TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH -KTNN PHẠM VĂN TOAN
KHẢO SÁT CÔNG TÁC PHÒNG,
CHỐNG DỊCH BỆNH GIA SÚC, GIA CẦM
TẠI XÃ NAM HỒNG, HUYỆN TIỀN HẢI,
TỈNH THÁI BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: KỸ THUẬT NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học
ThS. Lưu Thị Uyên
HÀ NỘI - 2015
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy, cô giáo khoa Sinh –
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Phạm Văn Toan MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 1
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 2
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Nguyên lí chung của công tác phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm
cho gia súc, gia cầm. 3
1.1.1. Sự phát sinh và phát triển dịch bệnh truyền nhiễm 3
1.1.2. Nguyên lý chung phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm 4
1.2. Bộ NN- PTNT, Kế hoạch phòng, chống dịch bệnh trên đàn gia súc,
gia cầm 5
1.2.1. Mục đích, yêu cầu 5
1.2.2. Các biện pháp chủ động phòng, chống dịch 5
1.3. Kế hoạch phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm tỉnh Thái Bình
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Những năm gần đây tình hình thời tiết nước ta diễn biến không thuận
lợi, nhiều đợt nắng nóng và mưa lũ kéo dài tác động đến sức khỏe gia súc, gia
cầm; dịch bệnh gia súc, gia cầm ở hầu hết các địa phương trong cả nước nhìn
chung phức tạp, một số mầm bệnh vẫn còn tiềm ẩn ở ngoài môi trường nên
nguy cơ tái phát và lây lan dịch bệnh nguy hiểm trên đàn vật nuôi là rất lớn.
Mặc dù các ngành chức năng đã triển khai nhiều biện pháp giám sát,
phòng chống dịch bệnh nhưng công tác phòng chống dịch bệnh trong chăn
nuôi hiện nay vẫn còn bị động, chỉ khi dịch xảy ra người chăn nuôi mới thực
sự vào cuộc, do đó việc dập dịch thường tốn kém và hậu quả để lại nặng nề.
Dịch bệnh không chỉ gây thiệt hại về kinh tế trong chăn nuôi mà còn đe
dọa đến sức khỏe cộng đồng. Chính vì vậy việc thực hiện các biện pháp chủ
động phòng, chống dịch bệnh có ý nghĩa rất quan trọng nhằm kiểm soát tình
hình dịch bệnh; phát hiện sớm, xử lý kịp thời, không để dịch bệnh lây lan trên
diện rộng góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng và ổn định, phát triển kinh tế -
xã hội.
Với mục tiêu khảo sát thực trạng công tác phòng, chống dịch bệnh gia
súc, gia cầm ở cấp cơ sở (xã, phường) chúng tôi chọn xã Nam Hồng, huyện
Tiền Hải, tỉnh Thái Bình – một trong những xã có hoạt động chăn nuôi tương
đối phát triển làm địa điểm nghiên cứu, triển khai đề tài:
“Thực trạng công tác phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm xã Nam
mang mầm bệnh không triệu chứng, ủ bệnh.
Các yếu tố trung gian truyền nhiễm
Yếu tố trung gian truyền nhiễm là toàn bộ các yếu tố của môi trường
sống có vai trò trong việc tạm chứa và vận chuyển mầm bệnh từ nguồn truyền
nhiễm tới cơ thể cảm thụ. Mầm bệnh có thể tồn tại trong các trung gian truyền
nhiễm một thời gian khá dài (vài tuần, vài tháng), hoặc ngắn (vài ngày, vài
giờ).
Những yếu tố trung gian truyền nhiễm chủ yếu cần được quan tâm là:
- Nước và thức ăn là môi trường tạm trú của nhiều loài vi sinh vật gây
bệnh .
- Không khí là yếu tố trung chuyển của nhiều loài vi sinh vật gây bệnh
sau khi ra khỏi đường thở do ho, khạc, hắt hơi, Các vi sinh vật có thể tồn tại
trong các giọt nhỏ, bụi hoặc khí dung (aerosol).
4
- Đất là nơi cư trú tạm thời của nhiều loại vi khuẩn, nấm, đơn bào
- Dụng cụ chăn nuôi cũng thường mang các loại vi sinh vật gây bệnh.
- Côn trùng, gậm nhấm…
Cơ thể cảm thụ bệnh
Cơ thể cảm thụ bệnh là toàn thể các cá thể có khả năng nhiễm mầm
bệnh và mắc bệnh với các mức độ khác nhau.
1.1.2. Nguyên lý chung phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm [7][8]
- Can thiệp toàn diện vào cả 3 mắt xích của quá trình dịch, song cần
xác định những trọng tâm ưu tiên cho từng mắt xích của mỗi loại bệnh dịch.
- Coi trọng biện pháp phòng chống dịch không đặc hiệu như: vệ sinh
môi trường, vệ sinh thân thể, cách ly…
- Thường xuyên thực hiện tốt công tác giám sát dịch, chủ động nắm
chắc tình hình dịch của địa phương để có kế hoạch chủ động phòng chống
bệnh dịch kịp thời.
- Sử dụng vacxin tạo miễn dịch đặc hiệu.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Cục Thú y.
- Tổ chức phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm kịp thời, phù hợp
và hiệu quả, không để lãng phí các nguồn kinh phí đầu tư.
1.2.2. Các biện pháp chủ động phòng, chống dịch
1.2.2.1. Khi chưa có dịch xảy ra [1][2]
Thông tin tuyên truyền, tập huấn
Đẩy mạnh tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông Báo, Đài
Phát thanh và Truyền hình, đài truyền thanh cấp huyện, xã để phổ biến cho
người dân thấy được tính chất nguy hiểm của dịch bệnh gia súc, gia cầm
không chỉ thiệt hại đối với sản xuất mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe,
6
tính mạng của con người; nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân trong
công tác phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm.
Tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn cho hệ thống thú y các cấp; tập
huấn cho các hộ chăn nuôi về các biện pháp phòng, chống dịch bệnh và chăn
nuôi an toàn sinh học.
Giám sát dịch bệnh
Tăng cường hệ thống giám sát bảo đảm giám sát tới từng thôn, xóm, hộ
chăn nuôi cùng với Ban chăn nuôi thú y xã, phường, thị trấn kịp thời phát
hiện dịch bệnh ngay từ khi mới phát sinh.
Định kỳ lấy mẫu kiểm tra để phát hiện kịp thời sự lưu hành của vi rút
cúm gia cầm, vi rút gây bệnh LMLM gia súc, vi rút gây bệnh Tai xanh trên
đàn gia súc, gia cầm và tổ chức các đợt giám sát sau tiêm phòng để xác định
mức độ bảo hộ của vắc xin phòng bệnh.
Tổ chức thực hiện khẩn cấp các biện pháp chuyên môn như tiêm phòng
vắc xin bao vây, khử trùng tiêu độc, quản lý đàn gia súc, gia cầm tại địa
phương có nguồn gốc gia súc, gia cầm chứa vi rút gây các bệnh nguy hiểm
lưu hành.
Lấy mẫu xét nghiệm khi có gia súc, gia cầm ốm, chết không rõ nguyên
quy định tại Thông tư 69/2005/TT-BNN ngày 07/11/2005 của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn.
Đối với ổ dịch Lở mồm long móng gia súc
Thực hiện quản lý tại chỗ, nuôi cách ly theo dõi theo quy định tại Quyết
định số 38/2006/QĐ-BNN ngày 16/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn. 8
Đối với ổ dịch Tai xanh ở lợn
Tiêu hủy lợn bị bệnh theo Quyết định số 80/2008/QĐ-BNN ngày
15/7/2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Đối với ổ dịch tả lợn
Thực hiện theo Thông tư số 04/2011/TT-BNN&PTNT ngày
24/02/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Đối với ổ dịch Dại
Thực hiện theo thông tư 48/2009/TT-NNPTNT ngày 04/8/2009 của Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc Hướng dẫn các biện pháp phòng,
chống bệnh dại ở động vật.
Vệ sinh tiêu độc ổ dịch
Khử trùng, tiêu độc chuồng trại, môi trường chăn nuôi của hộ có gia
súc, gia cầm mắc bệnh và khu vực xung quanh (thôn, xóm, xã, phường, thị
trấn, huyện) bảo đảm đúng yêu cầu theo hướng dẫn của ngành chuyên môn.
Lập các chốt kiểm soát tạm thời
Lập các chốt kiểm soát tạm thời để kiểm soát vận chuyển gia súc, gia
cầm; sản phẩm gia súc, gia cầm tại các đầu mối giao thông ra, vào ổ dịch; tùy
thuộc vào phạm vi và mức độ ổ dịch, cơ quan chuyên môn thú y đề nghị lập
chốt ở các cấp khác nhau (tỉnh, huyện, xã, phường, thị trấn).
Tiêm vắc xin bao vây ổ dịch
quản lý, giám sát chặt chẽ dịch bệnh đến tận thôn, xóm, hộ gia đình, phát hiện
sớm, bao vây khống chế, xử lý kịp thời, triệt để các dịch bệnh nguy hiểm phát
sinh ở động vật trong diện hẹp, đảm bảo sản xuất chăn nuôi ổn định, bền
vững, bảo vệ sức khỏe cho người, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội;
- Sẵn sàng các phương án, nguồn nhân lực, vật tư để chủ động xử lý
khi phát sinh các dịch bệnh nguy hiểm ở động vật; ứng phó, giảm thiểu nguy
10
cơ lây nhiễm các bệnh mới xuất hiện có khả năng truyền lây từ động vật sang
người. hạn chế thấp nhất thiệt hại cho người và động vật nuôi.
1.3.2. Nội dung kế hoạch [11]
1. Tổ chức thực hiện các biện pháp chủ động phòng chống dịch
khi chưa có dịch xảy ra [11]
Tuyên truyền, tập huấn
- Tuyên truyền thường xuyên về công tác phòng, chống dịch: Phổ
biến các văn bản quy phạm pháp luật về thú y, cơ chế, chính sách hỗ trợ
người chăn nuôi về phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm; thông tin kịp
thời chính xác về tình hình dịch bệnh, tính chất nguy hiểm của dịch bệnh
động vật; những ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, sức khỏe, tính mạng của
con người; trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân, người chăn nuôi về thực
hiện các biện pháp phòng, chống dịch theo quy định;
- Tổ chức các đợt tuyên truyền chuyên sâu, trọng điểm về tiêm phòng
vắc xin, tiêu độc khử trùng môi trường chăn nuôi, các biện pháp phòng ngừa
lây nhiễm dịch bệnh từ động vật sang người;
- Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho hệ
thống thú y huyện, xã về công tác giám sát, xác minh dịch bệnh, tiêm phòng
dịch; kế hoạch tiêu độc khử trùng.
Giám sát dịch bệnh, quan trắc môi trường
Nâng cao hoạt động giám sát dịch bệnh gia súc, gia cầm và thủy sản,
đáp ứng yêu cầu dự tính, dự báo nguy cơ phát sinh dịch, phát hiện kịp thời khi
chương trình phục vụ công tác đào tạo, kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng
hệ thống thú y cơ sở.
12
2. Tổ chức thực hiện các biện pháp chủ động phòng chống dịch khi
dịch xảy ra [11]
Thực hiện đồng bộ các biện pháp khoanh vùng bao vây, khống chế, xử
lý ổ dịch theo quy định bao gồm:
- Quản lý ổ dịch;
- Lấy mẫu bệnh phẩm xét nghiệm xác minh dịch bệnh;
- Vệ sinh tiêu độc khử trùng;
- Điều tra mở rộng, tăng cường giám sát phát hiện dịch bệnh trên địa
bàn; trường hợp cần thiết tiếp tục lấy mẫu giám sát chủ động;
- Quản lý vùng dịch;
- Lập các chốt kiểm dịch tạm thời theo quy định;
- Tổ chức tiêm phòng bao vây vùng đệm, vùng khống chế và tiêm
thẳng vắc xin vào ổ dịch theo hướng dẫn của ngành chuyên môn.
- Xử lý gia súc, gia cầm bị bệnh dịch
1.4. Những tồn tại trong công tác phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia
cầm và giải pháp khắc phục.[14],[15]
1.4.1. Những tồn tại
Bộ Nông nghiệp – Phát triển nông thôn, Cục Thú y, thông qua kiểm tra
thực tế đã cho biết công tác chủ động phòng, chống dịch tại một số địa
phương đang có biểu hiện chủ quan, lơ là và bộc lộ một số tồn tại bất cập sau:
- Công tác giám sát, phát hiện, báo cáo ổ dịch chậm hoặc không báo
cáo dịch, không lấy mẫu xét nghiệm để xác định týp, chủng vi rút gây bệnh,
không công bố dịch kịp thời và gây khó khăn cho công tác tổ chức phòng
chống dịch, không đánh dấu gia súc mắc bệnh theo quy định để quản lý nhằm
ngăn chặn hiện tượng bán chạy gia súc mắc bệnh;
- Xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm: Không phát hiện, báo
cáo dịch, làm thủ tục công bố dịch kịp thời; không thực hiện việc kiểm dịch
theo quy định;
- Tổ chức tuyên truyền sâu rộng các nội dung nêu trên cho các tổ chức,
cá nhân liên quan; thường xuyên tổ chức tập huấn nâng cao kiến thức chuyên
môn, nghiệp vụ và kiến thức pháp luật trong công tác thú y cho toàn hệ thống
thú y địa phương, đặc biệt là kỹ thuật tiêm phòng vắc xin, quy định phòng,
chống dịch, kiểm dịch động vật và các quy định pháp luật khác có liên quan.
- Trung tâm Khuyến nông quốc gia tổ chức hướng dẫn, tuyên truyền:
(1) Người chăn nuôi thực hiện tốt việc chăn nuôi gia súc, gia cầm an toàn dịch
bệnh; (2) Các tổ chức, cá nhân buôn bán, vận chuyển, giết mổ gia súc, gia
cầm, buôn bán và sử dụng thuốc thú y thực hiện tốt các quy định của pháp
luật thú y, đồng thời tuân thủ hướng dẫn của các cơ quan chuyên môn về công
tác phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm và kiểm dịch động vật.
15
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Đàn gia súc, gia cầm nuôi tại xã Nam Hồng, huyện Tiền Hải, tỉnh
Thái Bình.
- Công tác phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm tại xã Nam Hồng,
huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
2.2. Thời gian, địa điểm nghiên cứu
Đề tài tiến hành từ tháng 9/2014 – 4/2015 tại xã Nam Hồng, huyện
Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
2.3. Nội dung nghiên cứu
- Tình hình phát triển chăn nuôi của địa phương năm 2014
- Tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm năm 2014
Đất tự nhiên (km
2
)
857,0
Đất nông nghiệp (ha)
536,5
Đất cấy lúa (ha)
441,5
Đất bãi (ha)
16,7
Tổng số dân (người)
11.370
Tổng số lao động chính (người)
6.780
Tổng số gia đình (hộ)
2.553
Mật độ dân cư (người/km
2
)
1.326
Bình quân đất nông nghiệp (m
2
/người)
472
Tỷ lệ hộ nghèo (%)
4,0
UBND xã Nam Hồng - 2014
17
Với đặc điểm một xã thuần nông, Nam Hồng là mảnh đất của nghề
Hải được coi là huyện đứng đầu trong lĩnh vực chăn nuôi của Thái Bình. Gia
súc, gia cầm chủ yếu nuôi tập trung ở hơn 2.000 trang trại và gia trại, chăn
nuôi nhỏ lẻ không đáng bao nhiêu. [15]
Xã Nam Hồng tuy không phải là địa phương dẫn đầu trong huyện về
quy mô chăn nuôi nhưng tình hình phát triển chăn nuôi trong mấy năm gần
đây luôn duy trì ổn định ở mức cao.
Diễn biến tình hình phát triển đàn gia súc, gia cầm trong 3 năm từ 2012
– 2014 như sau:
Bảng 3.2. Đàn gia súc gia cầm của xã Nam Hồng (2012-2014)
Loài vật nuôi
2012
2013
2014
Con
%
Con
%
Con
%
Tổng đàn lợn
4.520
100,0
4.950
100,0
5.763
100,0
- Lợn thịt
4.115
91,00
4.395
-
UBND xã Nam Hồng- Ban thống kê.2014
Kết quả thống kê cho thấy đàn gia súc, gia cầm của xã rất phát triển.
- Đàn lợn năm 2012 là 4.520 con đã tăng lên 5.763 con năm 2014;
Trong đó xấp xỉ 90% tổng đàn là lợn thịt, lợn nái chiếm 10%.
19
- Đàn gia cầm năm 2012 là 48.500 con, năm 2013 là 50.000 con, đến
năm 2014 đạt 52.000 con, tăng 6,7% từ năm 2012 đến 2014.
- Tổng đàn trâu, bò của xã tăng nhẹ: năm 2012 là 200 con, năm 2013
là 215 con, năm 2014 là 226 con. Trâu, bò ở Nam Hồng nuôi với mục đích
sinh sản, lấy thịt kết hợp sử dụng làm sức kéo, đây cũng là nguồn thu nhập tốt
cho người nông dân.
- Bên cạnh tổng đàn gia súc, gia cầm ổn định ở mức cao, chăn nuôi xã
Nam Hồng đang từng bước phát triển theo hướng chăn nuôi trang trại, gia trại
quy mô lớn.
3.3. Tình hình dịch bệnh đàn gia súc, gia cầm của xã Nam Hồng năm
2014
Trong những năm gần đây, chăn nuôi huyện Tiền Hải nói chung và xã
Nam Hồng nói riêng đang phát triển theo hướng chăn nuôi tập trung với hình
thức gia trại và trang trại, chăn nuôi nhỏ lẻ đã giảm đi đáng kể. Tuy nhiên,
chăn nuôi càng phát triển thì càng phải đối mặt với những loại dịch bệnh nguy
hiểm như lở mồm long móng, lợn tai xanh, dịch tả, cúm gia cầm Mặc dù,
chính quyền địa phương và người dân đã có các biện pháp phòng, chống
nhằm ngăn chặn, hạn chế tác hại nhưng tình hình dịch bệnh ở đàn gia súc, gia
cầm trên địa bàn vẫn còn nhiều diễn biến phức tạp.
Năm 2014, với sự nỗ lực của Chi cục Thú y và sự phối hợp chặt chẽ
với các cấp, ngành, đơn vị, các địa phương nên đàn gia súc, gia cầm được bảo
đảm an toàn, không có dịch bệnh nguy hiểm xảy ra. Song dịch bệnh lẻ tẻ vẫn
xẩy ra ở tất cả các địa phương trong tỉnh. [12]
11,3
226
18
7,9
Nội khoa
5763
710
12,3
226
35
15,4
Ngoại khoa
5763
660
11,4
226
45
19,9
Sản khoa
5763
300
5,2
226
9
3,9
UBND xã Nam Hồng – Ban Chăn nuôi, thú y. 2014
Kết quả trình bày ở bảng 3.3 cho thấy:
- Đàn lợn, đàn trâu bò mắc bệnh truyền nhiễm, nội khoa, ngoại khoa
với tỷ lệ khá cao.
- Đối với bệnh truyền nhiễm chủ yếu vẫn là bệnh tụ huyết trùng.