Đề án môn học
MỤC LỤC
1
SVTH: Nguyễn Thị Kim Oanh Lớp:Kinh tế lao động 52A
Đề án môn học
A- LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nguồn nhân
lực là nhân tố trung tâm, có vai trò quyết định đối với tăng trưởng và phát
triển của nền kinh tế. Nguồn nhân lực con người với tiềm năng tri thức là lợi
thế cạnh tranh của các công ty, ngành và nền kinh tế.
Sau khi gia nhập tổ chức WTO,Việt Nam như một con rồng châu Á đang
vươn mình với nhiều lợi thế như tốc độ kinh tế cao, nguồn nhân lực dồi dào
trong đó có đến 50% lao động trẻ dưới 30 tuổi Tuy nhiên, “nguồn nhân lực
Việt Nam tuy thừa mà vẫn thiếu- thừa lượng, thiếu chất”. Nổi cộm lên là vấn
đề nguồn nhân lực chất lượng cao hiện nay đang thiếu hụt trầm trọng. Nguồn
nhân lực chất lượng cao(NNLCLC) là nhân tố quyết định sự thành công của
quá trình đẩy mạnh CNH-HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức ở VN trong
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Quốc gia nào có chiến lược đúng đắn trong
việc phát huy nguồn lực con người, chuẩn bị đựơc NNLCLC dựa trên nền tảng
tri thức hiện đại thì nền kinh tế của quốc qia đó sẽ gia tăng mạnh mẽ năng lực
cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu và phát triển bền vững. Xã hội nào có
nhiều lao động có trình độ cao thì xã hội đó càng thêm văn minh.
Chọn phân tích đề tài này,em muốn làm rõ hơn được các vấn đề lý luận
và thực tiễn của nguồn nhân lực chất lượng cao được phân tích theo hệ thống
các yếu tố cấu thành, đặc điểm (số lượng, chất lượng), lợi thế, thách thức, xu
hướng phát triển và từ đó đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy sự hoàn thiện
và năng cao chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao …thông qua các
phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp thu thập các tài liệu về NNLCLC…Hy
vọng qua đề tài này chúng ta có thể hiểu sâu hơn các vấn đề về nguồn nhân lực
chất lượng cao.
2
chuyên môn cao, vốn tri thức và tay nghề giỏi, khả năng nhận thức và tiếp thu
nhanh kiến thức mới. Đây là chìa khoá chiếm lĩnh những đỉnh cao của khoa
học kỹ thuật và công nghệ trên con đường phát triển chống nguy cơ tụt hậu.
Hoặc một quan niệm cụ thể khác, NNLCLC là một khái niệm để chỉ một con
người, một lao động cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kĩ thuật)
ứng với một nghành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên
môn kĩ thuật nhất định.
Như vậy có thể hiểu: NNLCLC là một bộ phận đặc biệt, kết tinh những gì tinh
tuý nhất của NNL. Đó là LLLĐ có khả năng đáp ứng nhu cầu cao của thực tiễn.
Họ được đặc trưng bởi trình độ học vấn và chuyên môn cao có khả năng nhận
thức tiếp thu nhanh chóng những kiến thức mới, có năng lực sáng tạo, biết
vận dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào thực tiễn. Họ có phẩm chất
4
SVTH: Nguyễn Thị Kim Oanh Lớp:Kinh tế lao động 52A
Đề án môn học
công dân tốt, có đạo đức nghề nghiệp và đem lại năng suất, chất lượng hiệu
quả lao động cao hơn hẳn so với NNL lao động phổ thông.
1.2 Các chỉ tiêu đánh giá nguồn nhân lực chất lượng cao.
Chất lượng nguồn nhân lực là một khái niệm tổng hợp,bao gồm những
nét đặc trưng về trạng thái thể lực,trí lực,đạo đức và phẩm chất.Nó thể hiện
trạng thái nhất định của nguồn nhân lực với tư cách vừa là một khách thể vật
chất đặc biệt,vừa là chủ thể của mọi hoạt động kinh tế và các quan hệ xã
hội.Các chỉ tiêu được sử dụng rộng rãi hiện nay bao gồm chỉ tiêu về sức khỏe
,giáo dục,trình độ văn hóa,trình độ chuyên môn kỹ thuật và chỉ tiêu tổng hợp
HDI
1.2.1 Chỉ tiêu phản ánh tình trạng sức khỏe
“Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất,tâm thần
và xã hội,chứ không chỉ là không có bệnh tật hay thương tật gì” (hiến chương
của tổ chức y tế thế giới).Như vậy,sức khỏe là chỉ tiêu tổng hợp chỉ trạng thái
thoải mái về thể chất và tinh thần của con người.Nói đến sức khỏe không chỉ
Trình độ văn hóa của con người là sự hiểu biết của người đó đối với
những kiến thức phổ thông. Trình độ văn hoá là khả năng về tri thức và kỹ
năng để có thể tiếp thu những kiến thức cơ bản, thực hiện những việc đơn
giản để duy trì cuộc sống. Trình độ văn hoá được cung cấp qua hệ thống giáo
dục chính quy, không chính quy, qua quá trình học tập suốt đời của mỗi cá
nhân
Nói đến trình độ văn hóa của nguồn nhân lực, tức là nói đến trình độ hiểu
biết của người trong độ tuổi lao động về các kiến thức phổ thông về tự nhiên.
Xét về khía cạnh nào đấy, trình độ văn hóa thể hiện mặt bằng dân trí của một
quốc gia.
6
SVTH: Nguyễn Thị Kim Oanh Lớp:Kinh tế lao động 52A
Đề án môn học
Các chỉ tiêu đánh giá trình độ văn hóa nguồn nhân lực gồm các chỉ tiêu
định lượng về trình độ văn hóa trung bình của bộ phận dân số trong độ tuổi
lao động. Bao gồm các chỉ tiêu sau:
- Số người trong độ tuổi lao động biết chữ và chưa biết chữ
- Số năm đi học trung bình dân số từ 15 tuổi trở lên
- Số người trong độ tuổi lao động có trình độ tiểu học
- Số người trong độ tuổi lao động có trung học cơ sở
- Số người trong độ tuổi lao động có trình độ phổ thông
- Số người trong độ tuổi lao động có trình độ Đại học và trên Đại học
Như vậy, trình độ văn hóa của người lao động là một chỉ tiêu quan
trọng để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực. Nó là cơ sở kiến thức đầu tiên
để người lao động có khẳ năng nắm bắt được những kiến thức chuyên môn kỹ
thuật phục vu trong quá trình lao động sau này. Nâng cao trình độ văn hóa có
ý nghĩa to lớn trong chiến lược phát triển nguồn lực con người của cả quốc
gia
1.2.3.Chỉ tiêu đánh giá trình độ chuyên môn kỹ thuật:
Trình độ chuyên môn : Trình độ chuyên môn là sự hiểu biết và khả năng
đang làm việc. Chỉ tiêu này dùng để đánh giá khái quát về trình độ CMKT của
quốc gia, của các vùng lãnh thổ.
Phương pháp tính : % số lao động đã qua đào tạo so với tổng số lao
động đang làm việc.
t
lv
đt
=
∑l
lv
đt
x 100
∑l
lv
t
lv
đt
: tỷ lệ lao động đã qua đào tạo so với tổng lao động đang làm việc.
l
lv
đt
: số lao động đang làm việc đã qua đào tạo.
l
lv
: số lao động đang làm việc.
8
SVTH: Nguyễn Thị Kim Oanh Lớp:Kinh tế lao động 52A
Đề án môn học
thứ hai, tỷ lệ lao động theo cấp bậc đào tạo được tính toán cho quốc
gia, vùng, ngành kinh tế dùng để xem cơ cấu này có cân đối với nhu cầu nhân
lv
đt
ij: số lao động đang làm việc đã đào tạo bậc i ở vùng j.
Trong thực tế, không phải tất cả các chỉ tiêu này đều có đủ cơ sở số liệu
thống kê để tính toán. có những chỉ tiêu chỉ qua tổng điều tra mới có. Đây là
một hạn chế của công tác thống kê nguồn nhân lực. Để công tác thống kê,
quản lý nguồn nhân lực có chất lượng cần sớm ban hành chính thức hệ thống
chỉ tiêu đánh giá chất lượng nguồn nhân lực.
1.2.4.Sử dụng chỉ tiêu HDI:
Hiện nay thế giới dùng chỉ tiêu HDI ( Human Development Index) để
đánh giá trình độ phát triển nguồn nhân lực của mỗi quốc gia trên ba
phương diện là mức độ phát triển kinh tế, giáo dục và y tế. Theo giáo trình
kinh tế phát triển ta có HDI được xác định bởi ba chỉ tiêu sau:
- GDP thực tế bình quân đầu người
- Kiến thức ( tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ nhập học của các cấp giáo dục )
9
SVTH: Nguyễn Thị Kim Oanh Lớp:Kinh tế lao động 52A
Đề án môn học
- Tuổi thọ bình quân:
Tuy chỉ tiêu HDI không phải là chỉ tiêu phản ánh riêng chất lượng của
nguồn nhân lực một quốc gia. Song đây là chỉ tiêu quan trọng được sử dụng
rộng rãi trên thế giới để đo chất lượng con người nói chung, ưu điểm của chỉ
tiêu HDI là thuận lợi trong việc so sánh quốc tế. Qua đó một phần phản ánh
chất lượng nguồn nhân lực
1.3. Cấu trúc của NNLCLC
Cấu trúc NNLCLC là quá trình xem xét từng bộ phận cấu thành theo một hệ
thống chỉnh thể, từ đó phát hiện ra cấp độ và mối quan hệ giữa chúng tạo
thành hệ thống cấu trúc NNLCLC. Bao gồm những bô phận sau:
1.3.1 Lực lượng nòng cốt của NNLCLC là đội ngũ tri thức, trong đó đỗi ngũ tri
thức khoa học và công nghệ giữ vai trò hạt nhân của nền kinh tế tri thức, là
1.3.4. Lực lượng trụ cột của NNLCLC còn là đội ngũ những người nông dân tri
thức. Họ có trình độ khoa học kỹ thuật, giàu kinh nghiệm thực tiễn trong sản
xuất, dám nghĩ, dám làm, đi đầu trong quá trình dịch chuyển cơ cấu sản xuất
nông nghiệp theo hướng hiện đại hoá nâng cao hiệu quả sản xuất và chất
lượng nông sản theo hướng gia tăng kim nghạch xuất khẩu. Đồng thời họ có
khả năng tiếp thu, ứng dụng các thành tựu công nghệ sinh học tiên tiến của
thế giới vào thực tiễn nông nghiệp Việt Nam qua chuyển đổi, ứng dụng, lai tạo
nhiều giống cây trồng, vật nuôi cho năng suất cao, chất lượng tốt, biện pháp
kỹ thuật tiên tiến…. Hiện nay kim nghạch xuất khẩu hồ tiêu của nước ta đứng
đầu thế giới, cà phê và gạo đứng thứ hai thế giới…
1.4. Vai trò, vị trí của NNL CLC trong quá trình đẩy mạnh CNH-HĐH gắn
với phát triển kinh tế
Trong bối cảnh toàn cầu hoá đang diễn ra nhanh chóng,thì NNLCLC
đóng một vai trò không thể thiếu. Thực tiễn đã chứng minh rằng, nguồn gốc
giàu có của một quốc gia chính là nguồn nhân lực và chỉ có con người mới có
khả năng nắm giữ và sản sinh tri thức. Các chuyên gia kinh tế khi phân tích tác
động của nguồn nhân lực đến nền kinh tế cũng cho rằng, phải coi nguồn nhân
lực là một yếu tố cạnh tranh dài hạn. Trong quỏ trình quốc tế hóa sản xuất
đang hình thành một chuỗi giá trị toàn cầu, vốn và công nghệ có thể sẽ không
11
SVTH: Nguyễn Thị Kim Oanh Lớp:Kinh tế lao động 52A
Đề án môn học
phải là vấn đề quan trọng nhất Do đó, để tiếp nhận công nghệ cao bắt buộc lao
động phải đủ trình độ và kỹ năng làm chủ công nghệ. Quốc gia nào có chiến
lược đúng đắn trong việc phát huy nguồn lực con người chuẩn bị đựơc
NNLCLC thì nền kinh tế của quốc qia đó sẽ gia tăng mạnh mẽ năng lực cạnh
tranh trong nền kinh tế toàn cầu và phát triển bền vững. Xã hội nào có nhiều
lao động có trình độ cao thì xã hội đó càng thêm văn minh.
Đồng thời trong thời đại tri thức toàn cầu hoá, lực lượng sản xuất sẽ
không ngừng phát triển và ngày càng mang tính quốc tế hoá cao. Điền này thể
dạng tiền tệ. Chuyển giao tiếp nhận vốn tri thức phải thông qua giáo dục đào
tạo. Điều này có nghĩa là giáo dục đào tạo tác động trực tiếp và quan trọng
nhất tới việc phát triển cả về số lượng và chất lượng vốn tri thức được tích luỹ
ở nguồn nhân lực. Đối với nguồn nhân lực CLC, GDĐH tác động trực tiếp và
mang tính đột phá tới chất lượng, cơ cấu và những tố chất tiêu biểu của lực
lượng này.
1.5.2. Tác động của giáo dục đại học tới số lượng nguồn nhân lực chất
lượng cao
Việc quy hoạch hệ thống giáo dục đại học sẽ tác động tới việc đạo tạo nguồn
nhân lực chất lượng cao. Nếu hệ thống đại học chỉ hướng vào việc đào tạo đội
ngũ tinh hoa thì số lượng nhân lực có trình độ đại học sẽ là thiểu số. Nếu hệ
thống đại học được thiết kế đa dạng, phong phú, hướng vào đại chúng, ở đó có
sự kết hợp giữa đào tạo lực lượng tinh hoa và đào tạo lực lượng đại chúng thì
sẽ tác động rất lớn tới tốc độ gia tăng nguồn nhân lực được đào 11tạo ở trình
độ cao. Sự kết hợp thích đáng giữa đại học công và đại học tư trong hệ thống
giáo dục đại học cũng là yếu tố làm gia tăng số lượng nguồn nhân lực chất
lượng cao ở mỗi quốc gia.
1.5.3. Tác động của giáo dục đại học tới việc hình thành và phát huy tố
chất tiêu biểu của nguồn nhân lực chất lượng cao
Các trường đại học xây dựng theo mô hình tự chủ được trao quyền tự chủ
rộng rãi về tuyển sinh, tự chủ về chương trình, tự chủ về phương pháp dạy và
học, tự chủ về tổ chức nhân sự, về đội ngũ giáo sư, về quản trị, về tài chính…
13
SVTH: Nguyễn Thị Kim Oanh Lớp:Kinh tế lao động 52A
Đề án môn học
Bao trùm lên tất cả là việc các trường đại học trở thành một môi trường của
tự do tư tưởng, ở đó người học được làm quen với đức tính quan trọng nhất
của một con người tự chủ - đó là những người biết rằng mình có quyền tự do
tư tưởng, biết cách sử dụng đúng đắn quyền đó và biết tôn trọng quyền đó ở
tất cả mọi người. Chỉ ở trong môi trường giáo dục đó, con người mới có thể
lao động nuôi một người phụ thuộc dưới 15 tuổi và trên 65 tuổi nhưng giai
đoạn già hóa dân số ở Việt Nam đã bắt đầu từ năm 2011 với tốc đọ nhanh với
7% dân số trên 65 tuổi
Về cơ cấu lao động theo độ tuổi lao động là rất cao (gần 70%) số liệu
được thể hiện trong bảng cơ cấu lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên theo
nhóm tuổi
Đơn vị % 15-24 25-49 50+
2010 18,8 61,3 22,2
2011 16,5 61,3 22,2
2012 15,2 60,9 23,9
15
SVTH: Nguyễn Thị Kim Oanh Lớp:Kinh tế lao động 52A
Đề án môn học
Cơ cấu lao động phân theo trình độ chuyên môn kỹ thuật
% 2010 2011 2012
Dạy nghề 3,8 4,0 4.7
Trung cấp chuyên
nghiệp
3,4 3,7 3,6
Cao đẳng 1,7 1,7 1,9
Đại học trở lên 5,7 6,1 6,4
Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào
tạo
% 2010 2011 2012
Chiếm % tổng dân số 14,6 15,4 16,6
(Nguồn Niêm giám thống kê 2010,2011,2012,Nhà xuất bản Thống kê)
2.1.3.Chất lương NNLCLC ở Việt Nam
Trong khi yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực mà thực tế đặt ra là
rất cao thì người lao động nước ta đang tồn tại nhiều bất cập, thực tế đa số
người lao động Việt nam thể lực chưa đủ để đáp ứng với môi trường làm việc
Như ta đã biết, sức khỏe là trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần
và xã hội, nó không chỉ là trạng thái về thể chất tốt, tức là không chỉ mạnh
khỏe và không bệnh tật gì, vấn đề sức khỏe ở đây có thể hiểu là một khái niệm
tổng hợp của thể chất, tinh thần và xã hội
So sánh về các chỉ số về sức khỏe của Việt nam với các nước khác trên
thế giới ta nhận thấy rằng đối với các nước có cùng một mức thu nhập với
nước ta thì chỉ số của chúng ta có tín hiệu khả quan hơn. Tuy nhiên khi so sánh
với các nước phát triển thì chúng ta còn nhiều vấn đề bất cập và còn thua kém
rất xa. Nếu so sánh về chiều cao, cân nặng, tuổi thọ thì chúng ta thuộc vào
nhóm thấp của thế giới. Chiều cao trung bình của thanh niên là 1.65m và cân
nặng là 49.7kg. Với các chỉ tiêu này thì lao động Việt nam khó mà đáp ứng
được các yêu cầu công việc với cường độ cao và môi trường làm việc theo kiểu
“tư bản”. Theo số liệu cảu cục thống kê 2011 cho thấy trong tổng số người dân
17
SVTH: Nguyễn Thị Kim Oanh Lớp:Kinh tế lao động 52A
Đề án môn học
Việt nam hiện nay số người bình thường là 51,2%, người quá gầy chiếm 3,2%,
người gầy 17,8%, người hơi gầy 21,1%, số người béo và quá béo 6,7%. Trong
từng loại số liệu thì có sự cải thiện so với các cuộc điều tra trước đây nhưng
vẫn ở mức thấp so với các tiêu chuẩn của ngành y tế và tồn tại sự không đồng
đều giữa các vùng. xu thế này vẫn sẽ tiếp tục trong nhiều năm tới.
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng sức khỏe người lớn (mà chiếm
phần nhiều trong số đó là người lao động) tỷ lệ gầy vẫn còn rất lớn như trên
chủ yếu xuất phát từ thu nhập bình quân thấp, cuộc sống không được đảm bảo
và người lao động không được hưởng đầy đủ các chế độ y tế cần thiết. Hiện
nay chúng ta đang phải đương đầu với thực trạng tỷ lệ tương đối cao dân cư
sống trong tình trạng nghèo đói.
Đáng chú ý là sự chênh lệch trong thu nhập rất lớn, trung bình cả nước
giữa 20% có thu nhập thấp và cao nhất là 8,9 lần. Thu nhập thấp và chênh
lệch giàu nghèo cao là nguyên nhân dẫn đến sự mất công bằng trong việc tiếp
Trên đây là thực trạng sức khỏe nguồn nhân lực và mô hình bệnh tật,
phát triển sức khỏe hiện nay ở Việt nam được xem xét dưới góc độ của những
biến đổi kinh tế và xã hội. Nhìn chung với những thành tựu đạt được nhờ quá
trình đổi mới kinh tế, môi trường kinh tế – xã hội, mức sống của người dân
thay đổi theo chiều hướng tiến bộ, kết hợp với việc tăng chi tiêu ngân sách,
thực hiện tốt các chương trình y tế, dinh dưỡng quốc gia đã tác động tốt đến
tình trạng sức khỏe của nguồn nhân lực. Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận trong
dân số chưa được hưởng thụ đầy đủ các lợi ích này. có sự chênh lệch đáng kể
về yếu tố quyết định sức khỏe và tình trạng sức khỏe giữa các vùng kinh tế –
sinh thái khác nhau thể hiện qua thu nhập bình quân đầu người, chi tiêu cho
thực phẩm… Những thay đổi trong chính sách của nhà nước làm ảnh hưởng
đến qui mô, chất lượng của hệ thống y tế cũng như khả năng tiếp cận của
người dân. Vì vậy để tăng cường sức khỏe cho người dân chúng ta phải có
những chính sách, chường trình quốc gia hợp lý nhằm tuyên truyền, tạo điều
kiện cho người dân nâng cao mức sống, tiếp cận được các dịch vụ chăm sóc
sức khỏe và dịch vụ y tế mà họ đáng được hưởng.
2.1.3.2 trình độ văn hóa
19
SVTH: Nguyễn Thị Kim Oanh Lớp:Kinh tế lao động 52A
Đề án môn học
Trình độ văn hóa ở Việt Nam được thể hiện tiêu chí rõ nét,từ đó có thể
dễ dàng nhận thấy những ưu và nhược điểm của hệ thống giáo dục và đào tạo
hiện giờ giúp sản sinh ra những NNLCLC có được tốt hay ? Những số liệu đó
được thể hiện rõ nét ở những bảng sau
Nếu phân chia trình độ văn hóa của lao động theo vùng lãnh thổ ta
nhận ra một thực trạng chung hiện nay là tỷ lệ lao động không biết chữ tập
trung chủ yếu ở các khu vực miền núi Tây Bắc, vùng Tây Nguyên và vùng Đồng
Bằng sông Cửu Long. Đến cuối năm 2012, nếu phân chia theo tỷ lệ phần trăm,
vùng Đồng Bằng Sông Hồng là vùng có số người tốt nghiệp phổ thông trung
học lớn nhất cả nước, chiếm hơn 30% tổng số lao lao động cả nước. Sau đó là
Lớp học
Giao viên
(ng)
Học sinh
(ng)
Cả nước 12678 119398 157530 3061.3 13174 117977 174009 3320,3 13548 121979 188176 3551,1
ĐBSH 2893 25815 40411 789,9 2870 27866 46023 870,2 3003 28655 53138 938,1
TDVMN
BB
2525 22807 31090 510,6 2673 24092 34602 552,7 2783 25082 38647 603,1
BTB&D
HMT
3291 25226 35934 667.7 3311 26071 37916 703,3 3325 26935 39029 750,4
TN 844 7913 10239 208,4 868 8398 10980 231,1 932 9289 11876 258,3
ĐNB 1488 21510 20375 429,3 1716 14803 23912 479 1649 14474 23751 485,1
20
SVTH: Nguyễn Thị Kim Oanh Lớp:Kinh tế lao động 52A
Đề án môn học
ĐBSCL 1637 16127 19481 455,4 1736 16747 20576 484,1 1856 17544 21735 516
Số giáo viên các trường đại học và cao đẳng phân theo trình độ chuyên môn
(người) 2008 2009 2010 2011 2012
TỔNG SỐ 6065
1
6958
1
7457
3
8410
9
8716
2
1808
5
1995
6
18344
Trên đại học 3256 3753 4375 5235 4399
Đại học, cao đẳng 1202
6
1314
0
1289
2
1402
9
13224
Trình độ khác 1526 1109 818 692 721
Công lập 1186
7
1134
9
1021
6
1076
7
10223
Trên đại học 2044 2120 2330 2824 2452
21
SVTH: Nguyễn Thị Kim Oanh Lớp:Kinh tế lao động 52A
Đề án môn học
Công lập 1501,
3
1656,
4
1828,
2
1873,
1
1855,2
Ngoài công lập 218,2 299,8 333,9 335,0 323,4
Phân theo giới tính
Nam 872,6 990,5 1082,
6
1105,
6
1090,8
Nữ 846,9 965,7 1079,
5
1102,
5
1087,8
Số sinh viên tốt nghiệp (Nghìn sinh
viên)
222,7 246,6 318,4 398,2
Công lập 208,7 223,9 278,3 334,5
22
SVTH: Nguyễn Thị Kim Oanh Lớp:Kinh tế lao động 52A
Đề án môn học
Ngoài công lập 14,0 22,7 40,1 63,7
Trường học 106,5 102,5 102,7 101,2 101,2
Nam là rất thấp, thậm chí thấp hơn và bằng với Inđônêxia, nước xếp cuối cùng
trong bảng so sánh xếp hạng.
Các chỉ số về mức độ thành thạo kỹ năng của đội ngũ nhân lực CLC
Thông qua việc khảo sát mẫu đội ngũ cán bộ quản lý hành chính, đội ngũ
chuyên gia, đội ngũ cán bộ hành chính thừa hành, có thể khẳng định, mức độ
thành thạo công nghệ (thông qua kỹ năng tin học) và mức độ thành thạo
ngoại ngữ (thông qua kỹ năng ngoại ngữ) của cả ba đội ngũ trên đều rất thấp.
Đây là một lực cản rất lớn để những đội ngũ này phát huy khả năng thích ứng
trong quá trình tiếp thu những tri thức hiện đại phục vụ cho công việc chuyên
môn, góp phần phát triển đất nước.
Các chỉ số phản ánh tố chất sáng tạo của nguồn nhân lực CLC Việt Nam
Đối với đội ngũ nhà khoa học tự nhiên và công nghệ, tố chất sáng tạo được
đánh gía thông qua Số đăng ký quốc tế và Số lượng bài báo đăng trên các tạp
chí quốc tế là rất thấp.
Trong giai đoạn 2009-2011, tổng số đơn đăng ký sáng chế của
Singapore là 2867 đơn, Malaysia có 272 đơn, Philippines có 121 đơn, Thái Lan
có 59 đơn, trong khi đó Việt Nam chỉ có 31 đơn.
Đội ngũ nhà KHXH hiện nay phần lớn chỉ thực hiện công tác tuyên
truyền cổ động, thuyết minh quan điểm, đường lối của Đảng, mà chưa thực
hiện chức năng chủ yếu là đi vào thực tiễn khảo sát, nghiên cứu, phân tích và
phản biện các đường lối, đặc biệt là đường lối CNH, HĐH, từng bước phát triển
KTTT. Các nhà khoa học thường thoát ly thực tế, né tránh những vấn đề phức
tạp, chỉ ghi chép đơn thuần hay thuyết minh cho thực tiễn, mà ít khi bày tỏ rõ
ràng quan điểm sáng tạo riêng của người nghiên cứu.
2.1.3.2. Chỉ số phát triển con người HDI :
Theo báo cáo phát triển con người năm 2011 của LHQ cho thấy, Việt
Nam hiện có chỉ số phát triển con người HDI ở hạng trung bình, với chỉ số là.
0,728 So với năm trước, Việt Nam đã tăng 4 bậc từ vị trí 109 lên vị trí 105
trong tổng số 177 nước.
24
Nguồn: Báo cáo phát triển con người của UNDP, 2008– 2011
2.1.4. Những phẩm chất đạo đức-tinh thần của người lao động Việt nam hiện
nay:
Con người Việt nam truyền thống từ xưa đến nay vốn cần cù , chăm chỉ,
chịu thương chịu khó. Trải qua hai cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc đã minh
25
SVTH: Nguyễn Thị Kim Oanh Lớp:Kinh tế lao động 52A