TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN TRIỆU THỊ LAN
XÁC ĐỊNH CHỈ THỊ PHÂN TỬ ĐA HÌNH
GIỮA GIỐNG CHO (KC25) VÀ GIỐNG NHẬN
(BT7) QTL/GEN QUY ĐỊNH TĂNG SỐ HẠT
TRÊN BÔNG PHỤC VỤ CÔNG TÁC
CHỌN TẠO GIỐNG LÚA CAO SẢN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Di truyền học
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Triệu Thị Lan
Khoa Sinh – KTNN Lớp: K37A- SP Sinh
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan bài khóa luận tốt nghiệp là công trình nghiên cứu
khoa học độc lập của riêng em, kết quả nêu trong bài là trung thực và có cơ sở
khoa học rõ ràng, không có sự sao chép hay bịa đặt.
Sinh viên
TRIỆU THỊ LAN
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Triệu Thị Lan
Khoa Sinh – KTNN Lớp: K37A- SP Sinh
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC HÌNH
DANH MỤC CÁC BẢNG
BẢNG CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục đích nghiên cứu 3
3. Ý nghĩa của đề tài 3
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Nguồn gốc và vai trò cây lúa 4
1.1.1. Nguồn gốc của cây lúa 4
1.1.2. Vai trò cây lúa 4
1.2. Giới thiệu về QTL và bản đồ QTL 4
2.5. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 23
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
3.1. Tách chiết và tinh sạch ADN 24
3.2. Khảo sát đa hình trên 12 NST giữa giống cho và nhận QTL/gen
quy định tính trạng tăng số hạt trên bông 25
3.2.2. Kết quả xác định các chỉ thị phân tử đa hình giữa giống BT7
và KC25 trên 12 nhiễm sắc thể 27
CHƢƠNG 4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 36
4.1. Kết luận 36
4.2. Kiến nghị 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Triệu Thị Lan
Khoa Sinh – KTNN Lớp: K37A- SP Sinh
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Giống lúa BT7 16
Hình 3.1. Hình ảnh kiểm tra ADN tổng số tách chiết theo phƣơng pháp
CTAB trên gel agarose 0,8%. 24
Hình 3.2. Một số hình ảnh khảo sát đa hình với ADN giống cho và nhận
gen với chỉ thị RM1208; RM10916; RM24865 25
Hình 3.3. Một số hình ảnh khảo sát đa hình với ADN giống cho và nhận
gen với chỉ thị RM19199; RM19238; RM22825 26
Hình 3.4. Một số hình ảnh khảo sát đa hình với ADN giống cho và nhận
gen với chỉ thị RM6; RM3; RM345 27
Hình 3.5. Một số hình ảnh khảo sát đa hình với ADN giống cho và nhận
gen với chỉ thị RM1; RM31; RM249; RM248; RM210; RM207 29
Hình 3.6. Một số hình ảnh khảo sát đa hình với ADN giống cho và nhận
gen với chỉ thị RM80; RM209; RM105; RM287; RM11;
RM125 29
Hình 3.7. Một số hình ảnh khảo sát đa hình với ADN giống cho và nhận
gen với chỉ thị RM10741; RM10782; RM10806; RM10815;
RM10820 34
Hình 3.17. Một số hình ảnh khảo sát đa hình với ADN giống cho và nhận
gen với chỉ thị RM10115; RM10649; RM10681; RM10694A;
RM10694; RM10720 35
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Triệu Thị Lan
Khoa Sinh – KTNN Lớp: K37A- SP Sinh
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Thành phần các chất dùng cho mỗi phản ứng PCR với mồi
SSR 19
Bảng 2.2. Chƣơng trình chạy của phản ứng PCR 20
Bảng 3.1. Các chỉ thị SSR cho đa hình giữa giống BT7 và KC25 28
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Triệu Thị Lan
Khoa Sinh – KTNN Lớp: K37A- SP Sinh
BẢNG CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
ADN : Axit Deoxyribonucleotid
NST : Nhiễm sắc thể
IRRI : Viện Nghiên Cứu Lúa Quốc
QTL : Quantitative Trait Loci
RNA : Axít ribonucleic
Rnase : Ribonuclease
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Triệu Thị Lan
Khoa Sinh – KTNN 1 Lớp: K37A- SP Sinh
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Cây lúa (Oryza sativa L.) là một trong những cây lƣơng thực quan trọng
cho khoảng 2/3 dân số thế giới. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ,
thế giới có khoảng 156,1 triệu ha đất dùng cho việc trồng lúa, sản lƣợng là
697,9 triệu tấn, 90% diện tích này thuộc các nƣớc châu Á với 651 triệu tấn
thóc chiếm 92% tổng sản lƣợng lúa gạo thế giới [16].
Việt Nam là một trong những nƣớc xuất khẩu gạo lớn đứng thứ hai
hoặc thứ ba thế giới chỉ sau Thái Lan và Ấn Độ trong hơn một thập kỉ qua.
Với diện tích đất canh tác lúa năm 2013 chiếm khoảng 7,9 triệu ha, cung cấp
44,076 triệu tấn thóc, xuất khẩu 9,61 triệu tấn gạo (Tổng cục Thống kê,
2013). Thị trƣờng xuất khẩu gạo chính của Việt Nam bao gồm các quốc gia
Đông Nam Á (chiếm khoảng 40-50%), các quốc gia Châu Phi (chiếm khoảng
20-30%), ngoài ra còn có các thị trƣờng khác nhƣ Trung Đông và Bắc Mỹ
[10].
Tuy nhiên, nghề trồng lúa Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung đang
đứng trƣớc nhiều thách thức nhƣ diện tích trồng lúa giảm nhanh do quá trình
đô thị hóa, công nghiệp hóa và chịu ảnh hƣởng nghiêm trọng bởi biến đổi khí
hậu làm năng suất lúa giảm đáng kể, cùng với áp lực dân số ngày càng tăng
đòi hỏi nguồn cung cấp lƣơng thực ngày càng lớn. Vì vậy, chọn tạo giống lúa
có tiềm năng nâng cao năng suất là hết sức cần thiết, cấp bách đối với an ninh
lƣơng thực thế giới và nâng cao đời sống nông dân. Trong khi đó, việc nâng
cao năng suất lúa dựa vào quy trình phân bón và tƣới tiêu đã tới hạn và con
đƣờng phát triển nguồn giống cho năng suất cao và chất lƣợng tốt nhờ vào cải
tiến di truyền gần nhƣ là con đƣờng duy nhất. Đứng trƣớc những thách thức
cả hai phƣơng pháp chọn giống truyền thống và hiện đại. Việc chọn giống lúa
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Triệu Thị Lan
Khoa Sinh – KTNN 3 Lớp: K37A- SP Sinh
siêu cao sản có thể thực hiện đƣợc sau khi locut điều khiển tính trạng tăng
năng suất (QTL) đƣợc xác định. Bằng việc sử dụng phƣơng pháp chọn giống
nhờ chỉ thị phân tử và lai trở lại đã góp phần vào công tác chọn tạo giống lúa
năng suất cao.
Với những lý do trên tôi xin thực hiện đề tài: “Xác định chỉ thị phân tử
đa hình giữa giống cho (KC25) và giống nhận (BT7) QTL/gen quy định
tăng số hạt trên bông phục vụ công tác chọn tạo giống lúa cao sản”.
2. Mục đích nghiên cứu
Xác định các chỉ thị phân tử đa hình giữa giống cho và nhận (KC25 và
BT7) QTL/gen quy định tính trạng tăng số hạt trên bông phục vụ công tác
chọn tạo giống lúa cao sản.
3. Ý nghĩa của đề tài
3.1.Ý nghĩa khoa học
Xác định các chỉ thị phân tử đa hình giữa giống cho gen và giống nhận
gen trên 12 NST phục vụ chọn lọc nền di truyền của các cá thể con lai, để làm
cơ sở cho việc chọn tạo các giống lúa năng suất cao.
3.2.Ý nghĩa thực tiễn
Sau khi nghiên cứu xác định đƣợc các chỉ thị cho đa hình giữa giống cho
QTL/gen quy định tính trạng tăng số hạt trên bông KC25 và dòng nhận gen
(BT7) sẽ đƣợc sử dụng để đánh giá xác định kiểu gen ở thế hệ con lai. Kết hợp
với các chỉ thị liên kết chặt tại vị trí QTL/gen quy định tính trạng tăng số hạt
trên bông, các chỉ thị đa hình này sẽ đƣợc sử dụng để đánh giá nền di truyền
của các con lai, tìm ra cá thể mang QTL/gen quy định tính trạng tăng số hạt
trên bông triển vọng.
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Triệu Thị Lan
Khoa Sinh – KTNN 4 Lớp: K37A- SP Sinh
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
G: Ảnh hƣởng kiểu gen (ảnh hƣởng của yếu tố di truyền, kiểm soát
kiểu hình, đƣợc đo lƣờng thông qua độ lệch với giá trị trung bình
quần thể).
a: Ảnh hƣởng tính cộng (một phần của ảnh hƣởng môi trƣờng).
d: Độ lệch tính trội (ảnh hƣởng kiểu gen không có sự tham gia của
[a], ảnh hƣởng tƣơng tác giữa hai alen trong cùng locut).
i: Epistasis (ảnh hƣởng tƣơng tác giữa 2, 3 hay nhiều locut).
e: Sai lệch trong liên kết [Linkage disequilibrum] (các locut không
thể kết hợp ngẫu nhiên để tạo ra sự tăng, hoặc giảm kiểu gen nào
đó, do sự liên kết quá chặt hoặc yếu tố khác, so với trƣờng hợp
nó không liên kết. Mức độ sai lệch trong liên kết đƣợc xác định
bằng mức độ liên kết, sự chọn lọc,vv…)[14].
1.2.2. Bản đồ QTL
Bản đồ QTL (quantitative trait loci) đƣợc áp dụng trong trƣờng hợp
những tính trạng mục tiêu do đa gen điều khiển (ví dụ nhƣ tính chống chịu
mặn, chịu hạn…). Di truyền số lƣợng truyền thống không thể phát hiện QTL
trên những locut riêng biệt gắn với tính trạng số lƣợng đang nghiên cứu, vị trí
của nó trên NST và liên kết của nó với những gen khác. Bản đồ di truyền
phân tử với mật độ cao số lƣợng marker phủ trên toàn bộ nhiễm thể trong gen
cây trồng sẽ cung cấp cho chúng ta công cụ có khả năng nghiên cứu tính trạng
di truyền số lƣợng phức tạp, định vị gen trên NST, và xác định các gen mục
tiêu liên kết với gen khác.
Mục tiêu cơ bản của bản đồ QTL là tìm hiểu cơ sở di truyền của những
tính trạng số lƣợng bằng cách xác định số lƣợng, các vị trí, những ảnh hƣởng
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Triệu Thị Lan
Khoa Sinh – KTNN 6 Lớp: K37A- SP Sinh
của gen, và hoạt động của những locut bao gồm tƣơng tác gen (epistasis) và
tƣơng tác QTL x E (môi trƣờng). Một mục đích khác của bản đồ QTL là xác
định những marker mang tính chẩn đoán đối với những kiểu hình đặc thù nào
đó, sao cho việc áp dụng MAS trở nên có hiệu qủa, phục vụ yêu cầu chọn
và chi phí.
Chỉ thị phân tử ADN rất phong phú do sự đa dạng của ADN, có tính ổn
định và không lệ thuộc vào các yếu tố môi trƣờng cũng nhƣ giai đoạn phát
triển của sinh vật.
Một chỉ thị ADN lý tƣởng phải đạt các yêu cầu sau: Bản chất cho đa
hình cao, di truyền đồng trội, xuất hiện nhiều trong gen, dễ tiếp cận, phân tích
nhanh và dễ dàng. Tuy nhiên, gần nhƣ không thể tìm thấy một chỉ thị phân tử
nào có thể thỏa mãn tất cả những điều kiện trên. Tùy thuộc vào những nghiên
cứu mà ngƣời ta sử dụng một hệ thống chỉ thị thỏa mãn đƣợc một số điều kiện
trên [1].
Chỉ thị phân tử đƣợc chia làm 3 loại chính:
- Chỉ thị dựa trên cơ sở lai ADN hay chỉ thị RFLP (Restriction
Fragment Length Polymorphism - Đa hình chiều dài mảnh phân cắt giới hạn)
- Các chỉ thị dựa trên kỹ thuật PCR:
+ Chỉ thị RAPD (Randomly Amplified Polymorphic ADN - Đa hình
các đoạn ADN khuếch đại ngẫu nhiên).
+ Chỉ thị AFLP (Amplified Fragment Length Polymorphism - Đa hình
chiều dài các đoạn ADN nhân bản chọn lọc).
+ Chỉ thị STS (Sequence Tagged Site - Xác định vị trí trình tự đã đƣợc
đánh dấu).
+ Chỉ thị CAP (Cleaved Amplification Polymorphisms - Đa hình độ dài
mảnh cắt giới hạn).
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Triệu Thị Lan
Khoa Sinh – KTNN 8 Lớp: K37A- SP Sinh
+ Chỉ thị RGA (Resistance Gene Analog - Vùng tƣơng đồng gen kháng).
- Chỉ thị dựa trên cơ sở những chuỗi có trình tự lặp lại:
+ Chỉ thị SSR (Simple sequence repeats - Lặp lại những trình tự đơn giản).
1.3.2. Tính ưu việt của chỉ thị phân tử
Trong những năm gần đây việc nghiên cứu hệ gen sinh vật sử dụng các
chỉ thị phân tử đƣợc phát triển ma
do kết quả của quá trình trao đổi chéo giữa các NST tƣơng đồng. Kết quả của
hiện tƣợng này là sự tái tổ hợp giữa các gen trong một cặp NST. Tần số trao
đổi chéo giữa hai gen nào đó phản ánh khoảng cách tƣơng đối giữa chúng.
Nhƣ vậy, bản đồ di truyền của NST biểu thị vị trí tƣơng đối của các gen. Sự
liên kết của những gen nằm trên cùng một NST đƣợc trình bày thành một bản
đồ liên kết hay bản đồ NST thể hiện trình tự tuyến tính của các gen dọc theo
NST với khoảng cách giữa các gen liền kề tỉ lệ thuận với tần số tái tổ hợp
giữa chúng. Đơn vị khoảng cách trong bản đồ liên kết đƣợc coi là đơn
vị bản đồ, nó đƣợc xác định bằng phần trăm (%) tần số tái tổ hợp, trong đó
1cM tƣơng đƣơng với 1% tái tổ hợp. Bản đồ di truyền hiện đại đƣợc lập trên
cơ sở sự liên kết giữa các chỉ thị phân tử với các gen kiểm soát các tính trạng
nghiên cứu. Sự có mặt của gen quan tâm trong các cá thể đƣợc biểu hiện
ở kiểu hình. Các chỉ thị ADN đồng phân ly với các gen là những chỉ thị liên
kết gen. Khoảng cách giữa các chỉ thị và gen đƣợc thể hiện bằng tần số tái
tổ hợp giữa chúng.
+ Nghiên cứu sự đa dạng di truyền của quần thể, xác định mối quan hệ
họ hàng giữa các cá thể trong quần thể từ đó lựa chọn ra các cặp bố mẹ có khả
năng cho ƣu thế lai cao phục vụ cho công tác chọn tạo giống.
+ Sử dụng các chỉ thị phân tử liên kết với tính trạng quan tâm để phát
hiện tính trạng đó trong quần thể, từ đó lựa chọn đúng cá thể mang kiểu gen
quy định tính trạng mong muốn.
1.4. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc
1.4.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
1.4.1.1. Tình hình sản xuất, xuất khẩu lúa gạo trên thế giới
Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới từ năm 2010 đến năm 2015 đã
có sự thay đổi đáng kể về sản lƣợng. Tuy có nhiều bất ổn do thời tiết không
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Triệu Thị Lan
Khoa Sinh – KTNN 10 Lớp: K37A- SP Sinh
thuận lợi nhƣng châu Á vẫn là khu vực sản xuất đƣợc tới 90,3% tƣơng đƣơng
với 435/481 triệu tấn gạo trong tổng số sản lƣợng lúa gạo của thế giới năm
QTL kháng đạo ôn đã đƣợc phát hiện [6 - 12]. Ngoài ra gen thơm của giống
Jasmine, gen điều khiển tính trạng hạt dài, gen điều khiển thời gian sinh
trƣởng và nhiều gen và QTL có liên quan đến các tính trạng khác của cây lúa
nhƣ chịu mặn, chịu hạn, chịu độc nhôm, chịu thiếu phốt-pho, bất dục đực
nhân nhậy cảm quang chu kỳ, bất dục đực nhân nhạy cảm với nhiệt độ, gen
tƣơng hợp rộng cũng đƣợc phát hiện hay đƣợc lập bản đồ phân tử để đƣa
vào sử dụng trong chọn giống. Nhiều chỉ thị phân tử liên kết với các gen trên
đã đƣợc phát hiện bởi các tác giả trong nƣớc [3 - 6].
Một trong những ứng dụng quan trọng của chỉ thị phân tử là xác định
chỉ thị phân tử liên kết QTL/gen và lập bản đồ QTL/gen. Với sự ra đời của
hàng loạt các kỹ thuật chỉ thị phân tử đã cho phép xác định những QTL liên
kết đến các tính trạng nông sinh học, yếu tố cấu thành năng suất. Trong
nghiên cứu xác định chỉ thị phân tử và lập bản đồ QTL/gen điều khiển một
tính trạng năng suất hay yếu tố cấu thành năng suất. Đây là một việc làm khó
vì năng suất hay yếu tố cấu thành năng suất là tính trạng di truyền số lƣợng,
nó là tổ hợp tính trạng nhƣ: Số hạt chắc trên bông, số bống trên khóm, khối
lƣợng nghìn hạt. Những nằm gần đây, nhiều QTL/gen quy định tính trạng cấu
thành năng suất đã đƣợc xác định trên rất nhiều các quần thể từ các tổ hợp lai
giữa giống hay các loài phụ. QTL/gen năng suất và yếu tố cấu thành năng suất
đƣợc xác định trên tất cả các nhiễm sắc thể của lúa.
Gần đây, Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI) đã tập chung nghiên
cứu và đã khắc phục đƣợc một số nhƣợc điểm của các giống lúa trong đó có
giống IR8. Những giống lúa cải tiến này có tên “siêu lúa”. Đang đƣợc tiếp tục
nghiên cứu nhằm quy tụ nhiều tính trạng kinh tế vào 1 giống [13].
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Triệu Thị Lan
Khoa Sinh – KTNN 12 Lớp: K37A- SP Sinh
1.4.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
1.4.2.1. Tình hình sản xuất, xuất khẩu lúa gạo của Việt Nam
Lúa gạo là một mặt hàng xuất khẩu chủ lực trong ngành nông nghiệp
của Việt Nam và là một trong những nƣớc có diện tích gieo trồng và sản
loài nấm lây bệnh [2].
Ở Việt Nam việc nghiên cứu ứng dụng chỉ thị phân tử trong chọn giống
kháng rầy nâu, lần đầu tiên đƣợc tiến hành tại Viện lúa Đồng Bằng Sông Cửu
Long, các nhà khoa học đã sử dụng STS để phân tích sự du nhập gen kháng
rầy nâu từ loài hoang dại O. australiensis vào giống lúa trồng O. sativa L
[13]. Bên cạnh đó, các nhà khoa học đã lập bản đồ phân tử cho 3 gen kháng
rầy nâu bphX, bph4, bph6 và phát hiện đƣợc một loạt phân tử SSR liên kết
gần với các gen kháng đó. Ngoài ra, Nguyễn Thị Lang với sự cộng tác của các
tác giả thuộc Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế IRRI đã thành công trong việc lập
bản đồ gen kháng bph10- 1 gen kháng tốt đối với bệnh bạc lá của cây lúa ở
Đông Bằng Sông Cửu Long [9].
Những nghiên cứu ứng dụng chỉ thị phân tử trong chọn giống ( kỹ thụât
sinh học phân tử ) thực tế đã đƣợc triển khai từ những năm cuối của thế kỷ
trƣớc tại một số viện nghiên cứu và trƣờng đại học. Tuy nhiên, các kỹ thuật
công nghệ này mới thực sự phát triển và đƣợc áp dụng rộng rãi trong nghiên
cứu vào những năm gần đây. Phần lớn các nghiên cứu xác định chỉ thị liên kết
gen và lập bản đồ gen của các tác giả Việt Nam đƣợc tiến hành trên đối tƣợng
cây lúa trong khuôn khổ các dự án nghiên cứu và dự án hợp tác quốc tế.
Nghiên cứu về đa dạng di truyền và lập bản đồ gen, QTL bằng việc sử dụng
chỉ thị RAPD, RGA, SSR, AFLP, RFLP là những công cụ hữu hiệu trợ giúp
đắc lực cho chọn giống truyền thống. Việc ứng dụng chỉ thị phân tử trong
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Triệu Thị Lan
Khoa Sinh – KTNN 14 Lớp: K37A- SP Sinh
việc đánh giá nguồn gen và vật liệu phục vụ chọn tạo giống cũng đƣợc triển
khai và thu đƣợc những kết quả khả quan.
Trong thời gian qua Việt Nam đã có những thành tựu đáng kể trong
chọn tạo giống lúa:
- Nghiên cứu các giống lúa phẩm chất cao phục vụ Đồng Bằng Sông
Cửu Long của Viện nghiên cứu lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long với phƣơng
pháp ứng dụng công nghệ sinh học (marker phân tử, nuôi cấy túi phấn) kết
xây dựng thành thƣơng hiệu nhƣng ngƣời tiêu dùng ở các tỉnh, thành phố phía
Bắc nhƣ Hà Nội, Hải Phòng luôn tìm mua loại gạo BT7 Nam Định đƣợc gọi
là "tám ngắn ngày Nam Định", "gạo thơm Nam Định”. Hiện 65-70% diện tích
cấy lúa chất lƣợng cao của tỉnh ở cả 2 vụ trong năm đƣợc gieo cấy bằng giống
lúa BT7. Với nhiều ƣu điểm nhƣ: hạt thóc thành phẩm vàng óng, hạt gạo nhỏ,
trong, dài, cơm thơm, mềm, vị đậm, dẻo mà dai. Theo tính toán của nông dân,
cấy giống BT7 luôn cho hiệu quả kinh tế cao. Nếu bảo đảm an toàn sâu bệnh,
giống lúa BT7 đạt năng suất 180-200 kg/sào, giá bán gấp 1,5 lần so với thóc,
gạo tẻ thƣờng [13].
2.1.1.2. Đặc tính sinh học
Giống (BT7) đƣợc dùng làm dòng nhận với những đặc tính sinh học sau:
- BT7 là giống lúa có thể gieo cấy đƣợc trong cả 2 vụ, thời gian sinh
trƣởng ở trà Xuân muộn là 135 - 140 ngày, ở trà Mùa sớm là 115 - 120 ngày.
- Chiều cao cây: 90 - 95 cm.