Khoá luận tốt nghiệp khảo sát công tác phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm tại xã nam hồng, huyện tiền hải, tỉnh thái bình - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA SINH -KTNN
PHẠM VĂN TOAN
KHẢO SÁT CÔNG TÁC PHÒNG, CHÓNG DỊCH
BỆNH GIA súc, GIA CẦM TẠI XÃ NAM HỒNG,
HUYỆN TIÈN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC • • • •
Chuyên ngành: KỸ THUẬT NÔNG NGHIỆP
Ngưòi hướng dẫn khoa học ThS. Lưu Thị Uyên
HÀ NỘI – 2015
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy, cô giáo khoa Sinh - KTNN, Trường Đại
học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện tốt nhất để em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình!
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô Lưu Thị Uyên trong suốt quá trình
học tập và quá nghiên cứu của em!
Tuy nhiên, do thời gian có hạn và kỹ năng, kinh nghiệm nghiên cứu khoa học còn hạn chế
nên không tránh khỏi nhiều thiếu sót. Vì vậy, em rất mong được sự góp ý của các thầy cô giáo để
khóa luận của em được hoàn thiện hơn!
Hà Nội, Thảng 5 năm 2015 Sinh viên
Phạm Văn Toan
Kính gửi
- Phòng Đào tạo trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
- Khoa Sinh- Kĩ thuật nông nghiệp trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
- Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp.
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu, các
số liệu trình bày trong khóa luận là trung thực và không trùng với kết quả của tác giả khác.
Hà Nội, thảng 5 năm 2014 Sinh viên
Phạm Văn Toan
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
• •
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

súc, gia cầm tại xã Nam Hồng, Huyện Tiền Hải, tỉnh Thái
Bình.
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Nguyên lí chung của công tác phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm cho
gia súc, gia cầm.
1.1.1. Sự phát sinh và phát triển dịch bệnh truyền nhiễm [7]
- Dịch bệnh truyền nhiễm có thể lây truyền trực tiếp hoặc gián tiếp từ vật ốm sang vật
khỏe do tác nhân gây bệnh truyền nhiễm: virut, vi khuẩn, Rickettsia
- Bệnh truyền nhiễm muốn phát triển thành dịch phụ thuộc vào 3 khâu: nguồn truyền
nhiễm, các yếu tố trung gian truyền nhiễm và khối cảm thụ (cơ thể cảm thụ).
❖ Nguồn truyền nhiễm (nguồn lây)
Gia súc, gia cầm đang mắc bệnh là nguồn truyền nhiễm rất quan trọng, vì luôn
chứa và thải ra mầm bệnh, ngoài ra nguồn lấy còn có gia súc, gia cầm mang mầm
bệnh không triệu chứng, ủ bệnh.
❖ Các yểu tổ trung gian truyền nhiễm
Yếu tố trung gian truyền nhiễm là toàn bộ các yếu tố của môi trường sống có
vai trò trong việc tạm chứa và vận chuyển mầm bệnh từ nguồn truyền nhiễm tới cơ
thể cảm thụ. Mầm bệnh có thể tồn tại trong các trung gian truyền nhiễm một thời
gian khá dài (vài tuần, vài tháng), hoặc ngắn (vài ngày, vài giờ).
Những yếu tố trung gian truyền nhiễm chủ yếu cần được quan tâm là:
- Nước và thức ăn là môi trường tạm trú của nhiều loài vi sinh vật gây
5
bệnh .
- Không khí là yếu tố trung chuyển của nhiều loài vi sinh vật gây bệnh sau khi ra khỏi
đường thở do ho, khạc, hắt hơi, Các vi sinh vật có thể tồn tại trong các giọt nhỏ, bụi
hoặc khí dung (aerosol).
- Đất là nơi cư trú tạm thời của nhiều loại vi khuẩn, nấm, đơn bào
- Dụng cụ chăn nuôi cũng thường mang các loại vi sinh vật gây bệnh.
- Côn trùng, gậm nhấm
♦♦♦ Cơ thể cảm thụ bệnh

triển ổn định, bền vững, bảo vệ sức khỏe nhân dân và góp phần phát triển kinh tế, xã
hội của tỉnh.
• Yêu cầu
- Triển khai thực hiện phải có sự chỉ đạo và phối kết hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các
cấp, các ngành từ từ trung ương đến các tỉnh, các cơ sở và cả hệ thống chính trị; huy
động được toàn dân tích cực tham gia thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch.
- Các biện pháp phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm phải tuân theo quy định của
Pháp lệnh Thú y và hướng dẫn của Ban Chỉ đạo Quốc gia, Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn, Cục Thú y.
- Tổ chức phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm kịp thời, phù hợp và hiệu quả,
không để lãng phí các nguồn kinh phí đầu tư.
1.2.2. Các biện pháp chủ động phòng, chống dịch
I.2.2.I. Khi chưa có dịch xảy ra [1][2]
• Thông tin tuyên truyền, tập huấn
7
Đẩy mạnh tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông Báo, Đài Phát
thanh và Truyền hình, đài truyền thanh cấp huyện, xã để phổ biến cho người dân thấy
được tính chất nguy hiểm của dịch bệnh gia súc, gia cầm không chỉ thiệt hại đối với
sản xuất mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của con người; nâng
cao ý thức, trách nhiệm của người dân trong công tác phòng, chống dịch bệnh gia
súc, gia cầm.
Tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn cho hệ thống thú y các cấp; tập huấn
cho các hộ chăn nuôi về các biện pháp phòng, chống dịch bệnh và chăn nuôi an toàn
sinh học.
• Giám sát dịch bệnh
Tăng cường hệ thống giám sát bảo đảm giám sát tới từng thôn, xóm, hộ chăn
nuôi cùng với Ban chăn nuôi thú y xã, phường, thị trấn kịp thời phát hiện dịch bệnh
ngay từ khi mới phát sinh.
Định kỳ lấy mẫu kiểm tra để phát hiện kịp thời sự lưu hành của vi rút cúm gia
cầm, vi rút gây bệnh LMLM gia súc, vi rút gây bệnh Tai xanh trên đàn gia súc, gia

Đổi với ổ dịch Cúm gia cầm
Tổ chức tiêu hủy bắt buộc gia cầm, sản phẩm gia cầm trong ổ dịch theo quy
định tại Thông tư 69/2005/TT-BNN ngày 07/11/2005 của Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn.
Đối với ổ dịch Lở mồm long móng gia súc
Thực hiện quản lý tại chỗ, nuôi cách ly theo dõi theo quy định tại Quyết định
số 38/2006/QĐ-BNN ngày 16/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn.
9
Đổi với ổ dịch Tai xanh ở lợn
Tiêu hủy lợn bị bệnh theo Quyết định số 80/2008/QĐ-BNN ngày 15/7/2008
của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Đổi với ổ dịch tả lợn
Thực hiện theo Thông tư số 04/201 l/TT-BNN&PTNT ngày 24/02/2011 của
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Đổi với ổ dịch Dại
Thực hiện theo thông tư 48/2009/TT-NNPTNT ngày 04/8/2009 của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn về việc Hướng dẫn các biện pháp phòng, chống bệnh
dại ở động vật.
• Vệ sinh tiêu độc ổ dịch
Khử trùng, tiêu độc chuồng trại, môi trường chăn nuôi của hộ có gia súc, gia
cầm mắc bệnh và khu vực xung quanh (thôn, xóm, xã, phường, thị trấn, huyện) bảo
đảm đúng yêu cầu theo hướng dẫn của ngành chuyên môn.
• Lập các chốt kiểm soát tạm thời
Lập các chốt kiểm soát tạm thời để kiểm soát vận chuyển gia súc, gia cầm; sản
phẩm gia súc, gia cầm tại các đầu mối giao thông ra, vào ổ dịch; tùy thuộc vào phạm
vi và mức độ ổ dịch, cơ quan chuyên môn thú y đề nghị lập chốt ở các cấp khác nhau
(tỉnh, huyện, xã, phường, thị trấn).
• Tiêm vắc xin bao vây ổ dịch
Đổi với ổ dịch Cúm gia cầm

1
bảo sản xuất chăn nuôi ổn định, bền vững, bảo vệ sức khỏe cho người, thúc đẩy phát
triển kinh tế xã hội;
- sẵn sàng các phương án, nguồn nhân lực, vật tư để chủ động xử lý khi phát sinh các
dịch bệnh nguy hiểm ở động vật; ứng phó, giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm các bệnh
mới xuất hiện có khả năng truyền lây từ động vật sang người, hạn chế thấp nhất thiệt
hại cho người và động vật nuôi.
1.3.2. Nội dung kế hoạch [11]
1. Tổ chức thực hiện các biện pháp chủ động phòng chống dịch khi chưa có dịch
xảy ra [11]
• Tuyên truyền, tập huấn
Tuyên truyền thường xuyên về công tác phòng, chống dịch: Phổ biến các
văn bản quy phạm pháp luật về thú y, cơ chế, chính sách hỗ trợ người chăn nuôi về
phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm; thông tin kịp thời chính xác về tình hình
dịch bệnh, tính chất nguy hiểm của dịch bệnh động vật; những ảnh hưởng trực tiếp
đến sản xuất, sức khỏe, tính mạng của con người; trách nhiệm của các tổ chức, cá
nhân, người chăn nuôi về thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch theo quy định;
- Tổ chức các đợt tuyên truyền chuyên sâu, trọng điểm về tiêm phòng vắc xin, tiêu độc
khử trùng môi trường chăn nuôi, các biện pháp phòng ngừa lây nhiễm dịch bệnh từ
động vật sang người;
- Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho hệ thống thú y
huyện, xã về công tác giám sát, xác minh dịch bệnh, tiêm phòng dịch; kế hoạch tiêu
độc khử trùng.
• Giám sát dịch bệnh, quan trắc môi trường
Nâng cao hoạt động giám sát dịch bệnh gia súc, gia cầm và thủy sản, đáp ứng
yêu cầu dự tính, dự báo nguy cơ phát sinh dịch, phát hiện kịp thời khi dịch mới phát
sinh ở diện hẹp.
1
• Tiêm phòng vắc xỉn
- Xây dựng và triển khai, tổ chức thực hiện kế hoạch tiêm vắc xin phòng dịch theo định

- Lấy mẫu bệnh phẩm xét nghiệm xác minh dịch bệnh;
- Vệ sinh tiêu độc khử trùng;
- Điều tra mở rộng, tăng cường giám sát phát hiện dịch bệnh trên địa bàn;
trường hợp cần thiết tiếp tục lấy mẫu giám sát chủ động;
- Quản lý vùng dịch;
- Lập các chốt kiểm dịch tạm thời theo quy định;
- Tổ chức tiêm phòng bao vây vùng đệm, vùng khống chế và tiêm thẳng vắc
xin vào ổ dịch theo hướng dẫn của ngành chuyên môn.
- Xử lý gia súc, gia cầm bị bệnh dịch
1.4. Những tồn tại trong công tác phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm và
giải pháp khắc phục.[14],[15]
1.4.1. Những tồn tại
Bộ Nông nghiệp - Phát triển nông thôn, Cục Thú y, thông qua kiểm tra thực tế
đã cho biết công tác chủ động phòng, chống dịch tại một số địa phương đang có biểu
hiện chủ quan, lơ là và bộc lộ một số tồn tại bất cập sau:
- Công tác giám sát, phát hiện, báo cáo ổ dịch chậm hoặc không báo cáo
dịch, không lấy mẫu xét nghiệm để xác định týp, chủng vi rút gây bệnh, không công
bố dịch kịp thời và gây khó khăn cho công tác tổ chức phòng chống dịch, không đánh
dấu gia súc mắc bệnh theo quy định để quản lý nhằm ngăn chặn hiện tượng bán chạy
gia súc mắc bệnh;
- Tổ chức tiêm phòng vắc xin nhưng không đảm bảo kỹ thuật và không đạt tỷ
lệ tiêm phòng theo quy định nên dịch bệnh dễ xảy ra, đa số các ca bệnh xảy ra ở gia
súc chưa được tiêm phòng;
1
Công tác kiểm dịch động vật nội địa chưa được thực hiện tốt, một số
Chi cục Thú y chưa ủy quyền cho Trạm Thú y cấp huyện thực hiện việc kiểm dịch và
cấp giấy chứng nhận kiểm dịch, gây khó khăn cho công tác kiểm dịch, nhiều gia súc
không rõ nguồn gốc được đưa vào nuôi ở các hộ chăn nuôi.
- Công tác tổ chức kiểm tra, giám sát, hướng dẫn việc thực hiện các quy định
của pháp luật về thú y tại tuyến cơ sở chưa được chú trọng, không phát hiện kịp thời

2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Đàn gia súc, gia cầm nuôi tại xã Nam Hồng, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái
Bình.
- Công tác phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm tại xã Nam Hồng, huyện
Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
2.2. Thời gian, địa điểm nghiên cứu
Đề tài tiến hành từ tháng 9/2014 - 4/2015 tại xã Nam Hồng, huyện Tiền Hải,
tỉnh Thái Bình.
2.3. Nội dung nghiên cứu
- Tình hình phát triển chăn nuôi của địa phương năm 2014
- Tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm năm 2014
- Thực trạng công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm tại địa
phương.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp kể thừa: Sử dụng các kết quả nghiên cứu trước
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa: tiến hành khảo sát, điều tra, thu
thập mẫu vật, bổ sung, cập nhật số liệu.
1
- Phương pháp quan sát phỏng vẩn tại chỗ\ đối với người chăn nuôi và cán
bộ phụ trách công tác chăn nuôi, thú y của địa phương.
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Sơ lược về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội xã Nam Hồng [13]
Xã Nam Hồng, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình nằm ở phía nam huyện Tiền
Hải, cách trung tâm hành chính của huyện khoảng 10 km và cách thành phố Thái
Bình 40km; dân số 11.370người, trong đó số người trong độ tuổi lao động là 6.780
người chiếm 59,63% số dân toàn xã.
Diện tích đất tự nhiên xã Nam Hồng là 857 ha, trong đó đất nông nghiệp là
536,5 ha (chiếm tỷ lệ 62,6%) gồm đất cấy lúa, đất trồng cây hàng năm, đất nuôi
trồng thủy sản Ngoài ra do Nam Hồng nằm bên bờ sông Hồng, vì vậy trong diện
tích đất nông nghiệp có một diện tích đất bãi đáng kể, thích hợp cho trồng cây màu,

nghệ tiên tiến vào chăn nuôi. Mô hình trang trại chăn nuôi an toàn theo quy trình
VietGap từ 8 xã điểm được nhân rộng ra 60 xã. Nhiều loại vật nuôi mới cũng được bà
con nông dân đưa về nuôi tại địa phương, bước đầu cho hiệu quả kinh tế.
Nam Hồng cũng như hầu hết các xã khác trong huyện Tiền Hải và tỉnh Thái
Bình đều có mật độ dân số khá cao. Đông dân là một trong những lợi thế cơ bản cho
phát triển kinh tế- xã hội của địa phương. Dân số đông, tạo nguồn lao động dồi dào,
thị trường tiêu thụ rộng lớn cho các sản phẩm nông nghiệp và của các ngành kinh tế
khác.
Tỷ lệ lao động của Nam Hồng chiếm gần 60% dân số của xã. Trong cơ cấu lao
động theo ngành, nhóm ngành nông-lâm- thủy sản chiếm tỷ lệ cao nhất (59,4%) với
hơn nửa là lao động nữ.
Nguồn lao động nông nghiệp ở Nam Hồng cũng như ở toàn tỉnh Thái Bình
được đánh giá là có trình độ cao. Người lao động cần cù, chịu khó, có khả năng tiếp
thu, tiếp cận với tiến bộ khoa học- kỹ thuật. Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng dần qua
các năm.
1
3.2. Tình hình phát triển chăn nuôi của xã Nam Hồng
Yới số lượng hơn một trăm ngàn đầu lợn và hàng triệu gia cầm, Tiền Hải được
coi là huyện đứng đầu trong lĩnh vực chăn nuôi của Thái Bình. Gia súc, gia cầm chủ
yếu nuôi tập trung ở hơn 2.000 trang trại và gia trại, chăn nuôi nhỏ lẻ không đáng bao
nhiêu. [15]
Xã Nam Hồng tuy không phải là địa phương dẫn đầu trong huyện về quy mô
chăn nuôi nhưng tình hình phát triển chăn nuôi trong mấy năm gần đây luôn duy trì
ổn định ở mức cao.
Diễn biến tình hình phát triển đàn gia súc, gia cầm trong 3 năm từ 2012 -2014
như sau:
- Đàn lợn năm 2012 là 4.520 con đã tăng lên 5.763 con năm 2014; Trong đó xấp xỉ
90% tổng đàn là lợn thịt, lợn nái chiếm 10%.
1
Bảng 3.2. Đàn gia súc gia cầm của xã Nam Hồng (2012-2014)

và trang trại, chăn nuôi nhỏ lẻ đã giảm đi đáng kể. Tuy nhiên, chăn nuôi càng phát
triển thì càng phải đối mặt với những loại dịch bệnh nguy hiểm như lở mồm long
móng, lợn tai xanh, dịch tả, cúm gia cầm Mặc dù, chính quyền địa phương và
người dân đã có các biện pháp phòng, chống nhằm ngăn chặn, hạn chế tác hại nhưng
tình hình dịch bệnh ở đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn vẫn còn nhiều diễn biến phức
tạp.
Năm 2014, với sự nỗ lực của Chi cục Thú y và sự phối hợp chặt chẽ với các
cấp, ngành, đơn vị, các địa phương nên đàn gia súc, gia cầm được bảo đảm an toàn,
không có dịch bệnh nguy hiểm xảy ra. Song dịch bệnh lẻ tẻ vẫn xẩy ra ở tất cả các
địa phương trong tỉnh. [12]
Thống kê của Ban Chăn nuôi - Thú y xã Nam Hồng năm 2014 cho thấy đàn
gia súc, gia cầm mắc hầu hết các loại bệnh: truyền nhiễm, bệnh nội khoa, ngoại khoa,
sản khoa không kể bệnh kí sinh trùng cũng rất phổ biến.
3.3.1. Tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc của xã Nam Hồng
2
Kết quả trình bày ở bảng 3.3 cho thấy:
- Đàn lợn, đàn trâu bò mắc bệnh truyền nhiễm, nội khoa, ngoại khoa với tỷ lệ khá
cao.
- Đối với bệnh truyền nhiễm chủ yếu vẫn là bệnh tụ huyết trùng. Nguyên nhân là do
các hộ chăm sóc, nuôi dưỡng kém, vệ sinh chuồng trại kém và vấn đề tiêm phòng
chưa được quan tâm đúng mức cho nên bệnh dễ dàng xảy ra.
- Bệnh nội khoa chủ yếu là ỉa chảy ở lợn do công tác vệ sinh thức ăn, nước uống
không đảm bảo, vệ sinh chuồng trại không tốt, đàn lợn bị lạnh, ẩm về mùa đông
dẫn đến dễ mắc bệnh tiêu chảy.
3.3.2 Tình hình dịch bệnh trên đàn gia cầm của xã Nam Hồng
Chăn nuôi gia cầm của xã chủ yếu là chăn nuôi tập trung qui mô lớn theo
phương thức thâm canh công nghiệp (liên doanh với các công ty nước ngoài theo
hình thức nuôi gia công), bên cạnh đó cũng còn một số hộ chăn nuôi theo phương
thức chăn thả bán thâm canh và chăn thả truyền thống.
Với mô hình nuôi gia công, quy trình vệ sinh phòng dịch bệnh tương đối chặt

Newcatle, Gumboro, Tụ huyết trùng và đàn gà bị bệnh kí sinh trùng đường máu
thường gây thành dịch đó là Bệnh cầu trùng.
- Tỷ lệ bị bệnh cũng khá cao: 18,27% tổng đàn mắc bệnh Gumboro - chủ
yếu trên đàn gà nuôi thâm canh công nghiệp với mật độ cao; với bệnh tụ huyết trùng
cũng có 11,15% tổng đàn bị bệnh trong năm 2014; tương tự như vậy với bệnh
Newcastle - chủ yếu xảy ra ở khu vực nuôi chăn thả trong hộ gia đình. Có 7,69%
đàn gia cầm mắc cầu trùng gà, một bệnh kí sinh trùng thường xảy ra trên đàn gà
nuôi công nghiệp.
3.4. Công tác phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm xã Nam Hồng 2014
3.4.1. Tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm năm 2014
2
Bảng 3.4. Tỉ lệ mắc bệnh của đàn gia cầm xã Nam Hồng năm 2014
Loại bệnh r-M-1 X Ấ • Ầ
Tong sô gia câm (con)
Số con mắc bệnh
(con)
Tỉ lệ
(%)
Newcastle 52.000. 5.500 10,58
Gumboro 52.000 9.500 18,27
Tụ huyết trùng 52.000 5.800 11,15
Cầu trùng gà 52.000 4.000 7,69
UBND xã Nam Hồng - Ban Chăn nuôi, thú y. 2014
Trong chăn nuôi ngoài việc chọn con giống khỏe mạnh, chế độ chăm sóc nuôi
dưỡng tốt thì công tác tiêm vắc xin phòng bệnh cho gia súc, gia cầm cùng với vệ
sinh, khử trùng, tiêu độc chuồng ữại, môi trường chăn nuôi là biện pháp tốt nhất
(hiệu quả nhất, đơn giản và kinh tế nhất) để phòng, chống một số bệnh truyền nhiễm
nguy hiểm cho đàn vật nuôi, đem lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi, góp phần
phát triển ổn định ngành chăn nuôi và đảm bảo an sinh xã hội.
Theo hướng dẫn của các cơ quan chức năng, tất cả các địa phương trong cả

trên tự đảm bảo kinh phí tổ chức tiêm phòng và khử trùng tiêu độc chuồng trại, môi
trường chăn nuôi theo quy định.
❖ Công tác tổ chức tiêm phòng
Đoi với Ban chỉ đạo và Ban Chăn nuôi - Thú y
- Tuyên truyền trên đài truyền thanh của xã về các chính sách của tỉnh, của
huyện trong việc hỗ trợ tiêm phòng vắc xin cho đàn vật nuôi; tuyên truyền về ý nghĩa,
lợi ích của việc tiêm phòng để các hộ chăn nuôi nhận thức được tác dụng của việc
tiêm phòng, tích cực tham gia và thực hiện tốt công tác tiêm phòng.
- Trước khi tiến hành tiêm phòng có kế hoạch cụ thể về ngày, giờ, mục đích
của việc tiêm phòng, phân công việc cụ thể cho các thú y viên ở thôn, xóm và thông
báo cho các xóm biết.
- Qua mỗi đợt tiêm phòng có sơ kết, tổng kết đánh giá kết quả và rút ra kinh
nghiệm cho đợt tiêm phòng sau.
Đổi với các cơ sở chăn nuôi
- Trước khi tiêm phòng: Đăng ký số lượng gia súc, gia cầm của gia đình
với trưởng thôn hoặc nhân viên Thú y cấp xã.
2
- Trong khi tiêm phòng: Bắt giữ gia súc, gia cầm để tạo điều kiện cho
người đến tiêm phòng thực hiện được thuận lợi.
- Sau khi tiêm phòng: cần theo dõi tình trạng sức khỏe của đàn vật nuôi
và có chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tốt.
❖ Kết quả tiêm phòng
Kết quả tiêm phòng đạt tỷ lệ cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều yếu tố: sự
chỉ đạo của cấp trên, khả năng thực thi của cán bộ phụ trách và sự phối hợp của
người chăn nuôi. Trong thời gian qua, các cơ sở chăn nuôi quy mô lớn đã ý thức
rất rõ tầm quan trọng của việc tiêm vắc- xin cho đàn vật nuôi, trong khi đó vẫn
còn nhiều hộ gia đình nuôi với quy mô nhỏ đều lơ là chủ quan với công tác
phòng dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm.
Bảng 3.5. Kết quả tiêm phòng cho đàn gia súc xã Nam Hồng năm 2014
Thống kê cho thấy có 8 loại vắc xin phổ biến được tiêm cho đàn gia súc, gia


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status