Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và yếu tố cấu thành năng suất của 9 dòng lúa nếp gieo cấy tại khu vực xuân hòa phúc yên vĩnh phúc - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA SINH - KTNN
VŨ THỊ PHƯỢNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC VÀ
YỂU TỐ CẤU THÀNH NĂNG SUẤT CỦA 9
DÒNG LÚA NẾP GIEO CẤY TẠI KHU vực
XUÂN HÒA - PHÚC YÊN - VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
• • • •
Chuyên ngành: Dỉ truyền học
HÀ NỘI, 2015
Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Vũ Thị Phượng K37B - SP Sinh
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Phạm Xuân Liêm và TS. Đào
Xuân Tân đã tận tình hướng dẫn, dìu dắt tôi trong suốt quá trình thực hiện và
hoàn chỉnh khóa luận.
Trân trọng cảm ơn lãnh đạo trường ĐHSP Hà nội 2, Ban chủ nhiệm và các
thầy cô giáo khoa Sinh - KTNN đã tạo điều kiện giúp đỡ, hướng dẫn tôi suốt quá
trình học tập và hoàn thành khóa luận.
Tôi cũng xin được cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của gia đình ông Nguyễn
Văn Giang - HTX Đồng Xuân, Phường Xuân Hòa, TX. Phúc Yên, T. Vĩnh Phúc.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn động viên
quan tâm khích lệ tôi trong thời thực hiện khóa luận tốt nghiệp này.
Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2015 Sinh viênVũ Thị Phượng
LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Vũ Thị Phượng K37B - SP Sinh
Tôi xin cam đoan.
Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được
công bố trong bất cứ công trình nào khác.

tấn trong năm 2012-2013 do nhu cầu thực phẩm dự kiến tăng khoảng 2%.
Cây lúa gạo đã gắn bó với nhân dân ta từ hàng ngàn năm nay nhưng mãi
hơn 2 thập kỷ gàn đây nhân dân ta mới đủ ăn và có thể xuất khẩu gạo. Năm
2012, theo bảng xếp hạng các nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, Việt Nam
đứng thứ hai sau Ấn Độ và vượt lên trên Thái Lan. Nhưng năm 2013, Việt Nam
đã đánh mất vị trí đó và tụt xuống vị trí thứ 3 sau Ấn Độ và Thái Lan. Theo phân
tích dự báo (FAO) Việt Nam có thể xuất khẩu khoảng 7 triệu tấn gạo trong năm
2014. Với mức này, Việt Nam vẫn giữ vị trí thứ 3 ừong danh sách những nước
xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới.
Lúa nếp (Oryza sativa glutinosà) đã có từ lâu đời, được hình thành từ lúa tẻ
do nhu cầu của con người, nó đã có một vị trí nhất định trong cơ cấu mùa vụ
cũng như nhu cầu tiêu dùng của người dân Việt Nam và một số quốc gia ừên thế
giới. Lúa nếp những ưu điểm nổi bật như: gạo dẻo, giá trị dinh dưỡng cao, có
mùi thơm đặc trưng và giá trị kinh tế lớn.
Lúa nếp không chỉ là cây lương thực mà còn là loại cây có giá ừị kinh tế
cao, đặc sản của một số vùng miền trên đất nước ta như nếp cái Hoa vàng, nếp
Thầu dầu, nếp Gà gáy, nếp Xoăn, Lúa nếp thường được sử dụng ừong cuộc
Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Vũ Thị Phượng 5 K37B - SP Sinh
sống hàng ngày và các dịp lễ Tết. Ngoài ra lúa nếp còn là nguyên liệu không thể
thiếu trong ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp thực phẩm như sản xuất bánh
kẹo, rượu bia
Tuy nhiên ở Việt Nam tùy từng vùng miền mà diện tích trồng lúa nếp chỉ
chiếm từ 5% - 10% trong cơ cấu mùa vụ. Do năng suất không cao, thời gian sinh
trưởng dài và khả năng chống chịu sâu bệnh hạn chế, thường chỉ cấy được một
vụ mùa trong năm nên nhiều vùng người nông dân đã hạn chế việc trồng những
giống lúa nếp cổ truyền như: nếp Thầu dầu, nếp Quýt, nếp Gà gáy Nhưng bên
cạnh đó, tại một số địa phương lại đang có những đầu tư mạnh mẽ cho việc sản
xuất lúa theo mô hình cánh đồng lớn hoặc phục hồi các giống nếp như: An
Giang, Phú Thọ

YTCTNS của 9 dòng lúa nếp. Từ đó cung cấp những thông tín về các đặc
trưng và đặc tính của các giống lúa tham gia thí nghiệm ttong điều kiện tự
nhiên ở Xuân Hòa - Phúc Yên - Vĩnh Phúc, làm cơ sở để xây dựng cơ cấu
giống lúa mới.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Chọn được một số dòng lúa nếp có triển vọng, có thể đưa
vào cơ cấu giống lúa của khu vực Xuân Hòa - Phúc Yên -
Vĩnh Phúc.
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN cứu
1.1. Nguồn gốc, phân loại của cây lúa
1.1.1. Nguồn gốc cây lúa
Lúa trồng Oryza sativa. L là loại cây thân thảo sống hàng năm. Có bộ
nhiễm sắc thể (2n = 24) hoặc (2n = 48), là cây tự thụ phấn. Người ta cho rằng tổ
tiên của chi lúa Oryza là một cây hoang dại cách đây ít nhất 130 triệu năm. Lúa
Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Vũ Thị Phượng 7 K37B - SP Sinh
trồng hiện nay là do lúa dại Oryza fauta hình thành thông qua quá trình chọn lọc
lâu dài của con người.
Lúa là cây trồng cổ xưa nhất. Sự tiến hóa của loài này gắn liền với lịch sử
tiến hóa của loài người. Các nhà khoa học như A.G. Haudricourt & Louis
Hendin (1994), E. Werth (1954), H. Wissmann (1957), Carl Sauer (1952),
Chester Gorman (1970 ) .đã lập luận vững chắc và chỉ ra rằng: Đông Nam Á là
nơi khai sinh nền nông nghiệp lúa nước Căn cứ để có nhận định rằng Đông
Nam Á là một trung tâm phát sinh cây lúa trồng vì: đây là nơi lúa gạo là cây
lương thực chủ đạo. Có nhiều loài lúa dại để thu hoạch tự nhiên trước khi có lúa
trồng. Thuộc vùng Châu Á gió mùa điển hình - là điều kiện lý tưởng để phát
triển nghề trồng lúa. Theo kết quả của khảo cổ học ttong vài thập niên gần đây,
Đông Nam Á là nơi ghi nhận dấu ấn của lúa khoảng
10.1 năm TCN. Còn Trung Quốc - nơi mà nhiều người cho là quê hương của
lúa thì bằng chứng tìm thấy về lúa lâu đời nhất chỉ khoảng 5.900 đến

- o.sativa. L.sub.sp.Japonica (loài phụ Nhật Bản).
- o.sativa. L.sub.sp.India (loài phụ Ấn Độ).
* Theo Gustchin (1934 - 1943): chia o.sativa thành 3 loài phụ là : Indỉa,
Japonica và Javanỉca. Lúa Javanỉca là sản phẩm của quá trình chọn lọc từ loại
phụ Indỉca.
* Theo Hoàng Thị Sản - 1999 : o.sativa được chia thành 2 thứ:
- O.sativa.L.Var. Utilissma A. Carmus: lúa tẻ.
- O.sativa.L.Var. Glutinosa : lúa nếp.
* Theo địa hình đất, điệu kiện cung cấp nước, có thể chia lúa trồng thành
2 loại: lúa cạn và lúa nước.
* Theo thời gian gieo trồng gặt hái trong năm có thể chia lúa trồng thành
3 loại: lúa mùa, lúa chiêm và lúa xuân.
Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Vũ Thị Phượng 9 K37B - SP Sinh
* Theo Liakhovkin A.G (1992) [6] lúa trồng có 8 nhỏm sinh thái địa lý sau
đây:
- 1. Nhóm Đông Á: bao gồm Triều Tiên, Nhật Bản và Bắc Trung Quốc.
Đặc trưng chịu lạnh tốt và hạt khó rụng
- 2. Nhóm Nam Ắ: từ Pakistan sang vùng bờ biển phía Nam Trung Quốc
đến Bắc Việt Nam. Đặc điểm nổi bật của nhóm này là kém chịu lạnh,
phàn lớn hạt dài và nhỏ.
- 3. Nhóm Philippin: bao gồm toàn bộ vùng Đông Nam Á, miền nam Việt
Nam. Đây là nhóm lúa điển hình nhiệt đới không chịu lạnh.
- 4. Nhóm Trung Á: bao gồm toàn bộ các nước Trung Á. Đây là nhóm có
hạt lúa to, p 1000 hạt > 32 g, chịu lạnh và chịu nóng.
- 5. Nhóm Iran: bao gồm các nước Trung Đông xung quanh Iran. Đây là
nhóm sinh thái địa lý với các loại hình chịu lạnh điển hình, hạt to, đục,
gạo dẻo.
- 6. Nhóm Châu Âu: bao gồm các nước ừồng lúa ở Châu Ầu như Nga,
Italia, Tây Ban Nha, Nam Tư, Bungari Đây là nhóm đặc trưng bởi các

+ Lúa nổi: được gieo trồng trong mùa mưa, khi mưa lớn lúa đã đẻ nhánh,
nước dâng cao lúa vươn nhánh để ngoi theo [4].
Ngoài những cách phân loại trên còn nhiều cách khác để phân loại lúa. Dù
theo cách nào đi nữa, việc phân loại đều giúp chúng ta phân biệt các giống khác
nhau. Trên cơ sở đó ta có thể bố trí mùa vụ một cách hợp lý và khai thác triệt để
trong sản xuất.
1.2. Đặc điểm hình thái và giải phẫu của cây lúa
Các giống lúa khác nhau sẽ có những đặc điểm nông sinh học khác nhau
như: chiều cao, khả năng đẻ nhánh, màu sắc lá năng suất và tính chống chịu
cũng khác nhau ở mỗi giống. Tuy nhiên, về đặc điểm hình thái và giải phẫu
Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Vũ Thị Phượng 11 K37B - SP Sinh
chúng đều có những đặc tính chung gồm có các bộ phận là: rễ, thân, lá, bông và
hạt.
1.2.1. Rễ lúa
- về hình thái: rễ là bộ phận để cây bám chặt vào đất. Là cơ quan hút nước
và chất khoáng nuôi cây. Rễ lúa thuộc loại rễ chùm. Có màu sắc từ trắng
sữa đến vàng nâu, nâu đậm và đen dựa theo mức độ tò rễ non đến già. Bộ
rễ phát triển và tăng dàn theo từng giai đoạn sinh trưởng và phát triển của
lúa. Phạm vi ra rễ tập trung ở lớp lớp đất mặt (0 - 20 cm)
+ Giai đoạn hạt nảy mầm: rễ hình thành từ phôi hạt, chỉ có 1 rễ là rễ phôi.
+ Giai đoạn mạ: rễ hình thành tò đốt gốc của thân cây. Bộ rễ ngắn ( 5 - 6
cm) và nhiều rễ trắng.
+ Các giai đoạn của thời kì sau cấy: rễ tăng dàn về số lượng và chiều dài rễ
bằng cách trên các rễ sẽ mọc ra các rễ nhỏ hơn, đặc biệt giai đoạn đẻ nhánh và
làm đòng.
+ Giai đoạn trổ bông: rễ đạt giá trị tối đa về số lượng cũng như chiều dài.
Số lượng lên tới 500 - 800 rễ, tổng chiều dài lên tới 170m (không tính rễ nhánh)
[6].
- về giải phẫu: cấu tạo đi từ ngoài vào trong bao gồm lông hút do tế bào biểu bì

sau: biểu bì, mô cơ giới, mô đồng hóa chứa diệp lục, mạch dẫn lớn và mạch dẫn
nhỏ, mặt ngoài của lá có lông tơ và khí khổng. Đối với cấu tạo lát cắt ngang bẹ lá
gồm: biểu bì, mô cơ giới, mạch dẫn, các tế bào màng mỏng và không bào [6],
[8], [9].
1.2.4. Bông lúa
- về hình thái: bông có nhiều hình dạng khác nhau như: bông thẳng, bông
cong đầu, bông cong tròn. Thành phần cơ bản của bông lúa gồm: cuống
bông, cổ bông, thân bông, gié, hoa (hạt sau này).
Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Vũ Thị Phượng 13 K37B - SP Sinh
+ Cuống bông: là lóng trên cùng của thân, là phần dưới của thân bông
+ Cổ bông: là đốt nối giữa cuống bông và thân bông.
+ Thân bông: có từ 5 - 10 đốt, mỗi đốt mọc ra gié cấp I; gié cấp n xuất phát
từ gié cấp I. Trên gié cấp II lại chia thành nhiều chẽn, mỗi chẽn đính 1 hoa, sau
này là hạt lúa.
+ Hoa lúa: là hoa lưỡng tính, là hoa điển hình của cây hòa thảo gồm vỏ trấu
trong, vỏ ừấu ngoài, 2 mày ừấu, nhị đực có 6 bao phấn, 2 vòi nhụy và bầu nhụy.
+ Hạt lúa: là kết quả của quá trình thụ phấn, thụ tinh của hoa lúa mà thành.
Gồm phôi và nội nhũ. Phôi gồm: rễ phôi và trụ phôi
- Chức năng của bông lúa: là kết quả của mọi hoạt động trong đời sống cây
lúa. Là nơi chứa sản phẩm quan trọng nhất của cây lúa, dự trữ các chất
đường, tinh bột được con người và vật nuôi sử dụng và là cơ quan duy
trì thế hệ sau cho lúa [6], [8].
1.3. Các thòi kì sinh trưởng và giai đoạn phát triển của cây ỉúa
về mặt nông học, trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển, cây lúa trải
qua 3 thời kì sinh trưởng tương ứng với 9 giai đoạn phát triển. Trong từng thời kì
từng giai đoạn, cây lúa không chỉ biến đổi về lượng mà còn có sự biến đổi về
chất để hoàn thành chu kì sống. Thời gian sinh trưởng có thể kéo dài từ
90- 180 ngày tùy thuộc từng giống ngắn ngày hay dài ngày.
1.3.1. Các thời kì sinh trưởng của cây lúa

+ Giai đoạn mạ: tính từ khi cây mạ có 1 lá đái khi có 4 -5 lá thật.
+ Giai đoạn đẻ nhánh: bắt đầu từ khi cây lúa đẻ nhánh đầu tiên đến khi cây
lúa có nhánh tối đa. Mật độ, khoảng cách và phân bón là điều kiện quyết định số
nhánh hình thành.
Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Vũ Thị Phượng 15 K37B - SP Sinh
+ Giai đoạn vươn lóng: bắt đàu từ cuối giai đoạn đẻ nhánh, trước giai đoạn
hình thành đòng. Ở giai đoạn này lóng được hình thành và vươn dài. Cần bón
phân đầy đủ ở giai đoạn làm nhánh để tạo điều kiện làm đòng.
- Từ giai đoạn 5 - 6 : Thời kì sinh trưởng sinh thực.
+ Giai đoạn làm đòng: được tính khi đỉnh sinh trưởng hình thành bông
nguyên thủy sau này hình thành bông lúa hoàn chỉnh.
+ Giai đoạn trổ bông: bắt đầu tính từ khi các hoa đàu tiên của bông nhô ra
khỏi bào đòng đến khi lóng trên cùng không thể dài thêm. Giai đoạn càn đủ
nước, dinh dưỡng, độ ẩm không khí cao để bông dễ dàng trổ thoát. Lúa có khả
năng ừổ nhưng không trổ gây nên nghẹn đòng sẽ khiến hoa lúa không được phơi
màu dẫn đến bị lép.
- Từ giai đoạn 7 - 9 : Thời kì chín
+ Giai đoạn chín sữa: diễn ra quá trình tích lũy vật chất giống như “sữa”.
+ Giai đoạn vào chắc: hạt gạo đã hình thành rõ nhưng vẫn mềm.
+ Giai đoạn chúi: khi đó hạt gạo đã hoàn chỉnh nội nhũ và phôi, vỏ trấu có
màu sắc đặc trưng cho từng giống [6].
Khi nắm bắt được đặc điểm của từng thời kì, giai đoạn phát triển sẽ biết
được sự biến đổi của cây lúa qua từng thời kì và yêu càu của từng giai đoạn. Từ
đó tạo điều kiện thuận lợi cho thâm canh gieo trồng, thu được năng suất cao,
đem lại lợi ích kinh tế cho người trồng.
1.4. Giá trị kỉnh tế của lúa gạo
Lúa là một trong ba cây lương thực chính ở trên thế giới, đó là : lúa mì, lúa
gạo, ngô. Theo Bùi Mạnh Cường, (2007) lúa cũng chính là cây lương thực lâu
đời nhất, phổ biến nhất trên thế giới nhưng diện tích của nó chỉ đứng vị trí thứ 2

của FAO, ở nhiều nước tiêu dùng lúa gạo chủ yếu như Ấn Độ, Banglades bản
thân lúa gạo đã cung cấp tới 60 - 70% calo trong khẩu phần thực phẩm. Đối với
Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Vũ Thị Phượng 17 K37B - SP Sinh
các nước đang phát triển tỉ lệ này khoảng 50 - 60%. Ngay ở Nhật là nước phát
triển về mọi mặt, là nước công nghiệp chỉ đứng sau Mỹ hoặc Trung Quốc ừên
Thế giới, lúa gạo cũng có ý nghĩa to lớn đối với người dân. Họ sử dụng 40 - 50%
calo được lấy từ lúa gạo trong tổng khẩu phàn ăn. Như vậy, ừên thực tế tại nhiều
quốc gia vẫn phải dựa phần lớn vào lúa gạo để đảm bảo cho cuộc sống sinh hoạt
hàng ngày.
Lúa gạo ngoài cung cấp lương thực còn dùng để chế biến thành thức ăn
như bánh, bánh ừáng, bún, bột, thức ăn nhanh, dầu, hoặc các thức uống cho
con người. Lúa gạo còn được sử dụng làm thức ăn cho gia súc gia cầm, cung cấp
nguyên liệu sản xuất ra các mặt hàng công nghiệp như sản xuất giấy, cacton.
Ngoài ra, những phụ phẩm thu được từ cây lúa như rơm, rạ, trấu cám đã được
ứng dụng triệt để trong chăn nuôi, trồng trọt, làm phân bón, chất đốt giúp giảm
chi phí trong nông nghiệp và bảo vệ môi trường.
Việt Nam hiện nay là một trong 3 nước xuất khấu gạo lớn thế giới cũng với
Thái Lan và Ấn Độ. Trong những năm gần đây, diện tích trồng lúa không những
tăng mà còn giảm nhưng Việt Nam vẫn giữ được vị trí nước xuất khẩu gạo lớn
ừên thế giới đó là thành quả thu được từ khoa học, chọn giống. Theo thống kê tò
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, xuất khẩu gạo tháng 12 đạt 360.000
tấn, giá trị 204 triệu USD, nâng tổng khối lượng gạo xuất khẩu năm 2013 lên
6,61 triệu tấn, đạt giá trị 2,95 tỷ USD
Theo FAO tiên đoán, sau khi xuất khẩu được 6,2 triệu tấn gạo trong 2014,
Việt Nam có thể xuất khẩu 6,9 triệu tấn gạo ừong 2015, phần lớn đến các nước
nhập khẩu chủ yếu: Trung Quốc, Philippines và Đông Nam Á. Đứng thứ hai là
Ấn Độ, dự kiến xuất khẩu 8,7 triệu tấn. Thái Lan sẽ tiếp tục vai trò dẫn đầu xuất
khẩu gạo thế giới ở tàm mức cao hơn, khoảng 10.8 triệu tấn gạo tăng 5% so với
2014.

Vũ Thị Phượng 19 K37B - SP Sinh
Phương pháp lai có vai trò quan trọng trong chọn tạo giống. Nhưng muốn
đạt kết quả mong muốn cần nắm vững kĩ thuật, phương pháp lai, chọn cặp bố mẹ
đem lai thích hợp, chọn lọc và gây dưỡng cây lai.
Có 2 kiểu lai giống sau:
- Lai trong loài (lai gần): là phép lai giữa các cá thể khác nhau trong cùng
loài. Tùy theo mục đích cụ thể trong việc tạo ra các giống mới mà người
ta áp dụng các kiểu lai khác nhau: lai đơn, lai kép, lai thuận nghịch, lai
phức, lai trở lại, lai hồi quy, lai nhiều bậc.
- Lai khác loài (lai xa): là phép lai giữa các cá thể khác loài. Khác chi hoặc
xa hơn nữa. Nhằm tạo ra các biến dị mới có giá trị. Nhưng phương pháp
này ít được sử dụng do còn gặp khó khăn nhất định.
1.5.2. Phương pháp chọn tạo giống đột biến
Phương pháp đột biến là phương pháp sử dụng các tác nhân vật lí ( phóng
xạ, tia tử ngoại, sốc nhiệt) hoặc các tác nhân hóa học (5-BU, Azaserin, HN0
2
,
NMU, NEU, EI ) để gây đột biến tạo ra các giống cây trồng khác nhau.
Từ những năm 1970, Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) và Tổ
chức Nông Lương Thế giới (FAO) đã hỗ trợ và mở rộng hướng nghiên cứu gây
đột biến.
Năm 1966, Nhật Bản đã đưa ra sản xuất giống lúa Remei - là một giống đột
biến của từ giống lúa địa phương chịu lạnh Fụjiminori.
Trung Quốc đã ứng dụng năng lượng nguyên tử trong chọn giống vào
những năm 1960 và cho đến những năm cuối thế kỉ 20 đã có 78 giống lúa đột
biến được đưa ra sản xuất.
Chọn giống lúa đột biến ở Malyasia được bắt đầu từ những năm 1972 đến
năm 1983 các giống lúa chất lượng được cải tiến bằng phương pháp này. Giống
lúa thơm Pongsuseburi 2 được chiếu xạ bằng tía gamma đã tạo ra được dòng đột
biến PS1297 thơm và thấp cây.

Vũ Thị Phượng 21 K37B - SP Sinh
Nhờ đó, tò năm 1989 đến nay kim ngạch xuất khẩu gạo đã không ngừng
tăng, mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn góp phần không nhỏ cho công cuộc đổi
mới và xây dựng đất nước. Từ một nước phải nhập khẩu gạo hàng năm chúng ta
đã tự túc được lương thực và dần dần tái hòa nhập vào thị trường lương thực thế
giới, chiếm lĩnh ngay vị trí quan ừọng là nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ 3 rồi
thứ 2 trên thế giới sau Thái Lan. Kết thúc năm 2014, tín hiệu đáng mừng khi gạo
Việt Nam đã được xuất khẩu sang 135 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới,
bao gồm cả những thị trường khó tính như Mỹ, EƯ, Nhật Bản, Hàn Quốc,
Hongkong, Singapore. Trong đó, thị trường Châu Á chiếm gàn 77%, thị trường
Châu úc chiếm 0.88 %, thị trường Trung Đông chiếm trên 1.2%. Nhưng nhìn lại
chặng đường đã quak2 trong công tác sản xuất và xuất khẩu lúa gạo cho thấy
gạo Việt Nam số lượng nhiều nhưng chất lượng thấp, giá thành cao nên xuất
khẩu thiếu tính cạnh tranh, chưa hấp dẫn các nhà nhập khẩu cũng như thu hút
đầu tư vào Việt Nam.
Bên cạnh đó, nhiều phân tích của nhiều chuyên gia kinh tế cho thấy thời
gian qua, nhiều tiềm năng ở nhiều vùng vẫn chưa được khai thác và phát huy
đầu tư đúng với tầm vóc. Kể đến vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã có những
dự báo cho thấy sản xuất lúa ở ngày càng khó khăn hơn vì đất nông nghiệp bị
thu hẹp, áp lực dịch bệnh tăng, biến đổi khí hậu ngày càng nhận diện rõ. Do vậy,
giải pháp phát triển thị trường lúa gạo có thể xem là biện pháp lâu dài để kích
thích và ổn định sản xuất, giảm thiểu rủi ro cho nông dân và gia tăng lợi nhuận.
Tóm lại trước những thách thức lớn đặt ra các nhà nghiên cứu đã đề ra
chiến lược và xu thế nghiên cứu về lúa như sau:
- Phát triển giống có chất lượng cao đáp ứng đòi hỏi của thị trường trong
nước và thế giới, phù hợp với các điều kiện sinh thái nông nghiệp Đồng
bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long.
Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Vũ Thị Phượng 22 K37B - SP Sinh
- Phát triển các giống lúa năng suất cao cho các vùng sản xuất thâm canh

Năm 2014, từ những mô hình thử nghiệm, cánh đồng mẫu lớn đã phát huy
giá tri, mang lại thu nhập cao hơn cho nông dân và tạo giá tri lớn hơn cho hạt
gạo Việt. Chính vì thế, càn có chính sách thỏa đáng hơn để phát huy cách làm
mang tính bên vững này. Đồng thời khoa học công nghệ cần đóng vai trò then
chốt để phát huy giá trị.
Có như vậy, chúng ta mới giảm chi phí sản xuất, tăng chất lượng hạt gạo và
có thị trường tiêu thụ, lợi nhuận tăng. Từ đó, ngành lúa gạo mới có thể phát triển
theo chuỗi giá tri và bền vững.
1.6.2. Tĩnh hình nghiên cứu lúa gạo trên Thế giới
Theo đà phát triển của sức sản xuất và phân công lao động quốc tế, nhu cầu
của con người ngày càng phong phú, đa dạng. Tuy nhiên, nhu cầu về ăn và mặc
vẫn là nhu cầu cần thiết hơn cả, trong đó nhu cầu về ăn uống lại đóng vai trò số
một ừong đời sống hàng ngày. Bởi vậy, lương thực ừở thành yếu tố được chú
ừọng hàng đầu, vấn đề lương thực như một đề tài thời sự cấp bách. Nhiều cá
nhân, tổ chức tại nhiều cuộc hội thảo quốc gia và quốc tế thường xuyên đề cập
đái chương trình an ninh lương thực quốc gia và toàn cầu.
Lương thực luôn là mối quan tâm lớn của cả nhân loại, do nguy cơ nạn đói
nghiêm trọng đang đe dọa nhiều dân tộc.
Theo số liệu của Liên Hợp Quốc, hiện nay trên thế giới có khoảng trên 800
triệu người ở những nước nghèo, nhất là ở Châu Phi thường xuyên bị thiếu
lương thực, ừong đó khoảng 200 ừiệu là ừẻ em. Hàng năm,trên thế giới trung
bình có khoảng 13 triệu trẻ em dưới 5 tuổi do thiếu dinh dưỡng tối thiểu vì nạn
đói nghiêm trọng. Do đó, Hội nghị Dinh dưỡng Quốc tế đã đi đến kết luận rằng:
giải quyết kịp thời vấn đề lương thực là trung tâm của mọi cố gắng hiện nay để
phát triển kinh tế xã hội.
Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Vũ Thị Phượng 24 K37B - SP Sinh
Theo thống kê nông nghiệp của FAO, các loại cây lương thực được sản
xuất và tiêu thụ trên thế giới bao gồm trước hết là 5 loại cụ thể: lúa gạo, lúa mì,
ngô, lúa mạch và kê Trong đó lúa gạo và lúa mì là 2 loại được sản xuất và tiêu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status