ, ca dao dân ca,… với những tác phẩm nổi tiếng như: “Xống
chụ xôn xao”, “Khun Lu nang Ủa”, “Tản chụ xống xương”, “ Tản chụ xiết xương”,
… Đồng bào Thái rất yêu thích văn nghệ đặc biệt là Khắp và Xòe. Điệu múa xòe,
múa sạp là đặc sản của đồng bào Thái, được cả nước biết đến.
1.1.2.2. Kinh tế
* Nông nghiệp
12
Ở Thuận Châu có 100% số xã có đường ô tô, điện lưới quốc gia, trên 90%
dân số được nghe đài, 70% số hộ được xem truyền hình.
Đất đai ở Thuận Châu thích hợp trồng các loại cây như: chè, cà phê, cao su,
sắn, đậu tương, mía, hồng không hạt, nhãn, đào, xoài, lúa, ngô, hành, tỏi … và chăn
nuôi trâu, bò, cá, gia cầm.
Người Thái ở huyện Thuận Châu nói riêng, ở Tây Bắc nói chung đều
làm kinh tế nông nghiệp. Ruộng của họ được chia theo nguồn nước: Ruộng
nước mưa và ruộng nước ngâm. Ruộng nước mưa thường thấy ở khu vực vùng
đất cao, hoặc ven các sườn và chân đồi, hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn nước mưa.
Ruộng loại này chỉ cấy được một vụ. Ruộng nước ngâm thường tập trung ở các
thung lũng, dọc theo ven sông, ven suối, khi canh tác, đồng bào chủ động được
nguồn nước tưới. Loại ruộng này cho phép canh tác một năm hai vụ. Như thế:
“Trong trồng trọt thì điều kiện tự nhiên đã dẫn dắt con người tới việc thiết chế đồng
ruộng. Theo con đường đó, người Thái là một cộng đồng tộc người sớm có nền văn
hóa lúa nước ở trong các cánh đồng thung lũng, lòng chảo”.
Giống lúa nước của người Thái canh tác trước đây chủ yếu là lúa nếp. Việc
trồng lúa tẻ chỉ phổ biến từ 1954 đến nay. Thời vụ sản xuất nông nghiệp thường bắt
đầu từ tháng 5, 6 (tháng 11,12 theo lịch Thái) với quy trình: tháng 5, 6 cày bừa, gieo
mạ, tháng 7, 8 cấy xong, tháng 9, 10, 11 thu hoạch lúa.
Công cụ sản xuất nông nghiệp ruộng nước của người Thái Thuận Châu
Sau khi phát nương xong đợi cho cây cỏ khô mới đốt. Ngô và lúa là hai cây
trồng chính. Lúa nương thường được tra vào khoảng tháng 3 âm lịch (tháng 9 lịch
Thái). Họ dùng gậy chọc lỗ, mỗi lỗ tra từ 3 đến 4 hạt lúa, ngô thì mỗi lỗ tra một hạt.
Sau khi tra hạt xong là mùa mưa, một tháng sau lúa, ngô lên cao thì có thể vun gốc
và làm cỏ. Mỗi mảnh nương thường chỉ canh tác tối đa là 3 năm, sau đó bỏ hoang
vài năm mới quay trở lại làm tiếp. Canh tác nương rẫy có mặt tích cực là bổ sung
nguồn lương thực, giải quyết nạn đói trong những năm mất mùa, đặc biệt giải quyết
đất canh tác cho những người nghèo không có ruộng nước (trước đây trong xã hội
phong kiến Thái, bọn thống trị đã chiếm hết ruộng nước). Luật tục xã hội Thái thừa
nhận nương là đất tự do của người lao động. Tuy nhiên canh tác nương rẫy lại
có mặt tiêu cực là con người gần như hoàn toàn lệ thuộc vào thiên nhiên đến 90%,
14
hiệu quả kinh tế thấp, rừng bị tàn phá, đời sống của những cư dân sống bằng nương
rẫy không ổn định. Vì thế tục ngữ Thái có câu nói về những người làm nương rẫy
“pì lảy quai, pì khài lu”
Dịch:
(Năm được trâu, năm bán con)
Những bản người Thái ở ven sông, suối còn biết đánh bắt cá bằng chài, lưới
đan bằng sợi gai, bắt bằng tay, chém cá ngủ vào ban đêm, hay ruốc cá bằng các loại
lá độc, lá đắng như than mat, cây cơi.
Trong mỗi gia đình người Thái ở Thuận Châu đều có những nghề phụ phục
vụ cho canh tác và sinh hoạt như rèn, đan lát, dệt vải không thấy xuất hiện nghề
gốm. Rừng ở đây có nhiều tre, nứa, giang, song Từ nguồn nguyên liệu tự nhiên sẵn
có này, người Thái ở đây đã tạo ra các sản phẩm như gùi đi nương, ghế ngồi, ếp, các
đồ đựng trong gia đình.
* Thủ công
Cũng như Hoà Bình, tỉnh Sơn La cũng khá nổi tiếng với nghề dệt thổ cẩm
Một số người đã biết chế tạo súng kíp, làm mỹ nghệ, chế tác các loại cúc bướm,
xà tích, vòng tay, hoa tai. Công việc này cũng chỉ tập trung ở một vài bản với số thợ ít ỏi.
So với các dân tộc khác cùng cư trú trên địa bàn, dân tộc Thái là dân tộc có
nghề dệt phát triển nhất. Họ trồng bồng và cây chàm để phục vụ cho việc nhuộm sợi và
dệt vải. Hiện nay mặc dù vải vóc được bán trên thị trường nhiều, song đồng bào Thái
vẫn duy trì nghề dệt. Ngoài việc dệt vải, họ còn dệt thổ cẩm, khăn Piêu, túi xách.
Trong nền kinh tế truyền thống của người Thái còn thấy phổ biến một số hình
thức hái lượm các sản phẩm trong thiên nhiên hay săn bắt. Hái lượm chất bột (củ sắn,
củ mài) thay cho lương thực vào những năm thiếu ăn, tìm các loại rau, măng, quả cây
làm thực phẩm, thu hái các cây thuốc để chữa bệnh.
Trong lao động có sự phân công theo giới tính, đàn ông làm các việc nặng, phụ
nữ làm các việc nhẹ như dệt vải, nội trợ. Tóm lại nền kinh tế của người Thái ở huyện
Thuận Châu trước Cách mạng tháng Tám 1945 là nền kinh tế mang nặng tính chất tự
cung, tự cấp và còn lệ thuộc nhiều vào tự nhiên.
Những năm qua, để đảm bảo phát triển kinh tế toàn diện, huyện đã xây dựng
định hướng cho mỗi vùng riêng biệt của huyện. Với các xã vùng dọc quốc lộ 6 gồm
12 xã thị trấn Muổi Nọi, Bon Phặng, Chiềng Pấc, Tông Cọ, Tông Lạnh, Thôn Mòn,
16
Thị trấn Thuận Châu, Chiềng Ly, Phổng Lăng, Chiềng Pha, Phổng Lái, Mường É
tiếp tục khẳng định là vùng kinh tế động lực của huyện, có vai trò thúc đẩy các vùng
kinh tế khác: phát triển mạnh các vùng sản xuất tập trung chuyên canh cây chè, cà
phê gắn với các cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.
* Thương mại – Dịch vụ
Là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của huyện, có quốc lộ 6 đi qua nên
thị trấn Thuận Châu (Thuận Châu) có nhiều điều kiện phát triển kinh doanh thương
mại- dịch vụ. Những năm qua, thị trấn đã xác định được lợi thế, tầm quan trọng của
thương mại - dịch vụ trong cơ cấu kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân đầu
hướng, phù hợp đã thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển thu nhập bình quân đầu
người đạt 2.000.000 đồng/tháng; tăng tỷ lệ hộ giàu, khá lên 56,3%, giảm tỷ lệ hộ
nghèo xuống còn 0,7%. Phát huy những thành tích đạt được, thị trấn Thuận Châu
tiếp tục lãnh đạo, vận động nhân dân đẩy mạnh phát triển thương mại, dịch vụ, góp
phần tạo việc làm, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Phấn đấu đến
năm 2015 giá trị sản xuất kinh doanh, dịch vụ, thương mại chiếm từ 60% trong tổng
thu nhập trên địa bàn thị trấn.
Riêng các xã vùng sâu, xa, vùng cao còn nhiều khó khăn như Mường Bám,
Co Tòng, Pá Lông, É Tòng, Co Mạ, Long Hẹ...tập trung nguồn lực đầu tư hạ tầng
kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, giảm bớt khoảng cách chênh lệch giữa các
vùng trong huyện. Với các xã vùng dọc sông Đà như Liệp Tè, Mường Khiêng,
Chiềng Ngàm, Bó Mười, Noong Lay, Chiềng La đẩy mạnh các cây công nghiệp
như cà phê, cao su, phát triển sản xuất rừng, khai thác tốt mặt nước hồ sông Đà nuôi
trồng thủy sản, các dịch vụ du lịch lòng hồ.
Thời gian tới, huyện Thuận Châu tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật,
giống mới vào sản xuất, đẩy mạnh phát triển các cây, con có giá trị kinh tế cao như
cao su (hiện đứng thứ 2 toàn tỉnh), chè, cà phê, sơn tra, cây dược liệu...Huyện phấn
đấu năm 2015, sản lượng lương thực có hạt đạt 53.735 tấn, năm 2020 đạt 57.550
tấn; cây cà phê năm 2015 đạt 3.314 ha, năm 2020 đạt 4.314 ha; cây chè năm giai
đoạn 2014 -2015 trồng mới thêm 291 ha, giai đoạn 2016- 2020 trồng mới 500 ha,
18
sản xuất theo quy trình VietGap; cây cao su đến năm 2020 trồng mới đạt 1.800 ha;
tỷ lệ che phủ rừng tăng 49% vào năm 2015…
1.1.2.3. Văn hóa
* Tôn giáo – Tín ngưỡng
Người Thái ở Thuận Châu hầu như không chịu ảnh hưởng hay theo một tôn
giáo nào. Tín ngưỡng của họ là tín ngưỡng đa thần, vạn vật hữu linh. Hệ thống tín
những hiện tượng này đã giảm bớt rất nhiều. Cũng như vậy, việc bùa, yểm, chài,
điềm lành, điềm dữ… vẫn còn là nỗi lo lắng trong tâm thức dân gian.
Người Thái có nhiều họ, mỗi họ thường có những quy định kiêng kỵ khác
nhau. Họ Lò không ăn thịt chim Táng Lò. Họ Quàng kiêng con hổ. ”Ðồng bào Thái
thờ cúng tổ tiên, cúng trời đất, cúng bản mường. Gắn liền với sản xuất là những lễ
nghi cầu mùa. Mở đầu hàng năm bằng lễ đón tiếng sấm năm mới.
* Lễ hội
Lễ cầu mùa hay Lễ cơm mới “Lệ hạy- Kin khảu maứ”: là một lễ hội bày tỏ
lòng thành kính của mình đối với những thế lực siêu nhiên thần linh, ma quỷ theo
quan niệm của người Thái.
Phần nghi lễ được tiến hành ngay tại nương rẫy, đặc biệt là nơi tập trung
nhiều hộ gia đình cùng làm nương rẫy nhất (Tủng hảy). Họ thường tổ chức tại chòi
canh rẫy của một nhà có diện tích rẫy nhiều nhất, năng suất cao nhất và đó phải là
những gia đình có uy tín, khéo ăn ở được cả nhóm và cộng đồng tôn trọng kính nể.
Họ cắt lấy những bông lúa chin sơm những nơi tốt nhất trong đám rẫy của gia đình
mình rồi đun lúa làm cho hạt nếp nứt và chín (tiếng Thái gọi là "khẩu hang"). Sau
đó lúa được phơi khô trên chạn bếp hoặc phơi nắng mục đích là họ tạo ra một loại
gạo rất thơm và dẻo hương vị gần giống mùi cốm, hạt gạo có mùa xanh và có mùi
thơm rất đặc trưng. Trong dịp này họ thường chọn một loại lúa dẻo nhất và quý nhất
để dành cho cầu cúng thể hiện tấm lòng với các vị thần linh.
Ngoài những đĩa xôi được đò từ thứ gạo đã được luộc chín, phơi khô ra thì
mâm cúng của mỗi gia đình còn mổ thêm 2-4 con gà (bắt buộc phải có một con gà
trống). Gà được luộc lên và đưa đến mỗi đám nương và nghi lễ cúng bái bắt đầu.
Rượu được rót ra chén, trầu cau mỗi mâm 9 đôi, cùng với đó là một bát nước chè
xanh và một bát nước lã.
20
Công việc cầu cúng thuộc các thầy mo cần có một cái đĩa và hai đồng xu để